Tìm hiểu về sàn giao dịch HNX - Pdf 31

Tìm hiểu về sàn giao dịch HNX
I. Giới thiệu chung về sàn giao dịch HNX
1. Khái niệm
Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là thị trường giao dịch chứng khoán được thực hiện tại một
địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor) hoặc thông qua hệ thống máy tính. Các
chứng khoán được niêm yết được các thành viên giao dịch theo những quy định nhất định về
phương thức giao dịch, thời gian và địa điểm cụ thể. Các chứng khoán niêm yết giao dịch tại
SGDCK thông thường là chứng khoán của các công ty lớn ,có danh tiếng và đã trải qua thử thách
trên thị trường và đáp ứng nhu được các tiêu chuẩn niêm yết (gồm tiêu chuẩn định tính và tiêu
chuẩn định lượng) do SGDCK đề ra.
2. Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 11 tháng 07 năm 1998, Chính phủ ra Quyết định số 127/1998/QÐ-TTg thành lập hai
Trung tâm giao dịch chứng khoán trực thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Theo đó, Trung tâm
giao dịch chứng khoán Hà Nội, là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con
dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp. Biên chế của Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thuộc biên chế của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
- Ngày 05/8/2003 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển TTCK Việt Nam
đến 2010. Theo đó, xây dựng thị trường giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Hà Nội, chuẩn bị điều kiện để sau 2010 chuyển thành Thị trường giao dịch chứng khoán phi tập
trung (OTC).
- Tháng 6/2004, Bộ tài chính ra Thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận của Lãnh đạo Bộ về
mô hình tổ chức và xây dựng thị trường giao dịch chứng khoán Việt Nam. Trong đó, định hướng
xây dựng Trung tâm GDCK Hà Nội thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) đơn
giản, gọn nhẹ, theo đó, Trung tâm GDCK Hà Nội sẽ phát triển theo hai giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu, từ 2005 đến 2007 - thực hiện đấu giá cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước cổ
phần hoá và đấu thầu trái phiếu chính phủ đồng thời tổ chức giao dịch chứng khoán chưa niêm yết
theo cơ chế đăng ký giao dịch.
+ Giai đoạn sau 2007 - Phát triển TTGDCKHN thành thị trường phi tập trung phù hợp với quy
mô phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Ngày 08/03/2005, TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánh dấu một bước
phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Bên cạnh thành viên HĐQT là các công ty chứng khoán,cũng cần phải có những người bên
ngoài để tạo tính khách quan, giảm sự hoài nghi đối với các quyết định của hội đòng quản trị,
khuyến khich quan hệ giữa SGDCK và các bên có lien quan như công ty niêm yết, các tổ chức
dịch vụ chuyên môn…Trên cơ sở đó, HĐQT sẽ đưa ra những quyết sách phù hợp cho chính các
thành viên bên trong và thành vên bên ngoài cũng như tính thực tiễn của thị trường.
Đối với các trường hợp SGDCK do chính phủ thành lập phải có ít nhất 1 đại diện cho
chính phủ trong HĐQT để thi hành các chính sách của chính phủ đối với hoạt động của SGDCK
và duy trì các mối quan hệ hài hòa và lien kết giữa các cơ quan quản lí hoạt động của thị trường
chứng khoán.
Số lượng thành viên HĐQT của từng SGDCK là khác nhau. Tuy nhiên các SGDCK đã phát
triển thường có nhiều thành viên HĐQT nhiều hơn số thành viên của SGDCK mới nổi. Lý do là
HĐQT của các SDCK đã phát triển thường có nhiều thành viên là đại diện của các công ty chứng
khoán thành viên(số lượng công ty chứng khoán lớn)và cũng có số lượng thành viên tương ứng
với mức đó đại diện cho công chúng và các tổ chức đầu tư khác. Ví dụ: HĐQT của SGDCK Hàn
Quốc có 11 thành viên: 1chủ tịch, 1 phó chủ tịch, 4 ủy viên là giám đốc điều hành, 3 ủy viên đại
diện cho công chúng, 2 ủy viên được cử ra từ các công ty thành viên. HĐQT của SGDCK New
York có 25 thành viên: 1 chủ tịch, 12 thành viên đại diện cho công chúng, 12 thành viên đại diện
cho các công ty chứng khoán thành viên. HĐQT của SGDCK Tokyo(TSE) có 27 thành viên: 6
thành viên đại diện cho công chúng, 6 thành viên là các giám đốc điều hành, 1 tổng giám đốc điều
hành và 14 thành viên đại diện cho công ty chứng khoán thành viên.
 Bầu chọn thành viên HĐQT:
Bên cạnh thành phần của HĐQT, phương pháp bầu chọn hoặc bổ nhiệm cũng biểu thị vị trí
của các thành viên. Ở nhiều nước, hàng năm, tại đại hội thành viên HĐQT được bầu trong số các
công ty thành viên của SGDCK. Một số thành viên được chính phủ, bộ tài chính,ủy ban chứng
khoán bổ nhiệm hoặc chỉ định.
3
Thông thường nhiệm kì của chủ tịch và các ủy viên là giám đốc điều hành có thời hạn 3-4
năm, còn các đại diện cho công chúng có thời hạn ít hơn. Lý do vì chủ tịch và các Giám đốc diều
hành là những người có chuyên môn cao và cần đến sự ổn định và lien tục trong công việc điều
hành dài hơn, còn các thành viên khác cần có sự đổi mới. Thành viên của HĐQT có thể được tái

