Chương VI TỔ CHỨC PHỤC VỤ KỸ THUẬT CHO HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP
6.1. CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT XÂY DỰNG
6.1.1 Khái niệm
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành xây dựng: Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành xây dựng
là sản phẩm của ngành công nghiệp VLXD và của các ngành khác có liên quan đến hoạt động
của ngành XDCB. Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành xây dựng nói chung và XDGT phụ thuộc
trực tiếp từ năng lực, trình độ phát triển lực lượng sản xuất của đất nước, đặc biệt từ ngành công
nghiệp VLXD (như sản xuất xi măng), cơ khí luyện kim, khai thác chế biến gỗ. Vì vậy, những
tiến bộ và sự phát triển của các cơ sở vật chất của ngành xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động cung ứng vật tư kỹ thuật của các doanh nghiệp XDGT.
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng:
Cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng là hệ thống các cơ sở khai thác, gia
công, chế tạo, sản xuất vật liệu, bán thành phẩm, chi tiết, cấu kiện... cho việc xây dựng các công
trình và các xí nghiệp sửa chữa, vận tải phục vụ các hoạt động xây lắp.
Cơ sở vật chất kỹ thuật là tiền đề kinh tế quan trọng để đẩy mạnh hoạt động xây dựng; chỉ có
làm cho nhịp điệu phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật vượt nhịp điệu gia tăng khối lượng công
tác xây lắp mới có thể đẩy mạnh được nhịp điệu xây dựng. Do tác động của TBKHKT, của nền
kinh tế hội nhập với khu vực và thế giới, hoạt động sản xuất xây lắp của các DNXDGT phải tuân
thủ các quy trình có tính phổ biến của khu vực và thế giới. Do đó khi phát triển và hoàn thiện cơ
sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng, cần có sự phù hợp và hoà nhập về tiêu
chuẩn trong sản xuất sản phẩm.
6.1.2.
xây dựng
Nguyên
tắc
phát
+ Tăng cường sửa chữa tập trung máy thi công (phải tôn trọng nguyên tắc quản lý theo
ngành và lãnh thổ) khi lập dự án phát triển các cơ sở sản xuất; tức là phải tính đến chuyên môn
và hợp tác, liên kết liên doanh trong ngoài ngành giữa các cơ sở của các Bộ khác và địa phương,
sao cho đạt được hiệu quả cuối cùng cao nhất.
+ Bố trí các cơ sở vật chất kỹ thuật có thể phục vụ cho nhiều vùng (liên vùng) là những
doanh nghiệp của ngành hoặc phục vụ cho một vùng là doanh nghiệp của TCT, thậm chí có xí
nghiệp chỉ phục vụ cho một công trình; sau khi xong, công trình cần được hoàn thiện để duy trì
hoạt động thường xuyên, nhưng phải tính đến diện hoạt động thay đổi. Trong XDGT, cần bố trí
các xí nghiệp và chọn các mỏ vật liệu gần mạng lưới giao thông để giảm chi phí vận chuyển, cần
kết hợp thật tối ưu các cơ sở cố định và di động. Khuynh hướng phổ biến và quan trọng để hoàn
thiện tổ chức phục vụ kỹ thuật là giải phóng các tổ chức xây lắp khỏi hoạt động này. Điều này
chỉ có thể giải quyết có hiệu quả ở phạm vi ngành, nghĩa là phải tính đến tập trung, chuyên môn
và hợp tác hoá giữa các đơn vị trên phạm vi toàn ngành. Cần chú ý xác định năng lực của các cơ
sở sản xuất vật liệu, cấu kiện và phải dựa trên việc sử dụng quỹ thời gian lớn nhất khi khai thác
máy móc thiết bị, tức là theo chế độ (2 hay 3 ca).
