LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN TÔM THƯƠNG PHẨM Ở TỈNH CÀ MAU - Pdf 31

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHÙNG GIANG HẢI

LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN TÔM
THƯƠNG PHẨM Ở TỈNH CÀ MAU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHÙNG GIANG HẢI

LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN TÔM
THƯƠNG PHẨM Ở TỈNH CÀ MAU

CHUYÊN NGANH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số : 62 62 01 15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. PHẠM BẢO DƯƠNG
2. TS. NGUYỄN THỊ DƯƠNG NGA

HÀ NỘI, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN


sách đã giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận án.
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và những đồng nghiệp thuộc Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Cà Mau đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu và những thông tin
cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp của tôi đã
phối hợp, cộng tác, cùng động viên, chia sẻ những khó khăn về tinh thần, vật chất với
tôi trong thời gian qua. Sự động viên ấy chính những điều đó đã tạo cho tôi niềm tin và
sức mạnh vượt qua mọi khó khăn hoàn thành tốt luận án tiến sĩ như hiện nay.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả Luận án

Phùng Giang Hải

ii


MỤC LỤC

Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii


Tính cấp thiết của đề tài

1

1.2

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3

1.3

Phạm vi nghiên cứu

4

1.4

Những đóng góp mới của đề tài

4

1.5

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

và chế biến tôm

24

2.2.2

Bài học rút ra

30

2.3

Tóm tắt

32

PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

34

3.1

Địa điểm nghiên cứu

34

3.2

Thời gian nghiên cứu



Hiệu quả của liên kết

38

3.4.4

Yếu tố ảnh hưởng đến liên kết

38

3.5

Phương pháp nghiên cứu

46

3.5.1

Phương pháp tiếp cận

46

3.5.2

hương pháp thu thập số liệu

48

3.5.3

ở Cà Mau

4.1.2

58

Quyền lợi và nghĩa vụ trong liên kết ngang trong sản xuất và chế biến
tôm thương phẩm ở Cà Mau

4.1.3

60

Hiệu quả của liên kết ngang trong sản xuất và chế biến tôm thương phẩm
ở Cà Mau

4.1.4

63

Đặc điểm về liên kết dọc trong sản xuất và chế biến tôm thương phẩm ở
Cà Mau

4.1.5

66

Quyền lợi và nghĩa vụ trong liên kết dọc trong sản xuất và chế biến tôm
thương phẩm ở Cà Mau



Ảnh hưởng của yếu tố đầu tư công đến phát triển liên kết trong sản xuất
và chế biến tôm

79

iv


4.1.11

Ảnh hưởng của yếu tố dịch vụ công đến phát triển liên kết trong sản xuất
và chế biến tôm

4.1.12

83

Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết ngang giữa những người nuôi tôm ở
Cà Mau

4.1.13

85

Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết dọc giữa người nuôi tôm và doanh
nghiệp chế biến tôm ở Cà Mau

