Luận văn thạc sĩ tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán việt nam - Pdf 31

BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

PHẠM ĐỨC HUY

TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ KINH
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY
DỰNG NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 64340201

Giảng viên hướng dẫn: TS.BÙI HỮU PHƯỚC

TP.HCM, tháng 7.2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam” là
công trình nghiên cứu do tôi thực hiện, với sự hướng dẫn, hỗ trợ từ thầy TS.Bùi Hữu
Phước. Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2014
Phạm Đức Huy


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Tài chính –

2.1.1. Cơ cấu vốn .................................................................................................... 7
2.1.2. Các lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại ................................................................ 8
2.2. HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ...................................... 14
2.2.1. Lý thuyết về hiệu quả kinh doanh ................................................................ 14
2.2.2. Các chỉ số đánh giá hiệu quả kinh doanh ..................................................... 16
2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành
xây dựng ................................................................................................................. 18
2.3. ĐẶC THÙ CƠ BẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG ... 22
2.4. CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ............................................... 24
2.2.1. Nghiên cứu của Nirajini và Priya ................................................................. 25
2.2.2. Nghiên cứu của Zeitun và Tian ................................................................... 26
2.2.3. Nghiên cứu của Margaritis và Psillaki ........................................................ 27
2.2.4. Nghiên cứu của Ong Tze San ...................................................................... 28
2.2.5. Nghiên cứu của Joshua Abor ....................................................................... 29
2.2.6. Nghiên cứu của Trần Hùng Sơn và Trần Viết Hoàng ................................. 30
CHƯƠNG 3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ....................................................................... 32
3.1. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU ............................................................................ 32
3.2. DỮ LIỆU DÙNG TRONG NGHIÊN CỨU ....................................................... 32
3.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu ...................................................................... 33


3.2.2. Thống kê mô tả các biến .............................................................................. 34
3.2.3. Phân tích tương quan giữa các biến giải thích ............................................. 39
3.3. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ................................................................. 40
3.4. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ NGHỊ ............................................................... 42
3.5. PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH ..................................................... 46
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ....................................... 49
4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KIỂM ĐỊNH .................................................... 49
4.1.1. Các kiểm định .............................................................................................. 49
4.1.1. Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy ...................................................... 51



DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Lý thuyết đánh đổi ........................................................................................ 13
Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP và ngành xây dựng nói chung của Việt Nam giai
đoạn 2000 – 2013 .......................................................................................................... 20
Hình 2.3. Mô hình nghiên cứu của Nirajini và Priya (2013) ........................................ 27
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu ..................................................................................... 34
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu đề nghị ......................................................................... 45
Hình 4.1. Cơ cấu vốn của ngành xây dựng từ năm 2008 – 2014* ................................ 62


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết
tắt

Tên tiếng anh

Tên tiếng việt

EBIT

Earnings Before Interest and
Tax

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

FEM

Fixed effects model

Long term debt to total assets

Nợ dài hạn trên tổng tài sản

M&M

Modigliani và Miller

Lý thuyết M&M

NPM

Net profit margin

Lợi nhuận biên

OLS

Orginary least square

Ước lượng bình phương bé nhất

PE

Price to Earning Ratio
Earnings Before Interest, Tax
and Depreciation

Hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay cộng

Tổng nợ trên tổng tài sản

TDTE

Total debt to total equity

Tổng nợ trên vốn chủ sở hữu

VIF

Variance inflating factor
Weighted average cost of
capital

Nhân tử phóng đại phương sai

EBITDA

WACC

Chi phí sử dụng vốn bình quân


CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất, kinh doanh đòi hỏi phải có vốn,
doanh nghiệp phải bố trí nguồn tài trợ hợp lý cho nhu cầu vốn đó. Có nhiều nguồn tài
trợ cho nhu cầu vốn của doanh nghiệp như: nguồn vốn chủ sở hữu, vay ngắn hạn, vay
dài hạn ngân hàng, phát hành trái phiếu…. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính hay nói cách
khác là việc vay mượn ở một tỷ lệ hợp lý kết hợp với việc sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm

cứu nổi tiếng của hai nhà nghiên cứu Franco Modigliani và Mertron Miller được đưa ra
vào năm 1958 trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo không có thuế, không có chi phí
giao dịch, không tồn tại thông tin bất cân xứng, có kỳ vọng thị trường đồng nhất thì giá
trị doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn. Công trình nghiên cứu trên đã được biết đến
với tên gọi học thuyết M&M.
Nghiên cứu của Khan (2012) cho thấy đòn bẩy tài chính được đo bằng nợ ngắn hạn
trên tổng tài sản và tổng nợ trên tổng tài sản có một mối quan hệ tiêu cực đáng kể với
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đo bằng chỉ số thu nhập trên tổng tài sản,
lợi nhuận gộp biên và chỉ số hiệu quả kinh doanh thị trường. Mối quan hệ giữa đòn bẩy
tài chính và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đo bằng lợi nhuận trên
vốn chủ sở hữu là tiêu cực nhưng không đáng kể. Kết quả nghiên cứu này cũng gần
tương đồng với kết luận nghiên cứu của Umar và cộng sự (2012), Alawwad (2013),
Salim và Yadav (2012), Zeitun và Tian (2007), Yana (2010), Abor (2005)…. Do đó,
mức nợ cao trong cơ cấu vốn sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh của của doanh nghiệp và
khuyến cáo các nhà quản lý không nên kết hợp quá nhiều nợ trong cơ cấu vốncủa doanh
nghiệp mà nên dựa nhiều hơn vào các quỹ nội bộ tạo ra và các cổ đông của doanh nghiệp.
Bên cạnh việc ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cơ
cấu vốn cũng ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể
như nghiên cứu của Khatab và cộng sự (2011), Ebrati và cộng sự (2013), Nirajini và
Priya (2013)… cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Stohs và Mauer (1996) cho rằng các doanh nghiệp lớn hơn thì ít rủi
ro hơn khi sử dụng các khoản nợ dài hạn. Họ cũng phát hiện ra rằng sự gia tăng nợ có
tác động tiêu cực đến thuế, rủi ro và lợi nhuận. Có những yếu tố khác ngoài cơ cấu vốn
có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như: quy mô doanh nghiệp,
độ tuổi doanh nghiệp, tỷ số tăng trưởng doanh thu, rủi ro kinh doanh, thuế thu nhập
doanh nghiệp, các yếu tố cụ thể theo các lĩnh vực hoạt động kinh tế, và các yếu tố cụ thể
2



3


các giải pháp giúp các chủ doanh nghiệp có cái nhìn đúng đắn hơn về vai trò của cơ cấu
vốn, tăng hiệu quả kinh doanh từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
ngành xây dựng Việt Nam.
Với mục tiêu nghiên cứu như trên tác giả thực hiện đề tài nhằm tìm câu trả lời cho
các câu hỏi sau:
 Cơ cấu vốn ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp
trong ngành xây dựng?
 Những giải pháp xây dựng cơ cấu vốn hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
của các doanh nghiệp trong ngành xây dựng?
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu về cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: tác giả nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
Việt Nam.
Số liệu được sử dụng là dữ liệu khai thác từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp
ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã kiểm toán trong giai
đoạn 2008 - 2013. Dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đã được
đăng tải trên các website một cách rộng rãi, chính thức và thống nhất theo mẫu.
1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm nghiên cứu tác động của
cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng trên cơ sở
xây dựng mô hình hồi qui kiểu dữ liệu bảng bao gồm: mô hình hồi qui những tác động
ngẫu nhiên (REM) và mô hình hồi qui những tác động cố định (FEM).
Ngoài ra, tác giả còn áp dụng phương pháp thống kê, mô tả và giải thích tác động
của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành Xây dựng niêm yết
trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam.



Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Dựa trên các mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu trong chương 1, cơ sở
lý thuyết và mô hình nghiên cứu thực nghiệm trình bày trong chương 2 tác giả trình bày
thiết kế nghiên cứu của đề tài này.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tác giả sử dụng phân tích hồi quy để tìm ra mối quan hệ giữa cơ cấu
vốn và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng được niêm yết trên
sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008-2013
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
Chương này tác giả đưa ra kết luận và các gợi ý về chính sách chính dựa trên kết quả
của các chương trước, cũng như những hạn chế của nghiên cứu này.