Cơ sở vật chất kỹ thuật của xây dựng
Các ngành công nghiệp
Công
nghiệp
VLXD
Chế
tạo
thép
Chế
tạo
máy
móc
Các
XN và
tổ
chức
khác
có liên
quan
Bảo
dưỡng
sửa
chữa
phục
hồi
Các đối tượng xây dựng
Cơ sở vật chất kỹ thuật của các TCXD
Các
nhà
máy XN
chế
biến
SXVL
cấu
kiện
XN
chế
tạo
dụng
cụ,
sửa
chữa
6.2. TỔ CHỨC QUẢN LÝ MÁY THI CÔNG
6.2.1. Cơ giới hoá tổng hợp các quá trình xây lắp và hiệu quả sản xuất kinh doanh của
nhà thầu
Trong nền kinh tế cạnh tranh và hội nhập, ngành XDGT thường xuyên tiếp nhận ứng dụng
các tiến bộ kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, các nhà thầu tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ
bằng các trang thiết bị hiện đại, máy móc thi công có công suất lớn (cả về số lượng và chủng
loại). Điều này không chỉ để thực hiện các dự án lớn mà ngay cả ở các công trình nhỏ ở thị
trường xây dựng giao thông nông thôn (ở đây, các cầu nông thôn ngày nay cũng là các loại kết
cấu hiện đại được sản xuất và lắp đặt theo công nghệ mới, nhẹ, đẹp và rẻ hơn) các đơn vị thi
công cũng phải đổi mới công nghệ cho phù hợp với thị trường. Tình hình trên cho thấy những
biến đổi liên tục về lực lượng sản xuất của các nhà thầu. Nhờ vậy đã làm thay đổi các chỉ tiêu
kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất xây dựng và mang lại hiệu quả cả cho nền kinh tế và cho doanh
nghiệp. Đó là tiết kiệm được vốn đầu tư xây dựng, rút ngắn được tiến độ thi công, hạ giá thành,
cải tiến được chất lượng, tăng năng suất lao động và thu nhập cho người lao động. Mức độ cơ
giới hoá càng cao thì chi phí máy trong giá thành càng lớn. Do đó, sử dụng hiệu quả các tài sản
cố định này là một hướng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà thầu, chủ động giảm
thời hạn xây dựng, giảm chi phí sản xuất và cải tiến được chất lượng xây dựng. Đối với các hợp
đồng XD của các dự án có quy mô vừa và lớn, việc đề xuất các thiết bị của nhà thầu là mối quan
tâm đối với CĐT, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của nhà thầu. Có nhiều giải pháp để
tăng cường máy thi công như: tự đầu tư; thuê mua, vay mua... Cần phải tính toán cân nhắc để
chi phí khai thác thường xuyên.
Chi phí một lần là chi phí trước khi khai thác máy ở công trình được xác định:
C=Cvc +Ct +Cxd+C#
trong đó:
Cvc: chi phí vận chuyển máy tới công trường và vị trí khác
Ct: chi phí tháo dỡ máy
Cxd: chi phí xây dựng phụ tạm
C#: chi phí khác
Chi phí theo năm là chi phí khấu hao cơ bản và sửa chữa lớn.
Chi phí thường xuyên là chi phí sửa chữa, mua sắm phụ tùng nguyên liệu, năng lượng, vật
liệu bôi trơn, chi phí cho cán bộ quản lý và bảo quản máy. Muốn quản lý giá thành và giảm chi
phí ca máy, phải chú ý giảm các loại chi phí này.
6.2.2.2. Phân chia trách nhiệm trong khai thác máy thi công
Có thể hình thành các đơn vị thi công cơ giới độc lập hoặc trực thuộc các doanh nghiệp xây
dựng. Ngày nay ở các TCTXDGT, các máy móc hiện đại, đặc chủng, thiết bị siêu trường siêu
trọng được tập trung về các doanh nghiệp trực thuộc TCT và chuyên một cách trực tiếp thi công
các công trình, hoặc cho thuê máy theo yêu cầu của khách hàng. Hình thức này có ưu điểm là tập
trung được lực lượng cán bộ và công nhân lành nghề, tận dụng được các cơ sở vật chất, dễ triển
khai thực hiện áp dụng TBKT và tích luỹ được kinh nghiệm quản lý.
