Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn phường thanh xuân bắc, quận thanh xuân, thành phố hà nội - Pdf 31

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

NGUYỄN THỊ THU

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG
THANH XUÂN BẮC, QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

HÀ NỘI - 2015


2

MỤC LỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Một số văn bản chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.....1
Phục lục 2: Phiếu điếu tra xã hội học công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ
sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc..............................................2
Phụ lục 3: Một số hình ảnh.......................................................................3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, văn hóa đã trở thành một trong những mối
quan tâm lớn nhất của các quốc gia trên thế giới. Nó được coi là một nhân tố
có tính quyết định tình bền vững của một quốc gia, dân tộc. Ở Việt Nam, với
mục tiêu phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết
Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998 của Đảng đã nêu “Văn hóa vừa là nền
tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế- xã hội. Chính vì vậy xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đang được

- Trần Văn Bính (chủ biên) (2000), Lý luận và đường lối văn hóa văn
nghệ của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách khẳng định văn
hóa là lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần của xã hội nhưng vẫn chịu sự quy
định của những quy định chung và đều hướng tới những chuẩn mực cụ thể;
đi sâu nghiên cứu đường lối chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước và
những biện pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đề ra.
PGS.TS Nguyễn Duy Bắc (chủ biên) (2008), Xây dựng và phát
triển con người Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tế”, Đề tài cấp Bộ, Viện Văn hóa và Phát triển, Hà
Nội. Đề tài đã đi sâu phân tích các nội dung và mục tiêu chủ yếu của quá
trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế trí thức và yêu cầu
phát triển con người Việt Nam hiện nay. Phân tích, đánh giá thực trạng phát
triển con người Việt Nam thời kỳ từ 1991 đến nay về các mặt chủ yếu: Phát
triển con người, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân
tài, đào tạo đội ngũ trí thức; xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nông
dân, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, đội ngũ doanh nhân; thực hiện các
chính sách xã hội; đảm bảo các quyền con người. Từ đó đề ra phương
hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng, phát triển con người Việt
Nam trong điều kiện CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trong
những thập niên đầu thế kỷ XXI.
- Phan Trọng Thưởng (chủ biên) (2010), Xây dựng con người và phát
triển văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế - Quan
điểm, giải pháp đến năm 2020, Đề tài cấp Nhà nước, Viện Nghiên cứu Văn
hóa, Hà Nội. Đề tài đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá các nhân tố tác động
tích cực và tiêu cực đến việc xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt
Nam trong bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc
tế, chỉ ra mức độ, phạm vi, tính chất của từng yếu tố. Trên cơ sở đó, đề tài đã
đánh giá thực trạng bao gồm cả thành tựu lẫn hạn chế, phân tích rõ nguyên

đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Nxb Từ Điển Bách khoa và Viện văn
hóa, Hà Nội. Nguyễn Hữu Thức (2008), Những giải pháp thúc đẩy phong
trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đưa Kết luận Hội nghị
Trung ương 10 (khóa IX) về văn hóa đi nhanh vào cuộc sống, Ban Tuyên
giáo Trung ương.
2.2. Các công trình nghiên cứu công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ
sở
Nguyễn Tấn Đức (2008), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại Quận
Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn khoa Văn hóa học, trường Đại


6

học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội. Luận văn đã trình bày một cách
khái quát những vấn đề cơ bản về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa,
thiết chế văn hóa ở cơ sở. Nêu một cách có hệ thống về nhận thức, đường
hướng các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; đồng thời cũng
trình bày cụ thể các hoạt động đặc trưng của quá trình xây dựng đời sống văn
hóa ở cơ sở tại quận Tân Phú cũng như những kết quả đạt được của các hoạt
động ấy. Trên cơ sở đó tác giả đã tiến hành nhận xét và đề xuất các nhóm giải
pháp xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên Quận Tân Phú, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Lương Thị Nga (2009), Quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở
sở ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Th.s
Quản lý văn hóa, Trường Đại học Văn hóa, Hà Nội. Luận văn đã làm rõ cơ
sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn ở ở sở. Khảo
sát, đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý hoạt động xây
dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Tiền Hải, Thái Bình trong những năm
qua, tìm nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế. Luận văn đã bước đầu đề
xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

