TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------
ĐỖ TUẤN VIỆT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ
TRỌNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH HUÂN
Nghệ An, tháng 9 năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tạo điều kiện của Ban Giám hiệu
Trường Đại học Vinh và Trường Đại học Sài gòn trong thời gian học tập và
nghiên cứu chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục,
khóa XIX; xin cảm ơn sự tận tình trong giảng dạy của các thầy cô giáo và sự tổ
chức sắp xếp, chu đáo, khoa học của Phòng Đào tạo sau Đại học Trường Đại học
Vinh trong khóa học.
Qua thời gian làm luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ sự biết ơn PGS.TS
Nguyễn Đình Huân đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám Hiệu cũng như các đồng nghiệp đang
công tác tại trường Cao đẳng kỹ thuật Lý Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh đã
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CT
Chính trị
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa hiện đại hóa
ĐH
Đại học
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
HS-SV
Học sinh sinh viên
KT-XH
Kinh tế xã hội
KHCN
quá trình dạy-học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học
sinh”. CNTT chính là công cụ trợ giúp đắc lực hỗ trợ đổi mới nội dung, phương
pháp giảng dạy, hỗ trợ QLGD nhằm nâng cao chất lượng phát triển giáo dục.
Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001, nêu rõ: "Tiếp tục nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường
lớp và hệ thống QLGD; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá". Nâng
cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Hội nghị Trung ương 6, khóa IX năm 2002,
đã đề ra 3 nhiệm vụ để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII ,
trong đó có nhiệm vụ về giáo dục đào tạo là: nâng cao chất lượng, hiệu quả
GD&ĐT nhân tài. Trong nhiệm vụ này, trọng tâm là đổi mới nội dung, chương
trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, ứng dụng
CNTT vào các cấp học, bậc học.
Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nhất là chỉ thị
58-CT/TW của Bộ Chính Trị ngày 17 tháng 10 năm 2000 [2] về việc đẩy mạnh
ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đã chỉ rõ trọng tâm của ngành
giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT
trong công tác GD&ĐT, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho
ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐTTg [35].
Trong môi trường giáo dục đại học, cao đẳng, CNTT đóng vai trò hết sức
quan trọng để đưa thông tin đến người dạy và người học một cách nhanh nhất,
1
không làm ảnh hưởng tới thời gian dành cho nghiên cứu, sáng tạo. Hiện nay,
chúng ta mới chỉ triển khai được một số dịch vụ đơn giản như e-mail, tin tức nội
bộ hoặc một số thông tin quản lý đào tạo dành cho sinh viên. Các trường đại
học, cao đẳng cần tập trung đầu tư nhiều hơn nữa để triển khai một số hệ thống
dịch vụ thông tin quan trọng như: Hệ thống thông tin hành chính điện tử; hệ
thống thông tin quản lý đào tạo; hệ thống thông tin trợ giúp học tập.
Trong nhiều năm qua, vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy đã được
chế tính tự chủ, năng động của các thành viên và các bộ phận được ứng dụng
CNTT.
Trong nhiều năm qua Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng Thành phố
Hồ Chí Minh đã có nhiều nỗ lực trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong
quản lý đào tạo và cải tiến phương pháp, hình thức dạy học, phù hợp cho riêng
mình. Những cố gắng ấy đã tạo ra những chuyển biến đáng kể trong phong trào
thi đua dạy tốt - học tốt của toàn trường.
Vấn đề đổi mới ứng dụng CNTT trong Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự
Trọng Thành phố Hồ Chí Minh đã được các cấp lãnh đạo cũng như có nhiều tác
giả quan tâm, nghiên cứu ở góc độ ứng dụng CNTT trong quản lý GD&ĐT. Tuy
vậy, vẫn còn nhiều vấn đề cụ thể để việc đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng CNTT
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Tuy nhiên, phong trào ứng dụng CNTT trong công tác đào tạo ở trường
vẫn chưa đều khắp ở các đơn vị và ở cán bộ giáo viên. Nó mới chỉ dừng lại ở bề
nổi của hình thức mà chưa đi vào chiều sâu của chất lượng và chưa được thường
xuyên, liên tục. Nó chưa trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, giáo viên.
Trong những năm gần đây, đã có những công trình khoa học đề cập đến
vấn đề ứng dụng CNTT trong công tác đào tạo. Ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý
Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu
khoa học nào bàn về vấn đề này. Với những lý do ở trên tác giả chọn đề tài
nghiên cứu: “ Một số giải pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong
công tác đào tạo ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng Thành phố Hồ
Chí Minh”.