Trường hợp máy thi công trực thuộc các doanh nghiệp xây dựng thì có ưu điểm là doanh
nghiệp chủ động được điều phối xe máy; nhược điểm là công tác bảo dưỡng sửa chữa bị hạn chế,
sử dụng máy tuỳ tiện, lãng phí, tuổi thọ máy thấp... Trong quan hệ với đơn vị thi công cơ giới,
mọi tính toán liên quan đến khai thác xe máy phải dựa trên khối lượng công tác được nghiệm thu
theo giá dự toán và tính đến các tỉ lệ gián tiếp cho đơn vị thi công cơ giới; tất cả phải được thể
hiện trong hợp đồng. Đơn vị có máy phải tiến hành bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa và đưa máy tới
công trình sẵn sàng thi công. Muốn sửa chữa máy phải theo tiến độ đã được thông báo trước.
Đơn vị xây lắp phải đảm bảo diện công tác và chịu trách nhiệm lãnh đạo tác nghiệp chung trên
công trường; muốn xử lý, truyền tin về hoạt động của máy thi công (như hoàn thành tác nghiệp,
gian làm việc của máy, tăng sản lượng ca máy và cải tiến chất lượng thi công. Chủ động sửa
chữa dự phòng theo kế hoạch sẽ giảm được thời gian và chi phí sửa chữa.
6.2.3.2. Các hình thức bảo dưỡng và sửa chữa máy thi công
- Phục vụ khai thác. Đó là hoạt động cung cấp đảm bảo nhiên liệu cho máy hoạt động; di
chuyển máy đến công trình khác đảm bảo có đủ các dụng cụ, tạo điều kiện tốt phục vụ cho vận
hành và tiến hành trông nom bảo quản máy thi công.
- Bảo dưỡng máy thi công. Đó là các hoạt động bôi trơn, kiểm tra xem xét cơ cấu máy do thợ
điều khiển làm trước, trong và sau khi máy công tác. Chú ý mỗi máy có yêu cầu, quy trình bảo
dưỡng khai thác riêng.
- Sửa chữa thường xuyên. Nhằm kiểm tra trạng thái kỹ thuật, gia cố điều chỉnh, tăng cường
các chi tiết máy để loại bỏ các hư hỏng cục bộ; sửa chữa thường xuyên được tiến hành ở các bãi,
xưởng thợ và không tháo máy ra khỏi bệ. Các hoạt động trên đây đều chi từ vốn lưu động.
- Sửa chữa lớn (đại tu) xe máy. Là sửa chữa khôi phục toàn bộ các bộ phận chủ yếu của máy
và thay thế các bộ phận mòn nhiều nhất; sửa chữa máy cho phù hợp với các điều kiện kỹ thuật khai
thác bình thường của nó. Sửa chữa lớn chỉ tiến hành sau khi có ý kiến của hội đồng kiểm tra ở doanh
nghiệp. Thời gian giữa hai kỳ sửa chữa lớn là chu kỳ sửa chữa. Trình tự, thời gian, khối lượng lao
động cho sửa chữa phụ thuộc vào dạng máy và độ phức tạp của máy.
Máy bảo dưỡng cấp I cấu trúc không phức tạp lắm. Ví dụ: trục kéo, rơ moóc.
Máy bảo dưỡng cấp II cấu trúc tương đối phức tạp như cầu trục tháp.
Máy bảo dưỡng cấp III là máy phức tạp như máy đào đất, máy ủi.
Kết cấu của kế hoạch bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa máy gồm: kế hoạch khai thác và tiến
độ sửa chữa lớn; kế hoạch khai thác tháng và sơ đồ bảo dưỡng kỹ thuật. Muốn lập được kế hoạch
bảo dưỡng sửa chữa, phải nắm được kết cấu chu kỳ sửa chữa, định mức thời gian sửa chữa và
tình trạng của máy.