hóa cơ sở nói chung và công tác xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình, làng,
bản, khối phố, cơ quan, đơn vị có nếp sống văn hóa ở huyện Nam Đàn từ
năm 2006 đến 2013. Từ đó đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao công
tác xây đựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Nam Đàn trong giai đoạn hiện
nay.
Nguyễn Phương Thủy (2014), Đảng bộ huyện Thanh Oai (Hà Nội), lãnh
đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010, Luận văn
Th.s chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, trường Đại học khoa
học xã hội và nhân văn, Hà Nội. Tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng đời
sống văn hóa ở huyện Thanh Oai trước năm 2001. Làm rõ chủ trương của
Đảng bộ huyện Thanh Oai trong lãnh đạo xây dựng Đời sống văn hóa
(ĐSVH). Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và những tồn tại, hạn chế
trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của huyện Thanh Oai, luận văn
rút ra một số ý nghĩa, bài học kinh nghiệm và giải pháp đối với việc xây
dựng đời sống văn hóa cơ sở của huyện Thanh Oai.
Bên cạnh đó, một số cuốn sách và công trình khoa học cũng đề cập đến
vấn đề văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở như: Cuốn “Xây dựng
đờ isống văn hóa ở cơ sở” của Viện Văn hóa- Bộ Văn hóa, Nxb Văn hóa Hà
Nội(1984); Cuốn “Hỏi và đáp về phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa” của Ban chỉ đạo phong trào “TDĐKXDĐSVH” Trung
ương(2000); Cuốn “Xây dựng tư tưởng, đạo đức lối sống và đời sống văn
hóaở Thủ đô Hà Nội” của TS.Nguyễn Viết Chức và các tác giả, Viện văn hóa
và Nxb Văn hóa thông tin(2001)…
Ngoài ra còn có các bài viết, bài báo, luận văn, luận án đề cập đến vấn đề
công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Những kết quả đó có giá trị tham
khảo tốt để tác giả thực hiện đề tài luận văn của mình.


8


Bắc
- Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác xây dựng đời
sống văn hóa cơ sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc trong phạm vi từ
năm 2010 cho đến nay


9

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng và đề xuất những giải pháp
để quản lý hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn
phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Qua đó góp
phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chính trị của phường nói riêng và
sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, hướng tới thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ
sở.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa
bàn phường Thanh Xuân Bắc, Quận Thanh Xuân, thành phố Hà
- Đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên
địa bàn phường Thanh Xuân Bắc, Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích- tổng hợp
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp thống kê
6. Đóng góp của luận văn

Khái niệm về văn hoá
Văn hoá là một danh từ được sử dụng khá phổ biến, rộng rãi trên các
phương tiện thông tin đại chúng, song là một từ ngữ có hiểu cách hiểu khác
nhau khi chúng được đồng nhất với trình độ học vấn, cách thức ứng xử, lối
sống, sinh hoạt tập thể...Cùng với sự phát triển của khoa học mà khái niệm
“văn hoá” cũng dần dần hoàn thiện và trở thành một thuật ngữ khoa học.
Năm 1952, A.L. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a
critical review of concept and definitions [Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn
phê phán các khái niệm và định nghĩa], trong đó tác giả đã trích lục khoảng
160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác
nhau. Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp.
Năm 1871, E.B. Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo
nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ
thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác
được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [25,
tr.13]. Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất
cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng
đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật…Có người ví định nghĩa này mang tính
“Bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người
[88, tr. 39].
F. Boas định nghĩa:
“Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những
hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một
nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối
quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người
khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành
viên này với nhau” [26, tr.149].
Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L. Kroeber và Kluckhohn đưa ra
là “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt
dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm

ông cho rằng:“Văn hoá là các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích luỹ quá quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [73, tr.10]
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả
ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn
hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu
như sau:


13

“Văn hóa là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri
thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó
chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức
chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.
Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng. Tổng
hợp các quan điểm, khái niệm, có thể hiểu:
Văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình lao
động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi
môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của
từng tộc người. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so
với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường
xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ
có những đặc trưng riêng.
Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính
là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn
hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích
sinh tồn.
1.1.2. Khái niệm về đời sống văn hoá cơ sở
Khái niệm đời sống văn hóa