6


CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN
2.1. LÝ THUYẾT VỀ CƠ CẤU VỐN
2.1.1. Cơ cấu vốn1
Cơ cấu vốn hay còn gọi là đòn bẩy tài chính là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số nợ so
với tổng tài sản của doanh nghiệp ở một thời điểm xác định. Cơ cấu vốn liên quan đến
việc sử dụng các khoản nợ vay. Mặt trái của vay nợ là vay càng nhiều nợ thì sẽ xuất hiện
chi phí kiệt quệ tài chính và một lúc nào đó hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính sẽ làm
triệt tiêu hiện giá của của lá chắn thuế từ nợ vay. Chi phí vay nợ có tác động đáng kể tới
vận hành kinh doanh, thậm chí dẫn tới đóng cửa doanh nghiệp. Tài trợ từ vốn góp cổ
phần không tạo ra chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp, tuy nhiên các cổ đông có thể
can thiệp vào hoạt động điều hành doanh nghiệp. Kỳ vọng cao vào hiệu quả sản xuất
kinh doanh của các nhà đầu tư cũng tạo sức ép đáng kể cho đội ngũ quản lý. Một điều
kiện nữa của cấu trúc vốn tối ưu là còn phải xem xét đến tình hình kinh doanh của doanh

này khiến cho doanh nghiệp luôn phải thiết lập cấu trúc vốn sao cho tối ưu nhằm giảm
thiểu được rủi ro tài chính và giảm chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC).
2.1.2. Các lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại
Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu với bài viết của Modigliani và Miller vào
năm 1958 (gọi tắt là học thuyết M&M). Theo học thuyết M&M, sự lựa chọn giữa vốn
chủ sở hữu và nợ không liên quan đến giá trị của doanh nghiệp. Nói một cách khác, học
thuyết này chỉ ra một hướng là các giả thuyết về cấu trúc vốn nên tốt hơn bằng cách nào,
cho thấy dưới điều kiện nào thì cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp.
Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại được tiếp tục phát triển vào những năm sau đó, bao gồm
thuyết cân bằng, thuyết trật tự phân hạng, thuyết điều chỉnh thị trường, thuyết cơ cấu
quản lý.
Theo quan điểm truyền thống: quan điểm về cấu trúc vốn truyền thống cho rằng khi
một doanh nghiệp bắt đầu vay mượn, thuận lợi vượt trội hơn bất lợi. Chi phí nợ thấp,
kết hợp với thuận lợi về thuế sẽ khiến WACC giảm khi nợ tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ
giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu tăng, tác động của tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn buộc
các chủ sở hữu tăng lợi tức yêu cầu của họ (nghĩa là chi phí vốn chủ sở hữu tăng). Ở
mức tỷ lệ vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao, chi phí nợ cũng tăng bởi vì khả năng doanh
nghiệp không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn). Vì vậy, ở mức tỷ số
giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao hơn, WACC sẽ tăng.
Vấn đề chính của quan điểm truyền thống là không có một lý thuyết cơ sở thể hiện
chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu hay
chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ.
a. Lý thuyết M&M
8


Lý thuyết cơ cấu vốn hiện đại xuất hiện từ năm 1958, khi giáo sư Franco Modigliani
và Merton Miller (sau đây gọi là M&M) công bố. Lý thuyết M&M được phát biểu thành
2 mệnh đề quan trọng. Mệnh đề (I) nói về giá trị doanh nghiệp. Mệnh đề (II) nói về chi
phí sử dụng vốn. Các mệnh đề này lần lượt sẽ được xem xét trong 2 trường hợp ứng với