3
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý
công tác đào tạo thông qua việc ứng dụng CNTT ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật
quản lý ứng dụng CNTT trong công tác đào tạo ở trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý
Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh.
6.3. Phương pháp nghiên cứu bổ trợ
Ngoài những phương pháp nêu trên, tác giả còn dùng các phương pháp
bổ trợ khác để làm sáng tỏ thêm vấn đề nghiên cứu, như: Phương pháp thống kê
toán học, phương pháp so sánh, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia...
7. Đóng góp mới của đề tài
- Luận văn làm rõ đặc trưng về mặt lý luận quản lý ứng dụng CNTT
trong công tác đào tạo ở trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng Thành phố Hồ
Chí Minh, đồng thời luận văn cũng chỉ ra những bất cập, khó khăn trong việc
quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo của Nhà trường.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý ứng dụng CNTT trong công
tác đào tạo ở trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
trong công tác đào tạo.
Chương 2: Thực trạng việc quản lý ứng dụng CNTT trong công tác đào
tạo ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý ứng dụng CNTT trong công tác đào
tạo ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh.
5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ỨNG
DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nét nổi bật của bối cảnh quốc tế hiện nay là quá trình toàn cầu hoá với
Trên thế giới hiện nay, giáo dục đang được nhấn mạnh như “một lực
lượng sống còn của phát triển mỗi quốc gia”. Do đó trong cuộc đua tranh vào
thế kỷ XXI, dường như tất cả các nước đều tìm kiếm con đường phát triển cho
riêng mình là dựa vào nguồn vốn đầu tư, dựa vào tài nguyên khoáng sản, dựa
vào lợi thế vị trí địa lý, chính trị, kinh tế…, song có thể nói rằng, hầu hết các
quốc gia đều thống nhất rằng nguồn lực con người mới là quan trọng nhất và
giáo dục là con đường nhanh nhất và cơ bản nhất để phát huy nguồn lực con
người, phục vụ cho sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.
Việt Nam là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, nên nguồn lực con
người càng trở nên quý báu và càng giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển
KT-XH, trong khi các nguồn lực khác còn hạn hẹp. Vì thế, quan điểm con người
Việt Nam vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển KT-XH đã trở thành
nền tảng tư tưởng của Đảng ta để chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá(CNH-HĐH) thực hiện dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, xây dựng Chủ nghĩa xã hội
(CNXH). Để đạt được mục tiêu ấy, GD&ĐT và ứng dụng khoa học công nghệ
(KHCN) đặc biệt là CNTT có vai trò đặc biệt quan trọng, là “Quốc sách hàng
đầu”.
Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương (TW) Đảng [4] đã nêu:
Phát triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn
lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó ứng dụng
CNTT trong quản lý và đào tạo là khâu then chốt, có vai trò quan trọng. Như
vậy, phát triển GD&ĐT đồng thời “Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý đào
tạo” đã trở thành chiến lược cách mạng mang tính thời đại sâu sắc và đội ngũ
các nhà quản lý, nhà giáo dục là lực lượng cách mạng quan trọng, quyết định
thắng lợi sự nghiệp đổi mới GD&ĐT, góp phần phát triển đất nước.
7
giáo dục. Phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet
của người học, tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm
được nội dung học phù hợp, xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do
khoảng cách địa lý đem lại. Khuyến khích giáo viên, giáo viên soạn bài trình
chiếu, bài giảng điện tử và giáo án trên máy tính. Khuyến khích trao đổi kinh
nghiệm giảng dạy qua Website của các cơ sở GD&ÐT và qua diễn đàn giáo dục
trên Website Bộ. Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning). Tổ
chức cho giáo viên, giáo viên soạn bài giảng điện tử e-Learning trực tuyến, tổ
chức các khóa học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội học
tập cho người học.
Ứng dụng CNTT trong điều hành quản lý GD&ĐT: Ðiều tra, khảo sát
hiện trạng, xác định nhu cầu nhiệm vụ về CNTT trong các cơ quan quản lý và
đào tạo, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ứng dụng CNTT dài hạn của ngành.
Ứng dụng CNTT để triển khai thực hiện cải cách hành chính và Chính
phủ (CP) điện tử, thực hiện việc chuyển phát công văn, tài liệu qua mạng. Tin
học hóa công tác quản lý ở các cấp quản lý GD&ĐT (Bộ, sở, phòng). Xây dựng
hệ thống thông tin quản lý GD&ĐT, thống kê giáo dục thông qua việc tích hợp
cơ sở dữ liệu.