Trong chương trình hệ cử nhân chính trị, các nhà khoa học khoa Văn
hóa xã hội chủ nghĩa - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra
quan niệm:
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống
xã hội là một phức thể các hoạt động sống của con người, nhằm
đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó. Nhu cầu vật chất
được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu
cầu tinh thần thì giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã
hội, tức là một nhân cách văn hóa [62, tr.434].
Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về đời sống văn hóa. Để đi
đến một quan niệm hoàn chỉnh hơn về đời sống văn hoá, chúng ta phải tiếp
cận thêm đời sống văn hoá trong toàn bộ đời sống xã hội và phải khu biệt,
giới hạn lĩnh vực sáng tạo văn hoá trên cơ sở xuất phát từ quan niệm văn hoá
theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp.
Từ những cách hiểu trên đây về đời sống văn hóa và các lĩnh vực văn
hóa, trong phạm vi, yêu cầu của đề tài nghiên cứu, có thể hiểu khái niệm đời
sống văn hóa như sau:
Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, là phương thức
những hoạt động sống của con người trong sáng tạo, hưởng thụ và
lưu truyền những giá trị văn hóa do con người tạo ra. Đời sống văn
hóa bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật
thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động (con
người và các dạng hoạt động văn hóa của nó).


15

Khái niệm cơ sở
Đơn vị cơ sở là hình thức tổ chức cơ bản của văn hóa. Đó là những
cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần

như: tranh, sách, báo, tượng, phim ảnh..., các thiết chế văn hóa - xã hội như
nhà văn hóa, mẫu giáo, sân vận động, trung tâm văn hóa, thư viện- phòng


16

đọc sách, rạp hát..., cảnh quan văn hóa như: phong cảnh thiên nhiên đã
được tu bổ, công trình kiến trúc, tượng đài, quảng trường, đường sá...), các
dạng hoạt động văn hóa và những con người văn hóa.
Các tác giả khoa Văn hóa và phát triển Học viện Chính trị khu vực I,
thì quan niệm đời sống văn hóa bao gồm 4 yếu tố cấu thành: Một là, những
yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể tồn tại ở mỗi cộng đồng như: các thiết
chế văn hóa, các tác phẩm, sản phẩm văn hóa, các phương tiện thông tin đại
chúng và truyền bá văn hóa, lễ hội, văn hóa - văn nghệ dân gian, các trường
học, các nhóm văn hóa…; hai là, những yếu tố cảnh quan văn hóa (tự nhiên
hoặc do con người tạo ra) hiện diện ở mỗi cộng đồng như: di tích lịch sử văn
hóa, danh lam thắng cảnh, công viên, tượng đài…; ba là, những yếu tố văn
hóa cá nhân ở mỗi cộng đồng như: trình độ học vấn, nhu cầu sở thích và thị
hiếu văn hóa, định hướng giá trị, phong cách sinh hoạt, cách sử dụng thời
gian rỗi, văn hóa ứng xử, giao tiếp, nếp sống văn hóa…; bốn là, những yếu
tố văn hóa của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng như: gia đình, nhà trường,
cơ quan, công sở, tổ nhóm lao động, học tập…
Dựa trên cơ sở khái niệm về đời sống văn hóa đã trình bày ở trên, cấu trúc
của đời sống văn hóa cơ sở được giới hạn trong luận văn này, bao gồm các thành
tố cơ bản sau:
- Chủ thể hoạt động văn hóa ở cơ sở;
- Hệ thống các giá trị văn hóa, biểu hiện ở các sản phẩm văn hóa vật
thể và phi vật thể ở cơ sở;
- Các thiết chế và cảnh quan, môi trường văn hóa ở cơ sở;
- Các hoạt động văn hóa ở cơ sở.