Mệnh đề II – Chi phí sử dụng vốn trong trường hợp có thuế: lợi nhuận yêu cầu trên
vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ.
rs = r0 + (r0 – rB)(1- TC) B/ S
Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn được xem là lý thuyết hiện đại lý giải được quan hệ
giữa giá trị doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, lý thuyết M&M chưa xem xét tác động của một số chi phí khác khiến cho
lợi ích là chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi doanh nghiệp gia tăng tỷ số nợ.
Khi doanh nghiệp gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của doanh nghiệp tăng theo. Điều
này làm phát sinh các chi phí như chi phí khốn khó tài chính tác động đồng thời với lợi
ích của lá chắn thuế, đến một điểm nào đó thì các chi phí này sẽ vượt qua lợi ích của lá
chắn thuế. Ở điểm đó, gọi là điểm cơ cấu vốn tối ưu, giá trị doanh nghiệp được tối đa
hóa.
b. Lý thuyết đại diện
Trong quản trị tài chính, vấn đề đại diện luôn chứa đựng mâu thuẫn tiềm tàng về lợi
ích giữa người tài trợ với người quản lý doanh nghiệp. Jenshen và Meckling (1976) cho
rằng có hai dạng mâu thuẫn về đại diện: mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu với nhà quản
lý doanh nghiệp và mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu với người chủ nợ.
Đối với mâu thuẫn giữa người chủ và người quản lý doanh nghiệp, vấn đề đại diện
phát sinh khi người quản lý sở hữu ít hơn 100% phần vốn chủ sở hữu. Kết quả là người
chủ sở hữu không giành được toàn bộ khoản lợi từ các hoạt động nâng cao lợi nhuận
của doanh nghiệp mình, nhưng họ phải gánh chịu toàn bộ chi phí cho những họat động
này. Để giảm thấp mâu thuẫn đại diện, người chủ sở hữu chấp nhận bỏ ra chi phí đại
diện, như các khoản chi để giám sát hoạt động (hoạt động kiểm toán), chi để cấu trúc lại
tổ chức nhằm hạn chế các hành vi không mong muốn, và các chi phí cơ hội khi các cổ
đông áp đặt các giới hạn cho ban quản lý.

10


Mâu thuẫn giữa người chủ nợ và người chủ doanh nghiệp xuất hiện trong các hợp

11


hình này là các doanh nghiệp trẻ sử dụng ít nợ hơn các doanh nghiệp lâu năm, giả sử
các nhân tố khác không xem xét đến.
c. Lý thuyết đánh đổi
Lý thuyết này được gọi là “lý thuyết đánh đổi của đòn bẩy tài chính”. Các doanh
nghiệp đánh đổi lợi ích thuế từ việc tài trợ bằng nợ vay với các vấn đề có nguyên nhân
từ khả năng phá sản
Tác động của Thuế thu nhập theo
MM: Giá cổ phiếu nếu không có
chi phí khốn khó tài chính

Giá trị
cổ phiếu
Giá trị tăng
thêm từ lợi
ích tấm chắn
thuế

Giá trị bị giảm do chi phí
khốn khó tài chính
Giá trị thực của cổ
phiếu

Mức độ nợ vay
khi chi phí khốn
khó tài chính bắt
đầu đáng kể


tế nhiều doanh nghiệp lớn và thành công như Intel và Microsoft sử dụng mức nợ vay ít
hơn nhiều như đã trình bày trong các lý thuyết trên. Điều này dẫn đến sự phát triển của
lý thuyết tín hiệu sẽ được trình bày dưới đây.
d. Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Một trong các giả thuyết của mô hình M&M là các nhà đầu tư và nhà quản trị có
cùng thông tin về triển vọng tương lai của doanh nghiệp. Tuy nhiên, so với các nhà đầu
tư bên ngoài các nhà quản trị thường có thông tin đầy đủ hơn về triển vọng tương lai.
Hiện tượng này gọi là sự bất cân xứng về thông tin.
Thông tin bất cân xứng có ảnh hưởng quan trọng đối với cơ cấu vốn của doanh
nghiệp. Theo đó, lý thuyết về cơ cấu vốn hình thành thêm hai trường phái: lý thuyết tín
hiệu và lý thuyết trật tự phân hạng
+ Lý thuyết phát tín hiệu
Theo lý thuyết tín hiệu, việc lựa chọn cơ cấu vốn của một doanh nghiệp có thể truyền
những dấu hiệu cho người đầu tư bên ngoài về thông tin của người bên trong ở doanh
nghiệp. Lý thuyết này bắt đầu từ công trình của Ross (1977) và Lyland, Pyle (1977).
Theo đó, nhà quản trị biết rõ hơn nhà đầu tư bên ngoài về triển vọng của doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp được dự báo sẽ có triển vọng hoạt động tốt, nhà quản trị không muốn
chia sẻ lợi nhuận với những người chủ sỡ hữu mới. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp dự báo
có triển vọng không sáng sủa, nhà quản trị mong muốn chia sẽ những rủi ro này với
những người chủ mới của doanh nghiệp. Do vậy, khi một doanh nghiệp công bố phát
hành thêm cổ phiếu cũng đồng nghĩa triển vọng của doanh nghiệp không được tốt, hoặc
tương đương với suy nghĩ của các nhà quản trị là các cổ phiếu của doanh nghiệp hiện
tại được đánh giá quá cao.