Tiếp tục triển khai giảng dạy môn tin học trong Nhà trường theo chương
trình đã ban hành. Tổ chức xây dựng chương trình học tin học ứng dụng theo
các mô đun kiến thức để có thể áp dụng cho nhiều cấp học một cách mềm dẻo,
thiết thực, cập nhật nội dung công nghệ mới. Tích cực khai thác và đưa phần
mềm mã nguồn mở vào chương trình giảng dạy CNTT. Tăng cường sử dụng
trực tiếp chương trình đào tạo và tài liệu bằng tiếng Anh trong giảng dạy các
môn CNTT.
Xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng, chuẩn kiến thức và kỹ năng
về CNTT phù hợp từng nhóm đối tượng được bồi dưỡng là cán bộ, công chức,
CBQL giáo dục, giáo viên, giáo viên và viên chức chuyên trách ứng dụng
hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động.
- Là sử dụng tối ưu nguồn nhân lực và vật chất sẳn có để làm cho tổ chức
đạt được các mục tiêu của nó.
10
- Là tạo ra và duy trì các điều kiện trong một tổ chức để tạo điều kiện cho
việc đạt được các mục tiêu của nó.
Qua định nghĩa trên chúng ta thấy quản lý phải bao gồm các điều kiện
sau:
- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ
chức, là cái tạo ra hành động (hoạt động quản lý).
- Khách thể quản lý cũng có thể là một cá nhân, một nhóm người hay một
tổ chức, tiếp nhận sự tác động quản lý.
- Công cụ quản lý là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động
đến đối tượng quản lý.
- Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý. Phương pháp quản lý tương đối phong phú: Phương pháp thuyết
phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính tổ chức, phương pháp tình
cảm, phương pháp tâm lý giáo dục…
Có thể mô tả hoạt động quản lý qua sơ đồ sau:
Công cụ
quản lý
Môi trường quản lý
Chủ thể
Khách thể
Mục tiêu
nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích, nguyên tắc kết hợp các phương pháp
quản lý, nguyên tắc hiệu quả - thiết thực, nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành
và theo lãnh thổ.
Các phương pháp quản lí giáo dục: phương pháp quản lí giáo dục là các
cách thức, con đường mà chủ thể quản lí tác động đến đối tượng quản lí nhằm
đạt được mục đích quản lí để đạt mục tiêu nhất định của hệ thống giáo dục.
1.2.3. Quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là hoạt động quản lý trong lĩnh vực GD&ĐT nhằm
làm cho các cơ sở giáo dục đào tạo đạt được mục tiêu đề ra. Mục tiêu của các
đơn vị giáo dục là thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo nguồn nhân lực đáp
ứng nhu cầu của xã hội. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất của các
12
cơ sở giáo dục. Ngoài ra, QLGD đào tạo phải tạo được sự phát triển vững
chắc, ổn định cho tổ chức.
- Đối tượng quản lý:
+ Các cán bộ, giáo viên giảng dạy và công tác trong Nhà trường.
+ Sinh viên, học sinh Nhà trường đa phần là các sinh viên trúng
tuyển, và cán bộ công chức làm việc trong Nhà trường.
- Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý đào tạo là Trường Cao đẳng Kỹ
thuật Lý Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nội dung quản lý:
+ Hoạt động dạy học của giáo viên.
+ Hoạt động học của sinh viên học sinh.
- Công cụ quản lý:
Với Nhà trường: Hệ thống văn bản pháp quy, quy chế bao gồm điều lệ
nội quy, quy định của Nhà trường, các văn bản của Bộ GD&ĐT. Lực lượng
tham gia quá trình quản lý chủ yếu là cán bộ và giáo viên của Nhà trường.
Nam, bao gồm các ngành thuộc nhóm kỹ thuật. Sinh viên tốt nghiệp ra trường
được cấp bằng tốt nghiệp cử nhân cao đẳng. Trình độ và chương trình đào tạo
của cao đẳng thấp hơn đại học. Tùy theo từng trường, từng chuyên ngành mà
nội dung các môn đào tạo được giảm bớt so với bậc đại học cùng chuyên ngành.
1.2.6. Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương
tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông,
nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin
rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã
hội. CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu
quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động KT-XH khác, từ
đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. CNTT được phát
triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử-Tin học-Viễn thông và
tự động hoá (Theo Nghị định 49/CP năm 2010) [49].
