Phần I. Mở đầu
1.1. Đặt vấn đê
Việt Nam là một nước đã chuyển sang nền kinh tế thị trường vì vậy
trong nông nghiệp sản xuất đóng góp khoảng 25% GDP và 30% giá trị xuất
khẩu.
Ưu tiên phát triển nền nông nghiệp đã được Đảng và nhà nước ta xác
định là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong quá trình phát triển đất
nước để từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa tạo ra nhiều nông sản có
giá trị xuất khẩu tăng sức cạnh tranh cần phải điều tra và đánh giá hiện trạng
hệ thống cây trồng ở từng vùng sinh thái nông nghiệp ở thành phố Hà Nội nói
chung và xã Châu Can huyện Phú Xuyên nói riêng.
Châu Can là một xã nông nghiệp có vị trí địa lý tương đối thuận lợi,
cách Hà Nội không xa, sản xuất nông nghiệp có trình độ thâm canh cao với
nhiều chủng loại cây trồng khác nhau vì vậy việc điều tra, đánh giá hệ thống
cây trồng t là rất quan trọng và cần thiết.
Hiện tại hệ thống cây trồng của xã chưa được quan tâm đúng mức như
việc chuyển đổi đất đai chưa hợp lý, chưa áp dụng các biện pháp khoa học ky
thuật nên tầng canh tác bị xói mòn, nhiều vùng bị nhiễm phèn, đất chua bạc
màu. Để khắc phục hiện tượng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Điều tra đánh giá hiện trạng hệ thống cây trồng trên địa bàn xã Châu
Can, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đê tài
1.2.1. Mục đích
Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội giai đoạn 2007 – 2010 và hệ
thống cây trồng hiện tại, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống cây trồng hợp lý cho
xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
1
động, sự kết hợp giữa các phần công việc, sức khỏe của nông dân và chiều
hướng của rủi ro (David, 2003).
Sản xuất nông nghiệp nói chung ngành trồng trọt nói riêng là sử dụng
các loại cây trồng thích hợp với các yếu tố và biện pháp ky thuật để cây sử
dụng năng lượng mặt trời tạo ra sản phẩm mong muốn phục vụ cho cuộc
sống con người. Như vậy, cơ cấu cây trồng có vai trò hết sức quan trọng và
cần thiết, nó là công cụ tốt nhất để đạt được mục đích sản xuất, nó cũng là
biện pháp để thúc đẩy và quyết định nội dung của các biện pháp ky thuật nông
3
nghiệp khác (Bùi Phúc Khánh, 1995). Xác định cơ cấu hợp lý còn là cơ sở để
hoạch định chiến lược phát triển của nông nghiệp cho địa phương.
Việc phát triển kinh tế trong nông nghiệp ở vùng Châu Can, Phú
Xuyên, Hà Nội theo sản xuất nông nghiệp hàng hóa đòi hỏi bố trí cơ cấu cây
trồng hợp lý để sản xuất có hiệu quả cao nhất, đảm bảo an toàn lương thực,
bảo vệ môi trường sinh thái (rừng và nguồn nước) góp phần xóa đói giảm
nghèo thực hiện công nghiệp hóa đất nước vào năm 2020 (Nguyễn Văn
Trường, 1992). Việc xác định và xây dựng hệ thống cây trồng phù hợp với
điều kiện sinh thái của từng vùng là cơ sở để đạt năng suất và sản lượng cây
trồng cao, đồng thời cũng là biên pháp sinh học tốt nhất nhằm khai thác triệt
để mọi nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội mỗi vùng (Lê Thị Bích và cs,
1996).
2.1.2. Quan điểm hệ thống cây trồng theo hướng hàng hóa.
Là những hệ thống sản xuất với mục tiêu chủ yếu là tích lũy làm giàu.
Hoạt động sản xuất mang lại kêt quả cao cho người tiêu dung ít hơn so với
phần để tích lũy. Thông thường các hệ thống này thuộc dạng nông nghiệp đa
canh nhưng phần lớn các ngành sản xuất có hiệu quả kinh tế cao chiếm tỉ
trọng cao trong hệ thống. Hệ thống sản xuất này đòi hỏi đầu tư cao về tiền
trong đất.
- Điều khiển, hạn chế xói mòn.