- Quản lí thu phí thành viên và các quỹ khác
- Phân tích đánh giá hoạt động của các thành viên
- Phòng công nghệ tin học
- Thực hiện các vấn đề lien quan đến nghiên cứu, lập kế hoạch và phát triển hệ thống
điện toán.
- Các vấn đề lien quan đến điện quản lí và vận hành hệ thống điện toán
- Các vấn đề lien quan đến việc quản lí thông tin thị trường qua hệ thống bảng điện tử,
thiết bị đầu cuối, mạng inernet…
4. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
a. Chức năng
-Đấu giá cổ phần cho các doanh nghiệp
-Đấu thầu trái phiếu chính phủ
-Tổ chức GDCK theo cơ chế đăng ký giao dịch.
b. Nhiệm vụ:
1. Bảo đảm hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường được tiến hành công khai,
công bằng, minh bạch và hiệu quả.
2. Thực hiện chế độ tài chính, báo cáo thông kê, kế toán và kiểm toán theo quy định của
pháp luật và của Bộ Tài chính.
5
3. Thực hiện công bố thông tin theo quy định tại Luật Chứng khoán và các văn bản hướng
dẫn;
4. Cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác thanh tra,
kiểm tra và phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng
khoán.
5. Bảo toàn và phát triển vốn nhà nước giao; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
và tài sản, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tổn thất các nguồn vốn và tài sản của Sở Giao dịch;
6. Phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị
trường chứng khoán cho nhà đầu tư.
7. Bồi thường thiệt hại cho thành viên giao dịch trong trường hợp Sở Giao dịch gây thiệt
hại cho thành viên giao dịch, trừ trường hợp bất khả kháng.

nại
13. Thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật để thực hiện mục tiêu hoạt động
của Sở giao dịch.
5. Thống kê trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
TTGDCK Hà Nội (nay là SGDCK HN) bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 2005, từ đó đến
nay diễn biến giao dịch chứng khoán tại GDCKHN đã có nhiều bước phát triển vượt bậc về quy
mô niêm yết và quy mô giao dịch.
Quy mô niêm yết thị trường hiện tại (2005)
Toàn thị trường Cổ phiếu Trái phiếu UPCoM
Số chứng khoán niêm
yết
12 5 7 0
Tổng khối lượng niêm
yết
24,245,478 12,245,478 12,000,000 0
Tổng giá trị niêm yết 1,322,454,780,000 122,454,780,000 1,200,000,000,000 0
7
Quy mô niêm yết thị trường hiện tại (10/2010)
Toàn thị trường Cổ phiếu Trái phiếu UPCoM
Số chứng
khoán niêm
yết
963 349 510 104
Tổng khối
lượng niêm
yết
8,478,313,257 5,687,440,202 1,691,736,620 1,099,136,435
Tổng giá trị
niêm yết
239,199,428,370,000 59,034,402,020,000 169,173,662,000,000 10,991,364,350,000