1.2.7. Ứng dụng công nghệ thông tin
14
Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào
các hoạt động của đơn vị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động
nội bộ giữa các đơn vị và giữa các cơ quan với nhau, cũng như trong giao
dịch của cơ quan với các tổ chức và cá nhân, giúp hỗ trợ đẩy mạnh cải cách
hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch.
1.2.8. Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo
Theo cách tiếp cận về khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin như đã
trình bày trên thì ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo sẽ được hiểu như
sau:
- Làm thay đổi mô hình giáo dục: Khi đó mô hình tri thức (sử dụng máy
vi tính và hệ thống mạng ) trong giảng dạy và học tập là mô hình giáo dục hiện
động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động
đào tạo của Nhà trường đạt tới kết quả cao nhất.
1.3. Vai trò của công nghệ thông tin và quản lý ứng dụng công nghệ
thông tin trong công tác đào tạo
Sự phát triển nhanh chóng của CNTT có tác động lớn đến hệ thống
GD&ĐT của mỗi quốc gia. CNTT đang làm nên một cuộc đổi mới mạnh mẽ
trong GD&ĐT. Nó làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học cũng như
cách thức điều hành và QLGD.
Các nhà quản lý cho rằng, CNTT tác động đến GD&ĐT theo các lĩnh
vực: mục tiêu ứng dụng, môi trường đào tạo và công tác QLGD. Trong đó,
phương pháp dạy và học chịu tác động nhiều nhất, máy tính, mạng máy tính sẽ
góp phần tạo ra môi trường lý tưởng cho hoạt động của người dạy và người học
trong việc mô phỏng các quá trình hay kiểm tra năng lực của người học.
Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị số 29/2001/BGD&ĐT [14] về tăng
cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giai đoạn 2001-2005.
Chỉ thị có ghi: “Đến năm 2005, 100% các Sở GD&ĐT xây dựng được mạng nội
bộ, từng bước kết nối các trường phổ thông và khai thác Internet, 70% trường
trung học phổ thông được nối mạng Internet. Hình thành mạng giáo dục phục vụ
16
cho các hoạt động học tập, giảng dạy, quản lý của cơ sở và của chung toàn
ngành. Tăng cường các thông tin về GD&ĐT trên mạng thông qua các trang
thông tin (Website) của Bộ và của các Sở. Triển khai ứng dụng CNTT vào quản
lý GD&ĐT. Mỗi cơ sở GD&ĐT phải có trang thông tin (Website) phản ánh các
hoạt động của đơn vị mình và kết nối chung vào mạng giáo dục”.
Với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đặc biệt là sự gia tăng về số
lượng, quy mô và nhu cầu được GD&ĐT, nâng cao chất lượng. Việc ứng dụng
CNTT trong quản lý ở các Nhà trường được xác định là một trong những biện
pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng GD&ĐT, đáp ứng tốt yêu cầu CNH-HĐH
thân thiện.
Công nghệ thông tin làm cho quá trình dạy học được mở rộng về không
gian và thời gian, giúp cho các giáo viên có trình độ cao có thể giảng cho nhiều
HS-SV cùng học. Công nghệ truyền dẫn thông tin của ngành CNTT làm cho
thông tin được truyền đến nhiều nơi trên thế giới một cách nhanh chóng và với
giá thành càng ngày cảng giảm. Việc giá thành truyền thông tin giảm nhanh làm
cho việc truyền thông tin trở nên phổ biến và nhiều người có thể sử dụng được
công nghệ này. Sự phổ biến của CNTT thể hiện ở hệ thống mạng internet. Hiện
nay, mạng internet phổ biến khắp mọi nơi từ thành phố đến nông thôn và trở
nên thân thiện với người sử dụng. Số lượng người biết sử dụng internet và số
thuê bao internet tăng lên nhanh chóng. Sự gia tăng này càng thúc đẩy các hãng
kinh doanh trong lĩnh vực thông tin đầu tư vào việc thu thập, lưu trữ thông tin,
tăng cường việc cải tiến, bổ sung tính năng của các chương trình tìm kiếm nhằm
làm cho người sử dụng dễ dàng tìm kiếm thông tin trên kho dữ liệu khổng lồ
trên toàn hành tinh. Hiện nay, hầu hết những thông tin con người cần đến đều có
thể tìm được trên mạng Internet.
