Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
Trƣờng đại học sƣ phạm hà nội 2
Khoa hóa học
Bùi thị bến
đề tài:
Tổng hợp polyme ƣa nƣớc
trên cơ sở đồng trùng hợp axit acrylic và acrylamit ứng dụng trong xử
lý môi trƣờng
Khóa luận tốt nghiệp
Chuyên ngành: Hoá Công nghệ - Môi trƣờng
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Khôi
ThS. Trịnh Đức Công
Hà nội - 2009
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
Lời cảm ơn
cơ sở axit acrylic được chú ý nhiều nhất do nó có nhiều ứng dụng khác
nhau. Do vậy vấn đề tiếp tục nghiên cứu và các biến tính trong cấu trúc
polyme được tạo ra thì chắc chắn phạm vi ứng dụng ngày càng lớn.
Nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng polyme ưa nước là một hướng đi
mới trong khoa học vật liệu ở Việt Nam. Đây là một hướng nghiên cứu
đúng đắn do tầm quan trọng của chúng trong nền kinh tế quốc dân nhờ các
tính năng của chúng. Tuy nhiên có rất ít thông tin về nghiên cứu và ứng
dụng các polyme ưa nước.
Từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài: “Tổng hợp polyme ưa nước
trên cơ sở đồng trùng hợp axit acrylic và acrylamit ứng dụng trong xử
lý môi trường”, trong khoá luận này tập chung chủ yếu nghiên cứu tổng
hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit, nghiên cứu các
ứng dụng chúng.
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu động học của quá trình trùng hợp và đồng trùng hợp
của axit acrylic và acrylamit. Từ đó tìm ra điều kiện thích hợp để tổng hợp
polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit.
- Nghiên cứu tương tác của polyme ưa nước và đất sét nhằm nghiên
cứu khả năng sử dụng vật liệu trong nông nghiệp và xử lý môi trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
chọn nguyên liệu ban đầu, phương pháp trùng hợp thích hợp [4, 5].
Tỷ lệ các cấu tử ban đầu có mặt trong sản phẩm nhận được từ quá
trình đồng trùng hợp thay đổi trong giới hạn rộng tuỳ thuộc vào khả năng
hoạt hoá của các monome ban đầu tham gia phản ứng.
Việc xác định khả năng phản ứng của các monome trong quá trình
đồng trùng hợp có ý nghĩa thực tế hàng đầu. Khi biết được điều này có thể
xác định và tính toán được diễn biến của toàn bộ quá trình đồng trùng hợp.
Trước hết, chúng ta xét tới các hằng số đồng trùng hợp và các
phương pháp xác định giá trị số học của chúng.
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
+ Khả năng phản ứng của các monome và các hằng số đồng trùng
hợp.
Phản ứng phát triển
•
•
R1 ’
R1 + M1
•
•
(1)
K11. [R1 ] [M1]
(2)
K12. [R1 ] [M2]
(3)
K21. [R2 ] [M1]
(4)
K22. [R2 ] [M2]
•
•
•
là các gốc phát triển
M1 và M2 là các phân tử monome
K11, K12, K21, K22 là các hằng số tốc độ phản ứng.
Tốc độ tiêu thụ các monome M1 và M2 trong quá trình đồng trùng
hợp được xác định.
-
K 12 [R1 ] [M 2] K 22 [R 2 ] [M 2]
•
•
Trong trạng thái dừng nồng độ của các gốc R1 và R2 có thể xem
gần như không đổi.
•
•
K12. [R1 ] [M2] = K21. [R2 ] [M1]
(8)
Từ (7) và (8):
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
K11
(9)
r1[M1 ] [M 2 ]
(10)
[M1] r 2 [M 2]
r1 = K 11 , r2 = K 22
K 12
K 21
r1, r2 gọi là hằng số đồng trùng hợp.