hệ giá trị văn hóa.
Giá trị văn hóa được xem là sự kết tinh những thành tựu của con người
trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân.
Đó là những phẩm chất cao quý, có ý nghĩa mà cả xã hội cùng ao ước và chia
sẻ. Ví dụ: lòng yêu nước, lòng nhân ái, đức tính bao dung, tinh thần đoàn
kết...
Trong “Từ điển tiếng Việt” đã định nghĩa: “Giá trị - cái được xác định
có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần” [83, tr.725]. Theo
định nghĩa này, khi nói đến các giá trị văn hóa là nói đến những giá trị kết
tinh trong các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo
ra trong quá trình hoạt động thực tiễn. Giá trị văn hóa chính là hạt nhân của
đời sống văn hóa. Đời sống văn hóa giống như một biểu đồ phản ánh sự sáng
tạo, truyền bá và tác động của các giá trị thông qua hoạt động sống của con
người.
Tuy nhiên, giá trị không tồn tại riêng lẻ mà bao giờ cũng hợp thành một
hệ thống, phản ánh quan niệm thống nhất của một cộng đồng về ý nghĩa của
các sự vật, hiện tượng trong đời sống. Do đó, nó là hạt nhân tinh thần, là chất
keo gắn kết cộng đồng, đồng thời là tấm biển chỉ dẫn nhận thức hành vi của
cộng đồng hướng đến mục tiêu.


18

Hiện nay có nhiều quan niệm về hệ thống các giá trị. Nếu xem xét hoạt
động sống của con người từ ba góc độ nhận thức, hành động và cảm xúc,
chúng ta thấy hệ giá trị văn hóa gồm ba phạm trù cơ bản là: chân, thiện, mỹ.
Trong đó, chân là đối tượng của nhận thức và sáng tạo khoa học; thiện là đối
tượng của nhận thức và hành vi đạo đức; mỹ là đối tượng của nhận thức và
hoạt động thẩm mỹ - nghệ thuật. Chân, thiện và mỹ thống nhất với nhau,
phản ánh quan niệm của con người về những mối quan hệ ứng xử với tự

19

Như vậy, về mặt nguyên tắc, một thiết chế văn hóa được coi là hoàn
chỉnh phải đảm bảo đủ 3 yếu tố: có một bộ máy nhân sự được tổ chức thành
hệ thống; có hệ thống các thể chế (luật, lệ) để vận hành; có trụ sở và các thiết
bị chuyên dụng, gọi chung là cơ sở vật chất để tồn tại và hoạt động lâu dài.
Tuy nhiên, trên thực tế, thiết chế văn hóa hình thành như một quá trình, nó
được hoàn thiện dần trong tiến trình hoạt động thực tiễn.
Mạng lưới các thiết chế phải đảm đương được một số nhiệm vụ quan
trọng như: tổ chức các hoạt động sản xuất (sáng tạo) trong lĩnh vực văn hóa,
tạo ra những sản phẩm văn hóa, những công trình nghệ thuật; tổ chức sưu
tầm và bảo quản vốn di sản văn hóa của dân tộc, của cộng đồng; kịp thời
truyền đạt những giá trị văn hóa đến với mọi người; tổ chức tốt đời sống văn
hóa trong các cộng đồng dân cư, bảo đảm định hướng tư tưởng đúng đắn của
Đảng trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội.
Hiện nay, ở Việt Nam tồn tại các thiết chế văn hóa tiêu biểu, bao gồm:
Sân vận động, nhà văn hóa, CLB, thư viện, bảo tàng, nhà truyền thống, rạp
hát, rạp chiếu phim, công viên văn hóa, các cơ quan thông tin đại chúng…
Đây là nơi các hoạt động văn hóa diễn ra một cách tập trung, phản ánh
những giá trị kết tinh của đời sống văn hóa cộng đồng. Các thiết chế văn hóa
này chính là chiếc cầu nối giữa sáng tạo, hưởng thụ những giá trị văn hóa,
đồng thời là nơi diễn ra quá trình chuyển tải những giá trị văn hóa tới cộng
đồng.
Thiết chế văn hóa giữ vai trò là nơi lưu giữ và chuyển tải các giá trị
văn hóa của cộng đồng đến từng cá nhân. Đó là môi trường vật chất, là
“đường dẫn” đảm bảo cho các hoạt động văn hóa, bao gồm sáng tạo, bảo
quản, truyền bá và hưởng thụ các giá trị văn hóa diễn ra trong đời sống xã
hội. Hệ thống này được xem xét là “trung khu thần kinh” của nền văn hóa,
bao gồm các thiết chế cơ sở vật chất - văn hóa và các thiết chế xã hội - văn
hóa.