Công nghệ thông tin làm cho người học hứng thú trong giờ học. Ứng
dụng CNTT trong dạy học làm cho các kiến thức của giáo viên luôn sống động,
luôn được cập nhật. Chương trình mô phỏng những hiện tượng tự nhiên khiến
cho người học không chỉ được nhìn thấy một cách trực quan mà còn làm cho
người học có thể tương tác với các hiện tượng đó thông qua máy tính. Thông
18
qua những hoạt động, quá trình nhận thức của người học trở nên tự nhiên, sâu
sắc hơn.
1.4.2. Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động học tập
của học sinh sinh viên
Công nghệ thông tin làm cho quá trình quản lý HS-SV được rõ ràng,
chính xác. Chương trình quản lý HS-SV giúp cho các thông tin về HS-SV luôn
vị chủ động đối phó, thích ứng vơi sự thay đổi của môi trường giáo dục.
1.4.3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong khâu tổ chức công tác đào
tạo
Tổ chức là sự hình thành nên cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong tổ chức với nhau mà nhờ cấu trúc đó, chủ thể
quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách hiệu quả nhất nhằm thực hiện
thành công kế hoạch, tức là đạt được mục tiêu, mục đích mà kế hoạch đã đặt
ra. Khâu tổ chức cần thông tin chính xác, rõ ràng, chân thực. CNTT giúp cho
việc thu thập thông tin nhanh, rõ ràng, chính xác, chân thực. Những thông tin
này giúp cho công tác tổ chức trong QLGD được chính xác, có hiệu quả.
1.4.3.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong khâu chỉ đạo thực hiện kế
hoạch đào tạo
Chỉ đạo là hoạt động điều khiển hệ thống, làm cho hệ thống tiến đến
mục tiêu đề ra. Người quản lý cần nắm được thực trạng của hệ thống đang có
vấn đề gì? Các cấp quản lý ý thức như thế nào về vấn đề đó? Để giải quyết
vấn đề thì cần những nguồn lực nào? Hiện trạng hệ thống đã có những nguồn
lực nào, đã đủ điều kiện để giải quyết vấn đề chưa? Khâu này cần nhiều thông
tin có tính khách quan, trung thực, chính xác, rõ ràng. Thông tin thu được còn
phải được xử lý qua các khâu ước lượng, kiểm định. Thông tin làm cho người
có trách nhiệm nắm được hiện trạng của đơn vị, nắm được vị trí của đơn vị
trong quá trình thực hiện mục tiêu, mục đích đề ra. Việc nắm những thông
tin một cách đầy đủ, trung thực giúp cho người quản lý ra được những quyết
định sáng suốt, đúng đắn, phù hợp với trạng thái của đơn vị, giúp đơn vị đạt
đến mục tiêu với một chi phí thấp nhất.
20
1.4.3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá kết quả
đào tạo
trong công tác đào tạo
Ngày 11 tháng 01 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số
09/QĐ-CP [34] phê duyệt Đề án’’Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005-2010’’, với mục tiêu tổng quát sau:
“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng
cao chất lượng đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu đặc biệt và chú trọng
nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp
và trình độ chuyên môn của của nhà giáo đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự
nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh CNH-HDH đất nước’’. Và đưa ra
các nhiệm vụ chủ yếu: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD. Đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò trách nhiệm của nhà
giáo, cán bộ QLGD có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, trong
sáng về đạo đức, tận tuỵ về nghề nghiệp làm trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng
cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nhân lực’’.
Công tác đào tạo nguồn nhân lực được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi
trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy mạnh CNH–HĐH đòi hỏi
một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật vững vàng, đặc biệt là
đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề. Hằng năm, có trên một triệu thanh niên
bước vào tuổi lao động và có nhu cầu học tập và tìm việc làm. Tâm lý “Phi đại
học bất thành nhân’’ đang dần được khắc phục trong các tầng lớp dân cư. Thực
tế cho thấy rằng, đại đa số thanh niên sau khi học hết bậc phổ thông không vào
được đại học. Và phần lớn trong số họ đã chọn cho mình con đường đến với các
trường nghề nhằm tạo cơ hội cho việc tìm kiếm việc làm. Nhu cầu về học nghề
của thanh niên ngày càng tăng. Cho đến nay, lao động qua đào tạo ở nước ta
chiếm tỷ lệ còn thấp, điều này cho thấy sự bất cập giữa lực lượng lao động có
tay nghề với yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH. Mục tiêu để phấn đấu đến hết
năm 2013 đạt khoảng 45% tỉ lệ lao động qua đào tạo. Để thực hiện mục tiêu
22