Khi trùng hợp hai monome, có thể có các tỉ lệ hằng số đồng trùng
hợp sau:
•
•
r1 < 1, r2 > 1, tức là K12 > K11 và K22 > K21, gốc R1 và R2 phản ứng
với M2 dễ hơn với M1.
•
•
r1 > 1 và r2 < 1, tức là K12 < K11 và K22 < K21, gốc R1 và R2 phản
ứng với M1 dễ hơn với M2.
•
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình đồng trùng hợp [4,5]
1.1.2.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nói chung tất cả các phản ứng đồng trùng hợp đều là phản ứng toả
nhiệt, khi tăng nhiệt độ, tốc độ phản ứng tăng và phụ thuộc vào hiệu ứng
nhiệt. Khi nhiệt độ tăng thì làm tăng vận tốc của tất cả các phản ứng hoá
học kể cả các phản ứng cơ sở trong quá trình đồng trùng hợp. Việc tăng
vận tốc quá trình làm hình thành các trung tâm hoạt động và vận tốc phát
triển mạch lớn, do đó làm tăng quá trình chuyển hoá của monome thành
copolyme và đồng thời cũng làm tăng vận tốc của phản ứng đứt mạch dẫn
đến làm giảm trọng lượng phân tử trung bình của copolyme nhận được.
1.1.2.2. Ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào
Khi tăng nồng độ của chất khơi mào, số gốc tự do tạo thành khi
phân huỷ cũng tăng lên dẫn tới làm tăng số trung tâm hoạt động, do đó vận
tốc trùng hợp chung cũng tăng nhưng khối lượng phân tử trung bình của
copolyme tạo thành giảm.
1.1.2.3. Ảnh hưởng của nồng độ monome
Khi tiến hành đồng trùng hợp trong dung môi hay trong môi trường
pha loãng vận tốc của quá trình và trọng lượng phân tử trung bình tăng
theo nồng độ của monome. Nếu monome bị pha loãng nhiều có khả năng
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
xảy ra phản ứng chuyển mạch do đó làm giảm trọng lượng phân tử trung
phân tử được điều chỉnh bởi sự thêm các số lượng khác nhau của 2propanol trong dung môi metanol, trọng lượng phân tử thấp. Tuy nhiên nếu
nồng độ monome ban đầu lớn hơn 10% thì cần lưu ý để tránh phản ứng
không có khả năng điều khiển và hình thành các sản phẩm tan không hoàn
toàn. Polyme có thể được thu hồi nếu cần bằng cách kết tủa và chiết với
metanol hay axeton.
Các chất hữu cơ là dung môi đối với monome có thể được sử dụng
làm môi trường phản ứng. Trong trường hợp này polyme gần như không
tan và kết tủa khi nó tạo thành. Vấn đề sấy không gặp trở ngại gì nhưng
trọng lượng phân tử của polyme được tổng hợp theo cách này có thể thấp.
Polyme cũng có thể được tạo thành bằng cách phân tán monome trong một
hydrocacbon trơ và gia nhiệt bằng chất khơi mào tan trong dung môi hữu
cơ.
1.2.1.2. Trùng hợp nhũ tương
Trùng hợp nhũ tương được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp để sản
xuất sơn, keo dán trong đó sản phẩm chất nhũ hoá được sử dụng trực tiếp.
Trùng hợp nhũ tương cũng được dùng để tổng hợp polyme trợ dẻo bởi vì
hạt rất nhỏ làm bền và chống kết tụ.