hóa mà trong đó con người sinh sống. Nó biểu hiện bề mặt trực tiếp của đời
sống văn hóa. Qua kiến trúc, cảnh quan môi trường… ít nhiều có thể khái quát
đời sống văn hóa của cộng đồng. Tuy là không gian vật chất do con người tạo,
nhưng cảnh quan văn hóa có tác động nâng đỡ, điều chỉnh, giám sát hành vi
con người. Bên trong những cảnh quan chứa đựng những chuẩn mực của cộng
đồng, cũng như thấm đượm sự lan tỏa các giá trị văn hóa.
* Các hoạt động văn hóa
Các hoạt động văn hoá là những hoạt động sáng tạo, lưu giữ, quảng bá
và tiêu dùng các giá trị văn hóa, thể hiện một cách tập trung nhất năng lực
văn hóa, khả năng sáng tạo theo các quy luật của cái đẹp của cá nhân và cộng
đồng. Thông qua hoạt động này, giá trị sẽ được sản sinh, vận động và lan tỏa
trong đời sống. Những hoạt động này có thể là hoạt động của các cá nhân,
nhưng luôn diễn ra trong mối liên hệ với cộng đồng, có nghĩa là, những hoạt
động văn hóa luôn mang tính xã hội.
Hoạt động văn hóa là hoạt động đáp ứng trực tiếp nhu cầu văn hóa của
nhân dân. Mà nhu cầu văn hóa của nhân dân rất đa dạng, vì thế các hoạt động


21

để đáp ứng những nhu cầu ấy cũng hết sức phong phú. Tuy nhiên, đời sống
văn hóa lành mạnh, phong phú phải được biểu hiện qua sự lành mạnh và đa
dạng của các dạng hoạt động văn hóa, mức độ tham gia của người dân. Có
thể khái quát một số dạng hoạt động văn hóa phổ biến như sau:
- Hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động: Thông qua các thiết chế
văn hóa như các cơ quan: phát thanh, truyền hình, báo chí, thông tin, cổ
động, triển lãm… Thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là phổ biến rộng rãi trong
công chúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các
nhiệm vụ chính trị, các qui định của địa phương; đồng thời nêu gương người
tốt, việc tốt, phê phán các thói hư, tật xấu, góp phần tạo dựng nếp sống văn

loại thể dục - thể thao... tùy theo điều kiện mỗi nơi, có thể thành lập những
câu lạc bộ sở thích phù hợp với đặc điểm mỗi vùng dân cư.
- Hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí
Hoạt động thể dục, thể thao không chỉ nhằm mục đích tăng cường thể
chất mà còn rèn luyện nên những phẩm chất tinh thần như ý chí bền bỉ, lòng
dũng cảm, hoạt bát, thông minh và tinh thần tập thể đồng đội. Ngoài ra, cũng
như các hoạt động vui chơi khác, hoạt động thể dục thể thao có tác dụng giải
trí lớn, làm tan biến đi những căng thẳng đầu óc, sau một thời gian làm việc
liên tục. Vì vậy, các hoạt động trên đây có sức hấp dẫn đối với mọi lứa tuổi.
- Hoạt động giáo dục truyền thống
Để tiến hành công tác giáo dục truyền thống - văn hóa, lịch sử và cách
mạng, ngành văn hóa chủ trương xây dựng các bảo tàng, nhà truyền thống.
Các hoạt động có tính rộng rãi như “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp
nghĩa, tổ chức các ngày hội... cũng có ý nghĩa giáo dục tốt. Việc công nhận
và xây dựng, tu sửa các di tích lịch sử văn hóa cũng nhằm giáo dục truyền
thống có hiệu quả.
- Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa
Nếp sống là toàn bộ những mô thức ứng xử của con người, biểu hiện
trong mối quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và với chính bản thân, được lặp
đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống, được cộng đồng chấp nhận và tự nguyện
thực hiện, lâu dần trở thành thói quen, phong tục; đó là nếp sống văn hóa.
Phong tục tập quán có những giá trị tốt đẹp cần bảo lưu, giữ gìn và phát
triển, có những hạn chế cần khắc phục, sửa chữa, loại bỏ.
Xây dựng nếp sống văn hóa bao gồm xây dựng nếp sống cá nhân, nếp
sống gia đình và nếp sống xã hội. Chính các thiết chế văn hóa ở cơ sở và các
hoạt động của nó có tác dụng hình thành những nếp sống văn hóa mới, khắc
phục những tiêu cực của nếp sống cũ. Hiện nay, gia đình là một dạng đơn vị
cơ sở đặc biệt để xây dựng nếp sống văn hóa, được Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt coi trọng. Bộ Chính trị có Chỉ thị 27/CT-TW về thực hiện nếp sống văn
minh trong việc cưới, tang và tổ chức lễ hội cũng là nhằm xây dựng môi