4.1.14



4.2.4

Hạn chế của đề tài

130

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

132

5.1

Kết luận

132

5.2

Kiến nghị

134

Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án

135

Tài liệu tham khảo

136

HTX

Hợp tác xã

NHTM

Ngân hàng thương mại

NN&PTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TBKT

Tiến bộ kĩ thuật

UBND

Ủy ban nhân dân

VSATTP

Vệ sinh an toàn thực phẩm

VASEP

Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

WCED



4.1

Thông tin chung về các hợp tác xã và tổ hợp tác nuôi tôm

60

4.2

Hiện trạng các HTX nuôi tôm tại Cà Mau

62

4.3

Hiệu quả sử dụng giống và thức ăn của HTX so với sản xuất cá thể

63

4.4

Hiệu quả sử dụng thuốc và hóa chất của các HTX so với nuôi tôm cá thể

64

4.5

Hiệu quả về sử dụng lao động của các HTX so với sản xuất cá thể

64

69

4.11

Hình thức thể hiện liên kết

70

4.12

So sánh hiệu quả giữa nuôi tôm có và không có liên kết

72

4.13

Vốn đầu tư của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010-2012

80

4.14

Khối lượng đầu tư cho thủy lợi ở Cà Mau giai đoạn 2005-2010

81

4.15

Hiệu quả sản xuất theo liên kết ngang so với sản xuất cá thể



STT

Tên hình

Trang

2.1

Liên kết ngang giữa những người nuôi tôm

9

2.2

Liên kết ngang giữa các doanh nghiệp chế biến

10

2.3

Liên kết nội bộ giữa các công đoạn trong doanh nghiệp chế biến

13

2.4

Liên kết trực tiếp giữa doanh nghiệp chế biến và người nuôi tôm

14

59

4.3

Đất đai và quy hoạch

86

4.4

Quyền lợi khi tham gia các liên kết ngang của người nuôi tôm

87

4.5

Nghĩa vụ khi tham gia các liên kết ngang của người nuôi tôm

88

4.6

Mức độ thực thi của liên kết ngang

92

4.7

Vi phạm và xử lí vi phạm trong liên kết ngang



4.2

Thiếu khung pháp lí về liên kết

61

4.3

Thiếu minh bạch nên liên kết thiếu bền vững

61

4.4

Thiếu khung pháp lí về liên kết

74

4.5

Thiếu cơ chế đảm bảo thực hiện quy hoạch

75

4.6

Quy hoạch còn nhiều bất cập

77

1. Tóm tắt
- Tên tác giả: Phùng Giang Hải
- Tên Luận án: Liên kết trong sản xuất và chế biến tôm thương phẩm ở
tỉnh Cà Mau
- Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
- Mã số: 62 62 01 15
- Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2. Nội dung bản trích yếu
- Mục đích nghiên cứu của Luận án: nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường liên
kết trong sản xuất và chế biến tôm thương phẩm ở tỉnh Cà Mau.
- Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng:
+ Nghiên cứu tiếp cận theo loại liên kết (dọc và ngang) nhằm nghiên cứu
các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và người nuôi tôm.
+ Nghiên cứu tiếp cận theo kinh tế thể chế nhằm phân tích rõ quan hệ lợi
ích và nghĩa vụ của các bên trong liên kết
+ Số liệu đã công bố và số liệu mới được thu thập từ các cơ quan quản lí
nhà nước, các cơ quan nghiên cứu và khảo sát thực địa tại địa bàn tỉnh Cà Mau
+ Các phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tổ so sánh, kiểm định
và ước lượng mô hình toán đã được sử dụng để phân tích các số liệu thu thập
được.
- Các kết quả, phát hiện chính và kết luận:
+ Về lí luận, bản chất của liên kết trong sản xuất và chế biến tôm không
khác nhiều so với các liên kết khác trong ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, do các
đặc trưng về kinh tế kĩ thuật của “con tôm” với giá trị cao, mức độ nhạy cảm với
dịch bệnh lớn, yêu cầu về mặt bằng sản xuất phức tạp… nên liên kết trong sản
xuất và chế biến tôm bao gồm thêm một số điều kiện đặc thù. Cụ thể:
 Diện tích nuôi tôm phải đủ lớn;

x


- Author: Phung Giang Hai
- Thesis title: Linkages in commercial shrimp production and processing
in Ca Mau province
- Speciality: Agricultural economics
- Code: 62 62 01 15
- Name of education institution: Vietnam Agriculture Academy
2. Contents
- Objectives of Thesis: to propose solutions for strengthening linkages between
production and processing stages of commercial shrimp in Ca Mau province
- Methodology:
+ Type of linkage (vertical and horizontal linkages) approach to analyse
the details of linkages between shrimp processing enterprises and farmer.
+ Institutional economics approach to analyze the relationships of benefits
and duties inside inkages.
+ Data is collected from gorvernmental offices, research bodies and field
survey at Ca Mau province.
+ Description analysis and quatitative analysis are all used in the thesis.
- Key findings:
+ On theoretical side, the shrimp production areas have to be large enough
(average areas of aquaculture in linkages with enterprises are all 3 ha, at least) to
directly link to the processing enterprises. In the horizontal linkage, the position
of ponds has to be closed to facilitate the seasonal calendar and infrastructure
development. The formulation of linkage should be a contract which is ensured
by the Authority to confirm its effectiveness. In the structure of vertical linkage,
enterprises are always a key factor to ensure the right direction for the whole
linkage.
+ On practical side, analysis results show that the small scale and scattered
characteristics of shrimp production areas are the key constrains with linkage