6.3. CÁC BIỆN PHÁP TỔNG HỢP CẢI TIẾN SỬ DỤNG MÁY THI CÔNG
6.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá trình độ sử dụng máy thi công
Trước hết, cần cải tiến thời gian làm việc của máy bằng cách bố trí sơ đồ vận hành hợp lý,
giảm thời gian máy không tải. Để đánh giá trình độ sử dụng thời gian làm việc của máy, sử dụng
hệ số K1:
máy thi công; phải nâng cao trình độ tổ chức khai thác máy cho phù hợp với trình độ phát triển
sản xuất xây dựng và TBKT trong lĩnh vực SXXD. Ví dụ sơ đồ điều phối máy thi công - biểu đồ
công tác một số thiết bị của doanh nghiệp xây dựng giao thông trong năm kế hoạch.
Thời kỳ làm
việc
Các quý
TT
1
2
3
Các công trình
Cầu A
Cầu cảng X
Sân bay
I
II
III
IV
Bắt
đầu
Tính Qn theo từng loại vật liệu chủ yếu.
+ Xác định địa điểm xuất và nhập hàng (tìm luồng hàng):
Cần lập bảng thể hiện khối lượng vật tư phải vận chuyển và các điểm cung cấp dưới dạng
bảng.
Nơi tiêu
dùng
Nơi cung
cấp
1
2
3
4
Công trình
A
Công trình
B
Công trình
C
Tổng cộng
Tổng cộng
Lựa chọn tính toán phương tiện vận chuyển:
• Chọn sơ bộ: Căn cứ vào mạng lưới đường cụ thể có sẵn và xét đến đặc điểm kinh tế của
từng loại vận chuyển mà quyết định trực tiếp chọn loại phương tiện cho thích hợp. Ví dụ, ở cự ly
Ntb = Nôtô/K
K là hệ số sử dụng trạm xe
+ Tổ chức vận chuyển:
• Đối với đường sắt:
Yêu cầu phải giải phóng toa xe nhanh nhờ tăng cường cơ giới hoá bốc dỡ, tăng cường chạy
tàu có tải, tổ chức tàu chạy suốt (không thay lập đoàn tàu).
• Đối với ô tô:
Cần nâng cao chất lượng của hợp đồng quan hệ giữa đơn vị xây lắp và đơn vị vận tải. Tối ưu
hoá kế hoạch vận chuyển và cấu trúc phương tiện vận chuyển cho phù hợp nhu cầu phong phú
của chủng loại sản phẩm.
Thường xuyên cải tiến kế hoạch tác nghiệp, chọn phương tiện hợp lý, sơ đồ vận chuyển tối
ưu, bố trí hợp lý các cơ sở khai thác, sản xuất, gia công và loại đường vận chuyển kinh tế nhất.
6.5. TỔ CHỨC CUNG ỨNG VẬT TƯ KỸ THUẬT CHO XÂY DỰNG
6.5.1. Vị trí, nhiệm vụ cung ứng vật tư kỹ thuật cho xây dựng
XDGT chỉ có thể tiến hành được khi có sự cung cấp, đảm bảo được các đầu vào (đối tượng
lao động) cho các quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng.
Cung cấp VTKT là một trong những khâu quan trọng nhất của hoạt động xây dựng. Tổ chức
tốt cung ứng VTKT sẽ góp phần cải tiến được các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong hoạt động kinh
doanh của nhà thầu, vì chi phí vật tư là yếu tố chủ yếu cấu tạo nên giá thành công trình (chiếm
tới 70-80% giá thành công tác xây lắp). Muốn giảm được chi phí vật liệu phải tổ chức hợp lý
việc cung cấp VTKT; ngược lại sẽ gây tổn thất chi phí vật tư, làm tăng giá thành công trình. Mối
quan hệ ảnh hưởng của các nhân tố tới chi phí vật liệu được thể hiện:
Khoản mục vật liệu
Giá vật liệu
Sử dụng và tiết kiệm số lượng vật liệu
Tổ chức vận chuyển, bảo quản vật liệu
Sử dụng các vật liệu hiệu quả
phán với người cung cấp; xác định khối lượng vật liệu và khoảng cách mỗi đợt cung cấp.
+ Xây dựng được định mức dự trữ hợp lý cho sản xuất.