-Đơn vị yết giá
+ Đối với cổ phiếu:100 đồng.
+ Đối với trái phiếu: không quy định.
- Đơn vị giao dịch: 100 cổ phiếu hoặc 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tính theo mệnh giá trái
phiếu.
- Khối lượng giao dịch tối thiểu: không quy định
- Loại lệnh giao dịch: lệnh giới hạn.
- Nguyên tắc thực hiện lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục
 Các lệnh có mức giá tốt nhất được ưu tiên thực hiện trước
 Nếu có nhiều lệnh cùng mức giá thì lệnh nào được nhập vào hệ thống trước sẽ được thực
hiện trước.
 Nếu lệnh mua và lệnh bán cùng thoả mãn nhau về giá thì mức giá thực hiện sẽ là mức giá
của lệnh được nhập vào hệ thống trước.
 Lệnh giao dịch có thể được thực hiện toàn bộ hoặc một phần theo bội số của đơn vị giao
dịch.
- Trình tự giao dịch khớp lệnh liên tục:
9
 Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh (mua/bán) tại các công ty chứng khoán, đại diện giao dịch của
công ty chứng khoán sẽ nhập các lệnh của khách hàng vào hệ thống giao dịch tại Sở
GDCK Hà Nội.
 Các lệnh đặt này được hiển thị trên màn hình của đại diện giao dịch và màn hình thông tin
của công ty chứng khoán.
 Các lệnh nhập vào hệ thống sẽ được tự động khớp ngay với các lệnh đối ứng có mức giá
thoả mãn tốt nhất đã chờ sẵn trong hệ thống. Tức là, nếu thoả mãn về giá thì các lệnh mua
có mức giá cao nhất sẽ được khớp với các lệnh bán có mức giá thấp nhất. Mức giá thực
hiện được xác định là mức giá của lệnh được nhập vào hệ thống trước.
 Nếu ở cùng một mức giá mà có nhiều lệnh mua/lệnh bán thì lệnh nào nhập vào hệ thống
trước sẽ được thực hiện trước.
 Các lệnh có thể được thực hiện một phần hoặc toàn bộ (nếu các lệnh đối ứng đáp ứng được
toàn bộ khối lượng). Các lệnh chưa được thực hiện hoặc mới thực hiện một phần sẽ được

Nếu nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và đã hoàn tất thoả thuận giao dịch thì thông báo cho
công ty chứng khoán về thoả thuận này, công ty chứng khoán sẽ thực hiện nhập lệnh giao dịch vào
hệ thống của Trung tâm GDCK Hà Nội.
 Trường hợp chưa xác định được đối tác giao dịch:
- Khi có nhu cầu giao dịch, nhà đầu tư sẽ đặt lệnh mua/lệnh bán tại CTCK.
- Căn cứ vào lệnh của nhà đầu tư, công ty chứng khoán sẽ nhập lệnh vào hệ thống
giao dịch tại TTGDCK Hà Nội, ngay lập tức các lệnh đó sẽ được hiển thị trên sổ
lệnh của thị trường.
- Căn cứ vào thông tin trên sổ lệnh, các CTCK sẽ liên lạc với nhau để giúp nhà đầu
tư tìm kiếm và thoả thuận với các đối tác giao dịch về mức giá và khối lượng giao
dịch. Khi đạt được thoả thuận, CTCK sẽ thực hiện lệnh giao dịch cho nhà đầu tư.
- Hệ thống giao dịch của TTGDCK Hà Nội sẽ nhận và xác nhận các lệnh giao dịch
do công ty chứng khoán nhập vào và sẽ đưa ra kết quả giao dịch tổng hợp của toàn
thị trường.
- Kết quả giao dịch thỏa thuận sẽ được hiển thị ngay trên màn hình của đại diện giao
dịch và màn hình thông tin của CTCK
-Sửa lệnh giao dịch thỏa thuận
Trong giờ giao dịch, trường hợp phát hiện sai lệch so với lệnh gốc sau khi lệnh giao dịch thỏa
thuận đã được xác nhận, ĐDGD được phép sửa lệnh giao dịch thỏa thuận theo Quy trình sửa lệnh
giao dịch thỏa thuận.
Thời gian sửa lệnh giao dịch thỏa thuận phải được hoàn tất chậm nhất là 15 phút trước khi phiên
giao dịch kết thúc.
-Hình thức thanh toán:
11
 Các giao dịch có khối lượng nhỏ hơn 100.000 cổ phiếu hoặc nhỏ hơn 10 tỷ đồng mệnh giá
trái phiếu: áp dụng hình thức thanh toán đa phương với chu kỳ T+3
 Các giao dịch có khối lượng lớn hơn hoặc bằng 100.000 cổ phiếu hoặc 10 tỷ đồng mệnh
giá trái phiếu thì được lựa chọn 1 trong 3 hình thức thanh toán:
- Đa phương với chu kỳ thanh toán T+3
- Song phương với chu kỳ thanh toán T+2