xii

tôm lớn hàng đầu Việt Nam, nguồn tôm nguyên liệu vào thời điểm chính vụ cũng
chỉ đáp ứng tối đa 60% công suất các nhà máy chế biến trong tỉnh (Hội Chế biến
và Xuất khẩu thủy sản Cà Mau - CASEP, 2013). Nguyên nhân được xác định là
do phần lớn các diện tích nuôi tôm hiện nay vẫn phát triển tự phát, manh mún với
cơ sở hạ tầng (CSHT) ít được đầu tư bài bản, quy trình nuôi không thống nhất
nên dịch bệnh nhiều, chất lượng tôm thấp.
Bên cạnh đó, sự thiếu kết nối giữa khu vực chế biến và khu vực sản xuất
nguyên liệu trong ngành tôm cũng góp phần tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng
về cung cầu giữa 2 khu vực này. Vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện có 206
nhà máy chế biến thủy sản, chủ yếu là chế biến cá tra và tôm, với tổng công suất
chế biến hơn 1,1 triệu tấn/năm (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2011). Tuy
nhiên, sự phát triển quá nhanh số lượng các nhà máy chế biến trong khi nguồn
nguyên liệu có hạn và ngày càng bị hạn chế do sự gia tăng các rủi ro từ thiên
nhiên, dịch bệnh… khiến cho các nhà máy chế biến ngày càng lâm vào cảnh
thiếu nguyên liệu triền miên. Tại Cà Mau, năm 2013 sản lượng chế biến của toàn
tỉnh Cà Mau là khoảng 85 ngàn tấn tương đương với 40% tổng công suất thiết kế
của các nhà máy chế biến tại Cà Mau (CASEP, 2014). Điều này cho thấy sự bất
cập trong nhiều khâu đã dẫn đến tình trạng phát triển tự phát của cả về cung cấp
nguyên liệu và chế biến, đe dọa đến tính bền vững của cả chuỗi sản phẩm với
tình trạng “khát nguyên liệu” thường xuyên. Mặt khác, thiếu liên kết còn tạo ra
khoảng trống lớn trong giám sát chất lượng nguyên liệu đưa vào chế biến - theo
thống kê, chỉ trong 10 tháng đầu năm 2014, các doanh nghiệp chế biến tôm của
Cà Mau đã phải bị trả lại hơn 1,1 ngàn tấn sản phẩm do vi phạm các quy định về

1


dư lượng kháng sinh, ước tính thiệt hại khoảng 12,3 triệu USD (UBND tỉnh Cà
Mau, 2014). Tuy nhiên, con số thiệt hại này mới chỉ là bề nổi của tảng băng vì
những thiệt hại về uy tín của sản phẩm tôm Việt Nam cộng với những chi phí


2


và khó khăn trong việc triển khai việc liên kết, mặc dù ai cũng biết việc kí kết
hợp đồng là có lợi cho cả các bên.
Đã có nhiều nghiên cứu về phát triển liên kết trong sản xuất và chế biến
nông sản bao gồm cả ngành sản xuất và chế biến tôm. Trong đó, đặc biệt phải kể
đến nghiên cứu “Phân tích chuỗi giá trị tôm sú ở đồng bằng sông Cửu Long” của
tác giả Lê Xuân Sinh và cộng sự năm 2010 đã đề xuất một số giải pháp liên quan
đến tăng cường năng lực và vai trò cho từng tác nhân trong chuỗi để hỗ trợ phát
triển liên kết chuỗi. Nghiên cứu “Liên kết nông dân trong ngành tôm ở đồng
bằng sông Cửu Long” của tác giả Hồ Thị Minh Hợp năm 2012 đã kiến nghị một
số giải pháp liên quan đến quy hoạch, dự báo, phát triển tổ chức nông dân…
nhằm hỗ trợ phát triển liên kết trong ngành này. Nghiên cứu “Phân tích chuỗi giá
trị trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá tra, tôm sú” của tác giả Lê Văn Gia Nhỏ
và cộng sự năm 2012 cũng tiếp cận sâu về các vấn đề liên kết trong ngành tôm ở
đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, đến nay chưa có một nghiên cứu nào cụ
thể và toàn diện về phát triển liên kết theo cả chiều ngang và dọc trong sản xuất
và chế biến tôm ở Cà Mau - địa bàn cung cấp đến hơn 30% cả về sản lượng và
diện tích nuôi tôm nước lợ của cả nước. Các kết quả nghiên cứu trước đây chưa
chỉ rõ và phân tích được về các yếu tố ảnh hưởng để có thể xây dựng các giải
pháp tăng cường liên kết trong lĩnh vực này một cách hiệu quả và bền vững.
Trong bối cảnh như vậy, đề tài luận án là rất cần thiết và cấp bách nhằm
đề xuất các giải pháp tăng cường liên kết trong sản xuất và chế biến tôm ở
tỉnh Cà Mau và góp phần xây dựng cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp,
chính sách hỗ trợ phát triển bền vững cả ngành sản xuất, chế biến và xuất
khẩu tôm Việt Nam.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu tổng quát