Nghiên cứu sâu về luân canh cây trồng của tác giả Geurts và cs (1989)
cho rằng do cải tiến phát minh ky thuật công nghệ như sử dụng phân bón,
thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ nên đã làm giảm phần nào sự cần thiết về luân
canh cây trồng. Tuy nhiên, có một số lượng quan trọng gia tăng trong đất của
các loài bệnh hại và ngưỡng bệnh gây nên do tuyến trùng thì ở đó bắt buộc
phải thực hiện chương trình luân canh cây trồng. Ví dụ: cây củ cải đường và
cây lấy sợi, cây thuốc lá và cây khoai tây là được trồng xen theo chu kỳ 3 – 4
năm. Một số quy định liên quan đến luân canh cây trồng:
5
+ Tiếp tục gieo trồng cây có hạt, cây đậu đỗ sẽ ngăn chặn được nguy cơ
như nói trên (ngoại trừ: vụ lúa khô và ẩm ướt xảy ra sau đó, phần lớn đất phù
sa được bồi hàng năm).
+ Cây trồng họ đậu không được gieo trồng trong trật tự sắp xếp nói trên
cho dù cây họ đậu được gieo trồng bằng hạt hoặc hình thức khác để sử dụng
làm thức ăn chăn nuôi.
+ Những cây trồng thường hay bị bệnh ở rễ thì không nên gieo trồng
vì không thành công. Ví dụ: cây thuốc lá không nên gieo trồng cùng cây
khoai tây.
Theo Geurt và cs (1989) khái niệm xen canh được hiểu là: trong thời kỳ
gieo trồng cây lâu năm như cây cọ dầu và cây cao su người nông dân thường
trồng xen canh cây ngắn ngày (cây trồng thu hoa lợi hay cây trồng lương
thực) sao cho chúng khớp theo nhau. Những cây trồng đó sẽ cung cấp cho
người nông dân nhiều thu nhập trong thời kỳ mà cây trồng lâu năm chưa có
sản lượng. Giai đoạn sau thì những cây trồng xen canh phải được sắp xếp lại
vì tán của chúng đã bao phủ để duy trì sự màu mỡ của đất, ngăn chặn cỏ dại
nước một vụ lúa mỳ) đưa thêm một vụ đậu đỗ đã đáp ứng được ba mục tiêu:
khai thác tối ưu tiềm năng của đất đai ảnh hưởng tốt tới độ phì nhiêu của đất
trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân”.Ở Đài Loan nghiên cứu giống
cây hoa màu chịu bóng trồng xen trong các cây trồng khác như cây ăn quả:
táo hay các loại cây lấy củ như gừng, nghệ (cây công nghiệp chiếm diện tích
lớn ở Đài Loan), hoa màu chịu hạn trồng mùa khô để đưa vào trồng sau khi
thu hoạch lúa mì. Ở Trung Quốc trên các vùng đất trồng lúa 2 vụ, hệ thống
cây trồng chủ yếu là hai vụ lúa và một vụ lúa mỳ (hoặc đậu hà lan, cải, khoai
lang). Trên các vùng đất lúa một vụ, hệ thống cây trồng thương là một vụ lúa
và một vụ cây trồng cạn.
2.2.2. Những nghiên cứu tại Việt Nam
Nông nghiệp nước ta từ những thời kỳ xa xưa cũng đã có một cơ cấu
cây trồng khá phong phú. Cùng với lúa nước là loài cây lương thực chủ yếu
cơ cấu loại cây trồng đã bao gồm nhiều loại cây trồng có củ (các loại khoai
7
thuộc họ ráy như khoai nước, khoai sọ, …), một số cây có sợi như (đay, gai,
dâu tằm…) đã ngày càng được bổ sung phong phú thêm trong quá trình phát
triển sản xuất và xã hội. Như vậy nước ta có một tập đoàn cây trồng khá
phong phú từ các cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới đến các cây trồng Á nhiệt
đới và ôn đới. Công tác nghiên cứu về hệ thống cây trồng ở nước ta được thực
sự chú ý và cũng bắt đầu trên đất dốc ở các tỉnh miền núi.
Ở miền núi có tới 2.7 triệu ha đất nông nghiệp (chiếm khoảng 39% đất
nông nghiệp của cả nước) với trên 21 triệu đồng bào các dân tộc hiện đang
sinh sống. Việc nghiên cứu trong những năm gần đây, một số công trình về
nghiên cứu sử dụng, cải tạo đất dốc ở Tây Bắc Việt Nam của Bùi Quang Toản
(1991), Lê Thái Bạt (1991) đã kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả
và tổng kết đặc điểm của các loại đất chính ở Tây Bắc và nhấn mạnh việc bố
năm có tán che.