trong đó chủ thể đóng vai trò xây dựng và đối tượng xây dựng quyết định đời
sống văn hóa của cộng đồng dân cư.
Cách tiếp cận về đời sống văn hóa trên đây là cơ sở lý luận để luận văn
giải quyết yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của đề tài khi nghiên cứu xây dựng đời
sống văn hóa cơ sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân.
1.1.2. Nội dung xây dự ng đờ i số ng văn hó a cơ sở
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là công tác vô cùng quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa nước nhà hiện nay, nó trực tiếp tác
động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống của cộng đồng dân cư. Đảng và
Nhà nước ta coi nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa là nhiệm vụ then chốt để


24

nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định xã hội, xây dựng
nhân cách con người Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) đã
khẳng định: Quá trình hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta đã đạt
những thành tựu to lớn, khẳng định tư duy văn hóa của Đảng và Nhà nước ta
có những bước tiến quan trọng trong việc ban hành Nghị quyết. Điều đó cho
thấy Đảng ta đã có cái nhìn thấu suốt về giá trị văn hóa dân tộc và tiến bộ
thời đại, giữa lý tưởng và yêu cầu xử lý các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, văn
hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh những tiến bộ và thành tựu đã đạt được, công
tác quản lý Nhà nước về văn hóa còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém hiện
nay cần khắc phục.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” kế tục thành
qủa của nhiều cuộc vận động các phong trào thi đua yêu nước trước đây, nổi bật
là cuộc vận động “Đời sống mới” được phát động ngay sau cách mạng tháng
Tám thành công. Trong những năm đầu thành lập nước, chủ tịch Hồ Chí Minh

xã hội, vào từng người, từng tập thể cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi
lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh
thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự
nghiệp CNH - HĐH đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh.
Các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa còn nhằm vào việc xây dựng
và phát huy nguồn lực con người, nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự
phát triển. Khi các giá trị văn hóa thấm sâu vào tâm hồn, tình cảm con người,
xây dựng trong họ nhận thức đúng đắn về tư tưởng, đạo đức, lối sống, từ đó sẽ
biến thành sức mạnh, thành lực lượng vật chất vô cùng to lớn, thúc đẩy con
người hăng hái trong lao động, sáng tạo. Có nền tảng tinh thần vững chắc, con
người mới có bản lĩnh vững vàng trước những tác động tiêu cực của mặt trái
kinh tế thị trường và những âm mưu chống phá của các thế lực xấu.
Từ khi đất nước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà
nước, các lĩnh vực đời sống xã hội có nhiều chuyển biến sâu sắc, tích cực. Đời
sống kinh tế của nhân dân được nâng lên một bước đáng kể. Đời sống văn hóa
tinh thần cũng có điều kiện mở rộng và được đáp ứng ngày một tốt hơn. Đặc
biệt, sự xuất hiện các phương tiện thông tin thì văn hóa ngày càng đa dạng,
phong phú, làm cho người dân được tiếp xúc với nhiều loại hình, nhiều sản
phẩm văn hóa; tuy nhiên, bên cạnh các thông tin tích cực cũng có sự đan xen
các thông tin xấu, các ấn phẩm văn hóa ngoài luồng, tuyên truyền lối sống thực
dụng, đồi trụy, không phù hợp với truyền thống văn hóa, thuần phong mĩ tục,
quan điểm thẩm mĩ, đạo đức của dân tộc. Do đó, xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh, trong sạch, đấu tranh với các tệ nạn xã hội, giữ gìn lối sống văn hóa
truyền thống tốt đẹp trong gia đình, cộng đồng là một trong những chủ trương
lớn của phong trào xây dựng đời sống văn hóa, góp phần tích cực “Xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status