Trùng hợp nhũ tương nước trong dầu hay trùng hợp nhũ tương
ngược bao gồm quá trình nhũ hoá dung dịch nước của monome trong pha
hữu cơ kị nước (dầu) chứa chất nhũ hoá nước trong dầu, đồng thể hoá hỗn
hợp để tạo nhũ tương nước trong dầu, loại khí và sau đó trùng hợp
monome trong nhũ tương. Các phân tử chất khơi mào có thể ở trong pha
nước phân tán, trùng hợp huyền phù, hay trong pha hữu cơ liên tục, trùng
hợp nhũ tương. Do quá trình trùng hợp diễn ra trong hạt nên phải truyền
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
Các dữ liệu động học này khá phù hợp với cơ chế trùng hợp đề xuất nhưng
khác với cơ chế trùng hợp nhũ tương truyền thống. Bậc tốc độ gần như
đẳng phân tử đối với monome chứng tỏ sự tham gia trong phản ứng khơi
mào. Điều này cũng giải thích lý do tại sao nhiệt độ trùng hợp thường thấp
khoảng 40oC. Để giải thích cơ chế trùng hợp trong trường hợp này không
thể sử dụng lý thuyết tạo mixen của Smith Ewart vì chất khơi mào không
hoà tan trong pha liên tục mà trong pha phân tán. Do đó, phản ứng khơi
mào bắt đầu trong các giọt phân tán mịn đối với dung dịch nuớc của
monome. Việc giải thích cơ chế trùng hợp thường liên quan đến nhiệt độ
trùng hợp thấp. Phản ứng khơi mào diễn ra trong pha nước và có thể trải
qua giai đoạn phức tạp. Phức amoni pesunfat và acrylamit phân huỷ thành
hai gốc không ghép đôi có khả năng phát triển mạch. Sự hình thành phức
làm tăng cường quá trình phân huỷ của amoni pesunfat ở nhiệt độ thấp.
Quá trình trùng hợp nhũ tương các monome axit acrylic khơi mào pesunfat
diễn ra như trùng hợp dung dịch các hạt nhỏ. Không giống như quá trình
trùng hợp nhũ tương truyền thống, quá trình tạo mầm trong các mixen của
chất nhũ hoá không diễn ra. Bậc tốc độ đối với chất nhũ hoá là do tăng
nồng độ của chất ổn định giống như trong trùng hợp huyền phù hay do
hoạt động ức chế. Sự phát triển của các hạt không diễn ra do khuếch tán
monome mà do va chạm tương hỗ của các hạt trong giai đoạn đầu của quá
trình trùng hợp.
1.2.2. Đồng trùng hợp acrylamit và axit acrylic
Axit acrylic
Axit metacrylic
Axit acrylic
Acrylonitrin
Acrylonitrin
Metacrylonitrin
Acrylamit
Acrylamit
Acrylamit
Metacrylamit
Natri styren sulfonat
n-Butyl acrylat
n-Butyl acrylat
N,N-dimetyl acrylamit
n-Butyl acrylat
n-Butyl metacrylat
Dung môi
r1
r2
nước
nước
khối
nước
nước
axeton
1,07
3,67
0,50
0,35
1,2
Hầu hết tất cả các monome vinyl phân cực liên hợp thì dễ dàng
copolyme hoá với acrylamit và dẫn xuất. Copolyme hoá của acrylamit với
các monome khác không có vấn đề gì đặc biệt, cả hai phương pháp gián
đoạn và liên tục nói chung được sử dụng theo những kỹ thuật thích hợp
hơn để loại trừ monome dư.
Sự ghép của các monome trong sự có mặt của acrylamit lên các vật
liệu khác thì cũng được tiến hành nhằm thay đổi những tính chất cơ bản
của vật liệu [14]. Quá trình ghép này cũng xảy ra theo cơ chế gốc tự do, có
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
thể tạo thành một hỗn hợp sản phẩm bao gồm các monome dư, copolyme
ghép, homopolyme...
Polyme đồng nhất và chất đồng trùng hợp của acrylamit (AA) và axit
acrylic (AAC) được tổng hợp bởi phương pháp kỹ thuật riêng phản ứng
trùng hợp dung dịch gốc tự do. Tỷ lệ nạp liệu các monome khác nhau
(m/m) của acrylamit và axit acrylic, đối với sự tổng hợp của chất đồng
ổn định hơn axit acrylic bởi vì có sự phân bố điện tích đối xứng nhiều hơn.