2. Được Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam chấp thuận là thành viên lưu ký;
3. Có đủ điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động:
a. Có hệ thống công nghệ tin học đáp ứng được yêu cầu của SGDCK Hà Nội;
b. Có thiết bị cung cấp thông tin giao dịch của SGDCK Hà Nội phục vụ người đầu tư;
c. Có trang thông tin điện tử đảm bảo thực hiện việc công bố thông tin giao dịch chứng khoán và
thông tin công bố của CTCK;
d. Có phần mềm phục vụ hoạt động giao dịch và thanh toán đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật và
nghiệp vụ theo quy định của SGDCK Hà Nội;
e. Tham gia đường truyền dữ liệu dùng chung theo quy định của SGDCK Hà Nội;
f. Có hệ thống dự phòng trường hợp xảy ra sự cố máy chủ, đường truyền, điện lưới, v.v;
4. Có ban lãnh đạo và đội ngũ nhân viên có năng lực và kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tài
chính, chứng khoán với tính trung thực và đạo đức nghề nghiệp tốt, có cán bộ công nghệ thông tin
đáp ứng được yêu cầu quy định:
a. (Tổng) Giám đốc phải đáp ứng được các điều kiện quy định của pháp luật đối với người làm
(Tổng) Giám đốc CTCK;
b. Có nhân viên đủ điều kiện được cử làm đại diện giao dịch theo quy định tại Điều 12 Quy chế
này;
c. Lãnh đạo công nghệ thông tin phải có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành trở lên với ít nhất
01 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghệ thông tin;
13
d. Có ít nhất 02 cán bộ chuyên môn về công nghệ thông tin có bằng đại học chuyên ngành công
nghệ thông tin trở lên, trong đó ít nhất 01 cán bộ có chứng chỉ chuyên môn như hệ thống mạng,
bảo mật, phần mềm;
e. Tất cả nhân viên công ty phải tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
5. Các điều kiện khác do SGDCK Hà Nội quy định trong trường hợp cần thiết;
b. Hồ sơ thành viên
Căn cứ Điều 6 Quy chế thành viên giao dịch tại SGDCK Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định
số 323/QĐ-SGDHN ngày 04/6/2010, Hồ sơ đăng ký làm thành viên giao dịch của SGDCK Hà
Nội bao gồm các tài liệu sau:
1. Đơn đăng ký làm thành viên (Phụ lục 01/QCTV);

13. Giấy ủy quyền thực hiện công bố thông tin (theo mẫu Phụ lục số I ban hành kèm theo
Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn
về việc công bố thông tin trên TTCK);
14. Các tài liệu khác để chứng minh Công ty đã đáp ứng được các điều kiện làm thành viên.c. Quyền và nghĩa vụ của thành viên giao dịch trên Sở GDCKHNCăn cứ Điều 8 Quy chế thành viên giao dịch tại SGDCK Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định số
323/QĐ-SGDHN ngày 04/6/2010, thành viên giao dịch của SGDCK Hà Nội có các quyền như
sau:
1. Sử dụng hệ thống giao dịch và các dịch vụ do SGDCK Hà Nội cung cấp;
2. Nhận các thông tin về thị trường giao dịch chứng khoán từ SGDCK Hà Nội;
3. Thành viên thị trường đăng ký giao dịch (Upcom) có đăng ký nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
được phép mua và bán cùng một loại cổ phiếu trong một ngày giao dịch nhằm thực hiện vai trò
nhà tạo lập thị trường.
4. Đề nghị SGDCK Hà Nội làm trung gian hoà giải khi có tranh chấp liên quan đến hoạt động giao
dịch chứng khoán của thành viên giao dịch;
5. Đề xuất và kiến nghị các vấn đề liên quan đến hoạt động của SGDCK Hà Nội và hoạt động của
thành viên trên SGDCK Hà Nội;
15
6. Được rút khỏi tư cách thành viên sau khi được SGDCK Hà Nội chấp thuận;
7. Các quyền khác do SGDCK Hà Nội quy định.
Căn cứ Điều 9 Quy chế thành viên giao dịch tại SGDCK Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định số
323/QĐ-SGDHN ngày 04/6/2010, thành viên giao dịch của SGDCK Hà Nội có các nghĩa vụ như
sau:
1. Tuân thủ các nghĩa vụ quy định tại Điều 71 Luật Chứng khoán;
2. Chịu sự kiểm tra, giám sát của SGDCK Hà Nội;
3. Nộp phí thành viên, phí giao dịch, các phí dịch vụ và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính

bảo lãnh
2.Vai trò:
Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) chuyên biệt có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế.
- Là kênh dẫn vốn hữu hiệu cho nền kinh tế
- Đa dạng hóa các công cụ đầu tư trên thị trường vốn => cho phép các nhà đầu tư có thêm
sự lựa chọn đầu tư ít rủi ro hơn.
- Là nền tảng cho thị trường trái phiếu công ty thông qua việc cung cấp cơ sở định giá
chuẩn, tin cậy cho các công cụ khác..
- Đồng thời, thị trường TPCP còn giúp tăng cường sự độc lập trong điều hành chính sách
tiền tệ của các ngân hàng trung ương thông qua mua bán TPCP, tác động trực tiếp đến
lượng cung tiền và các biến số kinh tế vĩ mô.
3. Đôi nét về sự hình thành TPCP chuyên biệt tại SGDCK HN:
Đánh giá tầm quan trọng của Thị trường giao dịch TPCP chuyên nghiệp, cuối năm 2004,
UBCKNN đã trình Bộ Tài chính kế hoạch xây dựng một thị trường giao dịch TPCP thứ cấp
chuyên biệt trên cơ sở cải tiến tổ chức lại thị trường trái phiếu thứ cấp tại thời điểm đó. Trên cơ sở
xem xét kiến nghị của các đơn vị liên quan, Bộ Tài chính đã quyết định thực hiện các chính sách
quan trọng và đồng bộ để phát triển thị trường trái phiếu theo một hướng mới.
Ngày 20/6/2006, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2276/QĐ-BTC quy định việc tập
trung đấu thầu trái phiếu tại SGDCK Hà Nội. Theo đó, SGDCK Hà Nội là đầu mối duy nhất tổ
chức đấu thầu TPCP, thực hiện nhiệm vụ đại lý phát hành cho Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Phát
triển Việt Nam, UBND Tp. Hồ Chí Minh. Theo đó, số vốn trái phiếu huy động qua phương thức
đấu thầu trái phiếu trong năm 2006 đạt 4.268 tỷ đồng, gấp 20,8 lần so với năm 2005 (năm 2005
đạt 205 tỷ đồng), số lượng huy động được trong năm 2007 là 18.939 tỷ đồng.
17
Ngày 15/1/2008, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 86/QĐ-BTC phê duyệt Đề án 86 cho
phép SGDCK Hà Nội tiến hành thực hiện xây dựng thị trường TPCP chuyên biệt.
Thực hiện Đề án 86, tháng 5/2008, UBCKNN ra quyết định chuyển toàn bộ TPCP có thời
gian đến khi đáo hạn từ 6 tháng trở lên đang niêm yết và giao dịch trên SGDCK Tp. Hồ Chí Minh
niêm yết và giao dịch tập trung tại SGDCK Hà Nội từ ngày 2/6/2008. Khối lượng trái phiếu niêm