13


+ Lý thuyết về trật tự phân hạng (Pecking-order theory)
Lý thuyết trật tự phân hạng khởi đầu từ những công trình nghiên cứu của Myers và
Majluf (1984). Các ông cho rằng có một trật tự ưu tiên khi tài trợ các khoản đầu tư: đầu


Có thể nói rằng mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh
doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy,
muốn đạt hiệu quả cao phải có sự kết hợp giữa 2 yếu tố: chi phí và kết quả, chi phí là
tiền đề để doanh nghiệp thực hiện kết quả đặt ra.
Chi phí bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động và vốn kinh doanh
(vốn cố định và vốn lưu động) còn kết quả được đo bằng các chỉ tiêu như khối lượng
sản phẩm và lợi nhuận ròng.
Để đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp có thể tính theo 2 cách
sau2:
Tính theo hiệu số: với hiệu quả kinh doanh bằng kết quả đầu ra trừ toàn bộ các chi
phí đầu vào.
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra – Chi phí đầu vào
Cách tính này đơn giản, thuận lợi nhưng không phản ánh hết chất lượng kinh doanh
cũng như tiềm năng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra nếu theo cách tính này
không thể so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp,
không thấy được tiết kiệm hay lãng phí lao động xã hội.
Cách tính theo dạng phân số: với hiệu quả kinh doanh bằng kết quả đầu ra chia cho
toàn bộ chi phí đầu vào.
Hiệu quả kinh doanh =

Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào

Cách tính này khắc phục được những tồn tại khi tính theo dạng hiệu số, nó đã tạo
điều kiện nghiên cứu hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện.
Theo cách hiểu như trên thì hiệu quả kinh doanh là đại lượng so sánh giữa chi phí
bỏ ra và kết quả đạt được. Hiệu quả kinh doanh được nâng cao trong trường hợp kết quả
tăng, chi phí giảm và cả trong trường hợp chi phí tăng nhưng tốc độ tăng kết quả nhanh
hơn tốc độ tăng chi phí đã chi ra để đạt được kết quả đó.

của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu, và chỉ số giá trị thị trường
trên tổng tài sản. Thông thường hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp được phản
ánh qua các chỉ số:
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp = Doanh thu - Tổng chi phí
Chỉ số này phản ánh hiệu quả tuyệt đối phần lợi nhuận, tức là phần chênh lệch giữa
kết quả đầu ra và chi phí đầu vào và là số tiền doanh nghiệp thực thu được sau một quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của chỉ số này là
rất khó để so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề
với nhau. Ví dụ, những doanh nghiệp xây dựng có quy mô lớn (tổng tài sản, nguồn vốn
lớn) thì tất nhiên sẽ tạo ra lợi nhuận lớn hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nhưng
điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp lớn hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn
16


các doanh nghiệp nhỏ. Như vậy, chỉ số hiệu quả tuyệt đối không cho biết khả năng sử
dụng tiết kiệm hay lãng phí các chi phí đầu vào. Để khắc phục được nhược điểm này,
người ta có thể sử dụng các chỉ số hiệu quả sau:
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) đo bằng lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ
sở hữu. Chỉ số này cho biết bình quân một đồng vốn chủ sở hữu được bỏ vào đầu tư thì
sau quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ sở hữu thu lại được bao nhiêu đồng
lời. Đây là một chỉ số được sử dụng rất phổ biến bởi tính đơn giản, dễ hiểu và dễ so sánh
giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề với quy mô khác nhau, hoặc giữa các
doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề khác nhau, hoặc giữa nhiều hoạt động đầu tư khác
nhau như tiền gửi tiết kiệm, bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ, dự án kinh doanh
... chính vì vậy nó sẽ giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định tài trợ nhanh chóng. Tuy
nhiên, nhược điểm lớn nhất của chỉ số ROE là nó có thể dễ dàng bị bóp méo bởi các
chiến lược tài chính của nhà quản trị doanh nghiệp. Ví dụ, nhà quản trị có thể dự đoán
được vì một lý do gì đó mà lợi nhuận của doanh nghiệp có khả năng bị ảnh hưởng và
suy giảm nên doanh nghiệp sẽ tăng đầu tư vào dư nợ hoặc mua lại cổ phiếu từ nguồn
tiền mặt tích trữ, và chính những hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status