Mặt khác khi so sánh ba dạng cộng hưởng khác có thể có của axit acrylic
và acrylamit, hiển nhiên acrylamit thì cộng hưởng ổn định hơn axit acrylic,
mà axit acrylic có một dạng cộng hưởng mang điện tích dương trên oxi
tích điện âm. Vì vậy ảnh hưởng của chất thay thế trên liên kết đôi trong
monome để làm tăng khả năng phản ứng là:
COONH2 ~ COO– > COOH
_
O
O
+
CH2–CH=C
CH2=CH–C
CH2=CH–C
OH
OH
O
O
CH2=CH–C
CH2–CH=C
CH2=CH–C
+
OH
_
O
O
O
CH2=CH–C
+
NH2
NH2
Tương tự như thế khả năng phản ứng của một gốc polyme được xác
định bằng phần tử thay thế trong gốc, phần tử thay thế làm tăng khả năng
phản ứng của liên kết đôi và làm giảm khả năng phản ứng của gốc. Ảnh
hưởng của tác nhân thay thế đến sự giảm khả năng phản ứng của một gốc
lớn hơn ảnh hưởng của nó trên sự tăng khả năng phản ứng của monome
tính toả nhiệt của quá trình trùng hợp. Quá trình trùng hợp thu được
copolyme chứa 13% mol các đơn vị ionic. Để tăng hàm lượng đơn vị này
lên 30-35%, khối phản ứng sau khi trùng hợp được giữ ở nhiệt độ cao
trong 4-20 giờ.
Copolyme acrylamit-natri acrylat với hàm lượng đơn vị natri acrylat
30% mol và M = 12.106 có thể được tổng hợp nhờ quá trình trùng hợp
chiếu xạ acrylamit có mặt natri hydroxit và axit boric [41]. Trùng hợp
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
acrylamit trong các dung dịch 20-50% có mặt hỗn hợp đệm (pH>12) dưới
hoạt động của bức xạ ion hoá (60Co) và khơi mào hoá học có thể thu được
copolyme acrylamit-natri acrylat thành phần khác nhau. Với nồng độ
NaOH thấp, quá trình thuỷ phân thành phần muối của hỗn hợp đệm làm
tăng hàm lượng kiềm trong hỗn hợp phản ứng và không thể kiểm soát
thành phần của copolyme tạo thành.
* Trùng hợp acrylamit trong dung dịch đặc sau đó thuỷ phân
monome: Acrylamit được trùng hợp hay đồng trùng hợp với các vinyl
monome trong dung dịch 10% khi có mặt của chất khơi mào gốc và thu
được khối copolyme nhớt được xử lý bằng kiềm ở 50-90oC [19, 33]. Trong
các trường hợp khác, quá trình trùng hợp được tiến hành trong dung dịch
10-50%, chủ yếu dưới điều kiện đoạn nhiệt. Để thuận lợi cho quá trình
thuỷ phân, khối polyme nhớt được xử lý sau khi trùng hợp trong máy ép
đùn để thu được các hạt có kích thước 0,2-2,0 cm, và các hạt nhận được
[38]. Điều này biểu thị ảnh hưởng của nhóm bên cạnh cũng như các hiệu
ứng tĩnh điện, cấu hình và nồng độ ảnh hưởng tới động học của quá trình
chuyển hoá hoá học của polyme và cấu trúc sản phẩm tạo thành. Với các
yếu tố được xem xét, có thể tiến hành quá trình thuỷ phân có kiểm soát
PAM và tổng hợp các sản phẩm có đặc trưng phân tử cũng như tính chất
khác nhau.