Xác định vật tư dự trữ cho sản xuất phải căn cứ vào cường độ tiêu hao vật liệu trong một
ngày đêm, tình hình cung cấp trước đây, khả năng lỡ hẹn. Xác định vật tư dự trữ không chính xác
thì hoặc là bị ngừng sản xuất (nếu dự trữ thiếu), hoặc khê đọng vốn nếu dự trữ quá mức. Có 3
loại dự trữ: dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm và dự trữ chuẩn bị.
● Dự trữ thường xuyên là lượng vật tư cần thiết để đảm bảo thi công liên tục trong thời gian
giữa hai kỳ cung cấp cách nhau theo hợp đồng.
Dtx =Vnđ. Ttx
Dtx - lượng vật tư dự trữ thường xuyên
Vnđ - lượng vật tư tiêu hao bình quân trong một ngày đêm
Ttx - thời gian dự trữ thường xuyên (khoảng cách giữa 2 kỳ cung cấp).
● Dự trữ bảo hiểm là lượng vật liệu cần thiết để đảm bảo thi công liên tục trong trường hợp
có khó khăn về vận chuyển, người cung cấp lỡ hẹn.
Dbh =Vnđ. Tbh
Dbh - lượng dự trữ bảo hiểm
Vnđ - lượng vật tư tiêu hao bình quân trong một ngày đêm
Tbh - thời gian dự trữ bảo hiểm, thường lấy theo kinh nghiệm.
● Dự trữ chuẩn bị là lượng vật liệu cần thiết để đảm bảo cho thi công liên tục trong trường
hợp có một loại vật liệu nào đó trước khi sử dụng phải có một thời gian sơ chế như ngâm tẩm,
sơn mạ…
Dcb =Vnđ. Tcb
Dcb là lượng vật liệu dự trữ chuẩn bị
Vnđ là lượng vật tư tiêu hao bình quân trong một ngày đêm
Tcb là thời gian dự trữ chuẩn bị, tuỳ thuộc vào loại vật liệu cụ thể mà quy định.
Dsx = Dtx + Dbh + Dcb
Dsx = Vnđ(Ttx + Tbh + Tcb)
Lượng dữ trữ thường xuyên luôn biến động.
● Kho trung tâm để cất chứa, bảo quản nhiều chủng loại vật liệu, dụng cụ dùng cho nhiều
điểm thi công.
● Kho công trình dùng để tập kết bảo quản vật liệu có khối lượng lớn, dùng trực tiếp cho công
trình như: cát, đá, cấu kiện bê tông. Cần xác định chính xác khối lượng vật liệu sẽ phải đưa đến công
trình.
● Kho của các xưởng gia công dùng để cất chứa nguyên vật liệu, cũng như bảo quản thành
phẩm có liên quan đến hoạt động của xưởng.
- Phân theo hình thức bảo quản bao gồm:
● Kho lộ thiên: Nhằm để bảo quản vật liệu không chịu ảnh hưởng của thời tiết, loại kho này
chỉ cần gia cố nền, bãi, ví dụ để bảo quản cát, đá, sỏi. Khi cần tăng sức chứa của kho chỉ cần xây
thêm tường bao.
● Kho bán lộ thiên: Là loại kho có mái che để bảo quản vật liệu, kết cấu không chịu ảnh
hưởng trực tiếp của mưa nắng như bảo quản gỗ.
● Kho kín và kho chuyên dùng: Để bảo quản các loại vật liệu quý và chuyên dùng như nhiên
liệu, xi măng. Xác định chính xác khối lượng vật liệu và phân loại cho phù hợp với các kiểu kho
bãi là biện pháp chủ động, có hiệu quả để giảm chi phí vật tư.
+ Tính toán diện tích kho bãi:
Tính diện tích có ích của kho bãi:
S1 = Q/P
Trong đó:
Q - khối lượng vật liệu cất chứa tại kho bãi.
P - lượng vật liệu trên 1m2.
Diện tích tính đến diện tích phụ, như đường đi trong kho được tính theo:
S2 = α.S1(m2)
Trong đó:
S1 - diện tích có ích;p
α - hệ số sử dụng mặt bằng.
Tính được diện tích kho, phải xác định chiều dài tuyến bốc xếp, lựa chọn kiểu kho xây dựng