liên kết giữa sản xuất và chế biến tôm thương phẩm ở Cà Mau. Các giải pháp
nhằm phát triển ngành hàng tôm nói chung không thuộc phạm vi nghiên cứu này.
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Về lí luận, luận án đã xác định bản chất của liên kết trong sản xuất và chế
biến tôm thương phẩm không khác nhiều so với các liên kết khác trong nông
nghiệp. Tuy nhiên, do đặc trưng của “con tôm” là đối tượng sản xuất có giá trị
cao, độ nhạy cảm với dịch bệnh lớn, yêu cầu về mặt bằng sản xuất phức tạp…
nên liên kết trong sản xuất và chế biến cần có thêm một số điều kiện: i) Diện tích
nuôi tôm phải đủ lớn để tham gia liên kết dọc trực tiếp với các doanh nghiệp chế
biến; ii) Vị trí các ao nuôi tôm phải gần nhau để có thể tham gia liên kết ngang;
iii) Nhà nước phải có vai trò thường xuyên và quan trọng (chứng thực, trọng tài,
hỗ trợ…) để đảm bảo các hợp đồng liên kết luôn có hiệu lực và hỗ trợ kịp thời
cho các liên kết trong trường hợp cần thiết.

4


Về thực tiễn, luận án đã xác định diện tích nhỏ lẻ, manh mún là một trong
những yếu tố quan trọng cản trở sự phát triển của các liên kết và do vậy ảnh
hưởng của quy hoạch đối với sự phát triển của các liên kết cũng đáng kể hơn. Về
CSHT, giao thông mặc dù không có ý nghĩa thống kê nhưng vẫn cho thấy tác
động thuận chiều đối với khả năng tăng cường liên kết trong nuôi và chế biến
tôm. Khung pháp lí có tác động lớn nhưng theo xu hướng tiêu cực đối với sự
hình thành và phát triển của các loại hình liên kết do sự lỏng lẻo trong các quy
định và hiệu quả xử lí vi phạm thấp. Người nuôi tôm không liên kết có mức chi
phí cao hơn đáng kể so với chi phí của những người nuôi tôm có liên kết. Kích
cỡ tôm bình quân thu hoạch từ khu vực nuôi có liên kết lớn hơn so với khu vực
nuôi không liên kết. Tóm lại, các yếu tố chi phí thấp hơn, chất lượng tôm thu
hoạch cao hơn và giá bán tốt hơn là những yếu tố chủ chốt thu hút sự tham gia
vào các liên kết đối với những người nuôi tôm thương phẩm ở Cà Mau.

người vận dụng từ rất lâu đời và xã hội càng phát triển thì trình độ hợp tác của
con người trong xã hội càng được nâng cao và phát triển thành các hình thức liên
kết đa dạng hơn (Kaplinsky and Morris, 2002). Trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, đẩy mạnh liên kết là một trong những phương thức tất yếu để tăng cường
nội lực cho các chủ thể kinh tế với đặc điểm chung là dù theo hình thức nào, ở
mức độ nào thì các liên kết cũng đều nhằm mang lại vị thế lớn hơn, năng lực lớn
hơn và lợi nhuận lớn hơn cho các chủ thể tham gia liên kết (Pearce, 2001).
Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế học, liên kết kinh tế là hình thức hợp tác
phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản
xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của
Nhà nước (Hữu Khuê Mai, 2001). Liên kết kinh tế chính là những phương thức
hoạt động của các hình thức hợp tác trong kinh tế và do vậy liên kết kinh tế cũng
phát triển ngày càng phong phú, đa dạng theo sự phát triển của kinh tế; tất cả các
mối quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với nhau dựa trên
những hợp đồng với những thoả thuận nhất định (Phạm Thị Minh Nguyệt, 2006).

6


Như vậy, ở một mức độ nào đó liên kết là việc thực hiện mối liên hệ giữa
các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác
lao động để đạt tới lợi ích chung (Phạm Thị Minh Nguyệt, 2006). Liên kết giữa
doanh nghiệp chế biến tôm với người nuôi tôm là hai khâu tiếp nối nhau trong
quá trình sản xuất và chế biến nông sản: doanh nghiệp chế biến tôm tiêu thụ sản
phẩm do người nuôi tôm sản xuất và tiếp tục sản xuất ra các sản phẩm phục vụ
nhu cầu tiêu dùng của xã hội (Hồ Thị Minh Hợp, 2012). Nội dung liên kết là sự
thể hiện cụ thể mối quan hệ phân công và hợp tác lao động giữa hai chủ thể tham
gia trong liên kết (Dương Bá Phượng, 1995), quy định những trách nhiệm và
quyền lợi, chức năng và hoạt động cụ thể về kinh tế, kỹ thuật mà mỗi bên phải
thực hiện để cùng nhau hợp tác.