* Thuỷ phân polyacrylamit trung dung dịch khi có mặt của tác nhân
phân huỷ: Thuỷ phân polyacrylamit trong môi trường kiềm khí có mặt một
lượng tối thiểu tác nhân phân huỷ rất thích hợp để kiểm soát thành phần
hoá học và khối lượng phân tử của sản phẩm tạo thành. Phản ứng được tiến
hành ở 30-70oC trong dung dịch polyacrylamit 2,4% với khối lượng phân
tử 3.106 có mặt của tác nhân phân huỷ K2S2O8. Quá trình thuỷ phân được
theo dõi bằng phương pháp đo điện thế [21] và quá trình phân huỷ được
xác định bằng phương pháp đo độ nhớt. Đưa K 2S2O8 vào và tăng nồng độ
của nó không ảnh hưởng tới quá trình thuỷ phân mà thường đi kèm với quá
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
trình làm giảm khối lượng phân tử của đại phân tử [22, 25]. Khi không có
NaOH quá trình thuỷ phân không diễn ra trong khi đó nếu tăng nồng độ
NaOH, quá trình thuỷ phân trở nên nhanh hơn. Tăng nhiệt độ cũng ảnh
hưởng tương tự tới quá trình phân huỷ. Trong khoảng nhiệt độ 30-70oC,
năng lượng hoạt hoá của quá trình thuỷ phân kiềm polyacrylamit khi có
mặt của tác nhân phân huỷ là khoảng 46,3 kJ/mol. Các nghiên cứu cũng
H2SO5 + H2O
H2O2 + H2SO4
(13)
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
Trong môi trường kiềm, trung tính và axit loãng thì pesunfat bị phân
huỷ theo phản ứng (11) còn môi trường axit mạnh thì xảy ra theo phản ứng
(12), (13). Bậc của phản ứng phân huỷ pesunfat trong nước là bậc nhất và
phản ứng này được xúc tác bởi ion H+. Người ta đã chứng minh rằng trong
môi trường kiềm và nước thì pesunfat phân huỷ nhiệt tạo thành gốc tự do
ion pesunfat và năng lượng hoạt hoá của quá trình này là 35,5 kcal/mol.
I. M. Kolhoff, I. K. Miller [20] đề nghị cơ chế đối với sự phân huỷ
nhiệt của pesunfat trong dung dịch nước.
A. Phản ứng không dùng xúc tác:
2
S2 O 8
HS2 O8
HSO 4 + SO4
SO3 + 1/2 O2
(17)
(18)
C. Trong axit mạnh:
SO4 + H2O
H2SO5
(19)
Đối với phản ứng không dùng xúc tác người ta cho rằng HSO 4
phân huỷ nhiệt đối xứng tạo hai ion gốc SO 4 . Còn đối với trường hợp có
xúc tác H+, do ảnh hưởng của ion này SO 4 phân huỷ không đối xứng
chuyển cả hai electron của liên kết O–O đến một phân tử để tạo thành
tetraoxit lưu huỳnh và ion bisunfat.
sống của con người ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống và sức khoẻ của con người, trong đó, trước hết phải kể đến môi
trường nước và không khí. Những năm gần đây, người ta sử dụng các vật
liệu polyme tự nhiên hoặc nhân tạo để gây ra sự keo tụ, ổn định đất, dùng
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
trong việc xử lý nước sạch, vật liệu chống xói mòn, vật liệu chống bụi,...
Trong các vật liệu đó hiện nay trên thế giới thì polyacrylamit và copolyme
của nó chiếm một tỷ trọng lớn [7, 26, 36].
Các polyme tan trong nước trên cơ sở polyacrylic, polyacrylamit hay
các copolyme của nó hoạt động như chất keo tụ cho nhiều loại vật liệu
phân tán. Khi sử dụng polyme mạch thẳng tương đối dài, nó bao quanh
một số hạt vật liệu phân tán mịn riêng lẻ, tự gắn chúng với các hạt ở các vị
trí khác nhau bằng liên kết hoá học, lực hút tĩnh điện hoặc các lực hấp dẫn
khác. Vì vậy các đoàn lạp tương đối bền được tạo ra [17].