được phép thực hiện mua lại trái phiếu lô lẻ của nhà đầu tư.
- Đối với giao dịch mua bán lại: Một nghìn (1.000) trái phiếu (tương đương 100.000.000
đồng theo mệnh giá).
6. Lệnh giao dịch:
- Giao dịch thông thường, có 2 hình thức là thỏa thuận điện tử và thỏa thuận thông thường.
+ Hình thức thoả thuận điện tử, được thực hiện với loại Lệnh thỏa thuận điện tử, là các
lệnh chào mua, chào bán với cam kết chắc chắn được chào công khai trên hệ thống.
+ Hình thức thỏa thuận thông thường, được thực hiện với: Lệnh quảng cáo, là lệnh mua,
bán trái phiếu và người đầu tư có thể thỏa thuận thêm về các điều kiện giao dịch của lệnh (giá,
khối lượng). Lệnh quảng cáo có thể gửi đến một, một nhóm thành viên hoặc toàn thị trường; và
Lệnh báo cáo giao dịch, được sử dụng để nhập giao dịch vào hệ thống trong trường hợp giao dịch
đã được các bên thỏa thuận xong về các điều kiện trong giao dịch.
- Giao dịch mua bán lại, cũng có 2 hình thức là thỏa thuận điện tử và thỏa thuận thông
thường
+ Hình thức thỏa thuận điện tử, được thực hiện với loại Lệnh yêu cầu chào giá, là lệnh có
tính chất quảng cáo, được sử dụng khi nhà đầu tư chưa xác định được đối tác trong giao dịch.
Lệnh có thể được gửi cho một, một nhóm thành viên hoặc toàn thị trường; và Lệnh chào mua,
chào bán với cam kết chắc chắn, được sử dụng để chào đối ứng với Lệnh yêu cầu chào giá. Lệnh
chào với cam kết chắc chắn chỉ được gửi đích danh cho thành viên gửi Lệnh yêu cầu chào giá.
+ Hình thức thỏa thuận thông thường, được thực hiện với Lệnh báo cáo giao dịch, là lệnh
được sử dụng để nhập giao dịch vào hệ thống trong trường hợp giao dịch này đã được các bên
thỏa thuận xong về các điều kiện trong giao dịch.
7.Thủ tục đấu thầu trái phiếu qua trung tâm
a.Thông báo đấu thầu
Trước ngày tổ chức đấu thầu 04 ngày làm việc, Ban đấu thầu trái phiếu thực hiện việc
thông báo đấu thầu trái phiếu tại Trung tâm cho các thành viên qua mạng máy tính và Fax,
đồng thời công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên các phương tiện thông
tin hiện có của Trung tâm.
19
b.Lập phiếu dự thầu

Trung tâm và phải ký xác nhận vào danh sách tham gia đấu thầu.
Thời gian bỏ phiếu trong vòng 60 phút trước giờ mở thầu.
Trường hợp gửi qua bưu điện thì Trung tâm phải nhận được trước giờ mở thầu 15 phút
(căn cứ vào thời điểm ký nhận giữa Trung tâm và bưu điện)
d. Tổ chức xét thầu
 Mở thầu
Vào thời điểm bắt đầu đấu thầu, Thư ký Ban đấu thầu kiểm tra dấu niêm phong và mở hòm
phiếu dưới sự chứng kiến của đại diện các thành viên (nếu có).
 Kiểm tra tính hợp lệ của phiếu dự thầu
- Hai thành viên của Ban đấu thầu kiểm tra tính hợp lệ của phiếu dự thầu và ký xác nhận đã
kiểm tra.
- Các phiếu dự thầu không hợp lệ bị loại bỏ, Ban đấu thầu có trách nhiệm thông báo cho
thành viên liên quan ngay trong ngày (mẫu 04/ĐTTP).
 Nhập số liệu vào hệ thống
Ban đấu thầu nhập nội dung các phiếu dự thầu hợp lệ vào hệ thống. Thông tin về nội dung
phiếu dự thầu được hiển thị trực tuyến lên bảng điện tử của Trung tâm.
 Xét thầu
Hệ thống đấu thầu xác định lãi suất trúng thầu và khối lượng trúng thầu theo quy định tại
Điểm 8.4 Mục II Thông tư 21/TT-BTC ngày 24/3/2004 của Bộ Tài chính. Giá bán trái
21
phiếu được xác định theo quy định tại Điểm 8.5 Mục II Thông tư 21/TT-BTC ngày
24/3/2004 của Bộ Tài chính.
e. Thông báo kết quả đấu thầu
Ngay sau khi kết thúc việc đấu thầu, Ban đấu thầu thực hiện việc thông báo kết quả đấu
thầu như sau:
- Lập Báo cáo kết quả đấu thầu trái phiếu (mẫu 05/ĐTTP) gửi cho tổ chức phát hành, Bộ
Tài chính (UBCKNN, Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính), UBND tỉnh, thành
phố (nếu là trái phiếu Chính quyền địa phương).
- Lập và gửi Thông báo kết quả đấu thầu trái phiếu (mẫu 06/ĐTTP) cho các thành viên
tham gia đấu thầu và Ngân hàng nơi Trung tâm mở tài khoản.