nơi tập trung nhiều doanh nghiệp có tiềm lực mạnh, thị phần lớn (Porter, 1985).
Liên kết ngang trong sản xuất và chế biến tôm cũng có khái niệm cơ bản
tương tự như các liên kết ngang nói chung trong đó nhiều người nuôi tôm hoặc
nhiều doanh nghiệp chế biến tôm có thể thiết lập các quan hệ với nhau về quyền
lợi và trách nhiệm theo chiều ngang nhằm tăng quy mô sản xuất cho người nuôi
tôm hướng tới hiệu quả cao hơn trong nuôi tôm hoặc nhằm tăng khả năng thu hút
nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp
chế biến tôm khi tham gia thị trường.
Về bản chất, liên kết giữa những người nuôi tôm với nhau là một liên kết
ngang dựa trên sự tự nguyện của những người nuôi tôm cùng hợp tác trong sản
xuất (Hồ Thị Minh Hợp, 2012). Các liên kết ngang này thường hình thành nên các
HTX, tổ hợp tác hoặc đơn giản là các tổ nhóm, câu lạc bộ… mang tính chất tự
phát. Sự đảm bảo của liên kết này chủ yếu dựa trên các thỏa thuận không chính
thức (không hợp đồng bằng văn bản, không có công chứng…) giữa chính những
người tham gia, ngoại trừ các HTX thường được chính quyền địa phương ra quyết
định thành lập. Điểm khác biệt lớn nhất ở đây là yêu cầu các diện tích đất sản xuất
được đưa vào hợp tác, liên kết trong nuôi tôm cần phải có vị trí gần nhau, tổ chức
sản xuất phải theo lịch thời vụ thống nhất, giải pháp kĩ thuật trong sản xuất phải
theo một hướng dẫn chung để có khả năng tạo được sản lượng đủ lớn và tập trung
trong 1 thời điểm, đồng nhất về tiêu chuẩn, chất lượng với chi phí sản xuất thấp
nhất (Lê Văn Gia Nhỏ và cộng sự, 2012). Nói cách khác, các nội dung liên kết này
tương đối phức tạp, gắn với nhiều lĩnh vực trong sản xuất. Mặc dù vậy, trừ trường
hợp liên kết hình thành HTX, các hình thức liên kết khác thường không được thể
hiện bằng các hợp đồng hoặc các loại hình cam kết được cơ quan có thẩm quyền
chứng thực. Do vậy, liên kết ngang giữa những người nuôi tôm dễ thành lập nhưng
cũng dễ tan rã khi gặp những cản trở hoặc bất lợi trong quá trình hoạt động.
Bản chất liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến tôm với nhau cũng là
một hình thức liên kết ngang. Khác biệt lớn nhất ở đây liên quan đến định hướng
xuất khẩu, giá trị lớn và tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế của sản phẩm
tôm và do đó các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tôm mặc dù có thể cùng là

- CSHT


Hình 2.1. Liên kết ngang giữa những người nuôi tôm

9


Nhìn chung, hình thức liên kết này mang lại khá nhiều lợi ích cho những
người tham gia. Tuy nhiên, trên thực tế hình thức liên kết này cũng gặp nhiều cản
trở trong quá trình hình thành và phát triển (Lem et al., 2004) do những nguyên
nhân khá đặc thù của ngành: i) thứ nhất, do đặc tính “tư hữu” và “cá thể” của
người nuôi tôm nên khả năng làm việc theo nhóm rất hạn chế; ii) thứ hai, do
những thành viên tham gia liên kết cần phải có diện tích đất nuôi tôm nằm cạnh
nhau nên thường rất khó tổ chức liên kết do đặc tính manh mún và phân tán của
hoạt động này; iii) thứ ba, mức độ rủi ro trong nuôi tôm là rất lớn nhưng lại có
thể rất không đồng đều theo địa bàn và thời điểm nên rất khó thuyết phục người
nuôi tôm chia sẻ rủi ro với nhau trong dài hạn. Giải quyết được những vướng
mắc này một cách hợp lí sẽ tăng cường được các liên kết ngang giữa những
người nuôi tôm và qua đó nâng cao được lợi ích cuối cùng cho chính nhóm người
sản xuất này (ADB, 2004).
Liên kết ngang giữa các doanh nghiệp chế biến tôm được hình thành giữa
các doanh nghiệp chế biến tôm có một số điểm chung như thị trường, sản
phẩm… chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thu gom tôm nguyên liệu và tăng khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp khi đưa sản phẩm ra thị trường (Hồ Thị Minh
Hợp, 2012). Về lý thuyết, hình thức liên kết này có cấu trúc tương tự như các liên
kết ngang giữa những người nuôi tôm được thể hiện ở hình 2.2.

- Nguyên liệu
- Thị trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status