Trong lĩnh vực kiểm soát xói mòn, bạc màu đất: Việt Nam là một
trong năm nước ở Đông Nam á có mức độ xói mòn do mưa lụt từ trung
bình đến cực kỳ nghiêm trọng và là một trong 8 quốc gia có xói mòn do
gió ở mức đáng kể [3]. Đã có nhiều biện pháp giảm xói mòn được áp dụng
ở Việt nam, song chỉ dừng lại ở phương pháp trồng theo băng, nông lâm
kết hợp, mương bờ đồng mức, trồng xen cây ngắn ngày, trồng cây phòng
hộ hay cải tạo hệ thống thuỷ lợi. Việc sử dụng polyme ưa nước mới bắt đầu
được biết đến tại Việt Nam. Các copolyme kết hợp với nước tưới là các
nước. Nước là chất chống bụi phổ biến nhất, nhưng nó chỉ giải quyết nhất
thời vấn đề bụi. Sử dụng nước có kết quả trung bình với giá thành tương
đối thấp. Tuy nhiên, cách giải quyết này là không kinh tế, để đạt lợi ích dài
hạn dưới dạng áp dụng lại cần thiết phải sử dụng thiết bị đắt tiền và thường
phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Khi sử dụng nước tưới có chứa các
polyme ưa nước dạng không liên kết ngang có thể làm giảm bụi phát sinh
nhờ thay đổi tính chất vật lý của bề mặt đất và nó có thể bao quanh và bám
dính các hạt bụi liền kề, vì vậy khó phá vỡ chúng; hút và giữ ẩm từ không
khí để giữ độ ẩm bề mặt; bám dính và gắn kết các hạt đất; đóng vai trò như
chất phân tán clay để làm clay dẻo hơn; và làm kết tụ các hạt mịn [12].
Các polyme được dùng trong công nghệ xử lý nước thường là các
polyelectroly. Phụ thuộc vào bản chất của nhóm phân ly mà chúng tồn tại ở
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá: 2005 - 2009
Bùi Thị Bến
Tổng hợp polyme ưa nước trên cơ sở axit acrylic và acrylamit…
dạng cation, anion, nonion. Khi có chất điện ly trong dung dịch thì có thể
kìm hãm hoặc xúc tiến quá trình keo tụ bằng polyme [1].
Tác dụng keo tụ của polyme là tạo được cầu nối giữa hai hay nhiều
hạt huyền phù do lực hấp phụ có tính cộng hợp nên tương tác giữa polyme
và hạt huyền phù rất tốt. Quá trình hấp phụ của một phân tử polyme có thể
xảy ra ở mọi vị trí của một hạt hoặc các vị trí của các hạt khác và lực tương
tác giữa chúng có đủ năng lượng vượt quá lực đẩy tĩnh điện của các hạt
[1]. Ngoài ra tương tác đặc thù giữa polyme với các hạt huyền phù còn xảy
ra giữa các nhóm chức của polyme với các trung tâm hoạt động trên bề mặt
(TQ),
C = 99%
Axit acrylic (TQ), d = 1,045, C = 99%
Amoni pesunfat (TQ)
ống chuẩn Na2S2O3 0,1 N
KI (TQ)
Metanol (TQ)
Dioxan (Anh), và một số loại dung môi và hóa
chất khác...
2.1.3. Thc nghim
2.1.3.1. Đồng trùng hợp axit acrylic và acrylamit
Chuẩn bị 100 ml dung dịch phản ứng 0,5 M gồm
axit acrylic, acrylamit và n-ớc cất vào cốc thuỷ
tinh 250 ml, lắc đều cho tan hoàn toàn, tỷ lệ axit
Khoỏ lun tt nghip
Khoỏ: 2005 - 2009