Thành viên có trách nhiệm thu hồi tiền chậm trả của khách hàng
- Tổ chức, cá nhân thanh toán chậm sẽ bị phạt chậm thanh toán. Số tiền phạt chậm thanh
toán được trích từ tài khoản tiền gửi của thành viên. Thành viên phải chịu trách nhiệm nộp
tiền phạt đối với cả phần chậm thanh toán của khách hàng và có quyền thu hồi số tiền phạt
từ khách hàng.
- Việc xác định số tiền phạt và nộp vào các cơ quan liên quan được thực hiện theo quy
định tại Điểm 9.2 Thông tư 21/TT-BTC ngày 24/3/2004 của Bộ Tài chính.
- Trường hợp quá 5 ngày so với thời gian thanh toán quy định, số dư trên tài khoản tiền gửi
của các thành viên liên quan vẫn không đủ để thanh toán, ngân hàng nơi thành viên liên
quan tổ chức, cá nhân vi phạm mở tài khoản có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm. Trên
cơ sở đó, Trung tâm huỷ bỏ phần kết quả trúng thầu chưa được thanh toán và yêu cầu ngân
hàng trích tài khoản tiền gửi của thành viên liên quan nộp phạt 5% trên số tiền bị huỷ bỏ
để nộp vào các cơ quan theo quy định tại Điểm 9.2 Thông tư 21/TT-BTC ngày 24/3/2004
của Bộ Tài chính
23
- Trung tâm thực hiện thông báo về kết quả xử lý cho tổ chức phát hành, Bộ tài chính
(UBCKNN, Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính), UBND tỉnh, thành phố (nếu
là trái phiếu Chính quyền địa phương) và thành viên.
5. Nhận xét và so sánh:
a. So sánh với giao dịch cổ phiếu:
Hệ thống giao dịch trái phiếu chuyên biệt vẫn tuân thủ nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của
thị trường chứng khoán như đối với hệ thống giao dịch cổ phiếu niêm yết là nguyên tắc trung gian
qua thành viên và phải có ký quỹ đầy đủ trước khi thực hiện giao dịch.
Tuy nhiên, có những sự khác nhau rõ rệt:
Ngoài sự khác biệt rõ về hàng hóa và đơn vị yết giá, đơn vị giao dịch, có thể thấy một số điểm
khác biệt sau so với hệ thống giao dịch cổ phiếu niêm yết:
- Trước hết so với giao dịch cổ phiếu niêm yết, giao dịch trái phiếu không bao gồm giao dịch
khớp lệnh định kỳ hoặc khớp lệnh liên tục.
- Thành viên giao dịch trái phiếu bao gồm hai loại là thành viên thông thường và thành viên đặc
biệt, trong đó thành viên đặc biệt chỉ được thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều này khác biệt so

IV. Thị trường cổ phiếu
1. Cổ phiếu và phân loại cổ phiếu
a. Cổ phiếu là gì?
Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi
là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở
hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu
Vậy ’’ Cổ phiếu là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một
công ty cổ phần’’
b. Phân loại cổ phiếu
- Cổ phiếu thường
- Cổ phiếu ưu đãi
* Sự khác nhau:
- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như:
Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và
kiểm soát công ty; Chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của
mình.
- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông
thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không có quyền bầu cử, ứng
cử...
2. Các công ty niêm yết :
Tính đến ngày 29/10/2010: trên sở GDCK Hà Nội có 349 mã cổ phiếu tham gia giao dịch
25

Trích đoạn Điều kiện niêm yết cổ phiếu: UPCoM và Sở giao dịch chứng khoán: Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường UPCoM: a Tổng hợp diễn biến thị trường UPCOM: Nguyên nhân dẫn đến tính thanh khoản kém của thị trường UPCOM: Giải pháp nâng cao tính thanh khoản của thị trường UPCOM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status