+ Trên đất dốc vừa (5-100): kiến thiết đồi thành bậc thang để trồng hoa
màu, lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày 1-2 vụ/năm. Trồng theo chế độ
canh tác cạn (Dryaming) theo đường đồng mức, tỷ trọng các nhóm cây trồng
trong hệ thống trồng trọt gồm 60-70% cây hoa màu lương thực, cây công
nghiệp ngắn ngày, 20-30% cho cây lớn và 10-15% đất dành cho đường vành
đai và bờ cây chắn đất.
+ Trên đất dốc 15-200 (có nơi lên đến 30): trên đất này ở những nơi đất
có tầng dày khá thường được sử dụng trồng các loại cây dài ngày như chè,
trẩu, măng tây, cây ăn quả (cam, mít bưởi, chanh, dứa, mận) thường trồng xen
với cây họ đậu để phủ đất trồng chống xói mòn. Hệ thống cây trồng trên loại
hình đất này là quần xã thực vật theo kiểu vườn rừng, khoảng 30-40% cây to,
30-40% cây nhỡ, còn lại là bờ cây phòng hộ và mương giữ đất giữ nước.
Nhiều công trình nghiên cứu tổng hợp và chuyên đề về hệ thống cây
trồng đặc biệt là hệ thống cây trồng ở vùng đồi núi (hệ thống canh tác theo đất
dốc), đã được tiến hành nhiều nơi trong và ngoài nước đã có nhiều kết quả
nghiên cứu nhận định. Nhìn chung các tác giả nghiên cứu theo hướng chọn
các hệ thống canh tác có các hệ thống cây trồng phù hợp trên đất dốc với các
9
loại cây vừa đảm bảo kinh tế vừa đảm bảo được độ màu mỡ của đất. Có thể
thấy công trình nghiên cứu áp dụng các biện pháp ky thuật nâng cao hiệu quả
sử dụng đất ruộng một vụ vùng miền núi phía bắc (Lê Quốc Doanh, 2007)
cho thấy bằng con đường chọn giống, che phủ đất có thể tăng vụ với hai công
thức: đậu tương xuân -
lúa mùa giống ngắn ngày lợi nhuận 16.8 triệu
trường, cơ cấu các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh.
3.1.2. Vị trí địa lý
Châu Can là một xã nằm dọc theo trục đường QL1A dài khoảng 2,5km từ
phía bắc đến phía nam và một phần chạy dọc theo con song Nhuệ nên rất
thuận lợi cho giao thông đi lại và phát triển kinh tế:
- Phía Bắc giáp xã Phú Yên – Huyện Phú Xuyên
- Phía Tây giáp xã Đông Lỗ - huyện Ứng Hòa
- Phía Nam giáp xã Duy Minh – Duy Tiên – Hà Nam
- Phía Đông giáp xã Đại Xuyên – Phú Xuyên
*Địa hình
11
- Châu Can là xã thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ nên có địa hình tương
đối bằng phẳng. Ngoài ra Châu can còn có hai sông lớn chảy qua đó là sông
Nhuệ và song Duy Tiên nên rất thuận lợi cho việc cung cấp nước tưới, tiêu.
- Với diện tích tự nhiên 828.6ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 67.1%; và
độ pH trung bình 5,5-6,0; độ dày canh tác từ 18-20cm. địa hình bằng phẳng ,
thành phần cơ giới từ đất thịt nhẹ đến đất thịt trung bình rất phù hợp cho cây lúa
sinh trưởng phát triển cũng một só cây trồng khác như ngô, sđạu tương… . Do
vậy thu nhập của người dân ở Châu Can chủ yếu từ ngành trồng trọt.
3.1.3. Giao thông – thủy lợi
- Giao thông: với vị trị địa lý của xã nằm dọc theo quốc lộ 1A là tuyến
giao thông Bắc Nam, ngoài ra còn có các tuyến giao thông liên xã và các thôn
được bê tông hoá, đã giúp cho việc giao kinh tế, văn hóa trong vùng cũng như
với các vùng khác thuận lợi
- Thủy lợi: Trên địa bàn xã có 2 con sông Nhuệ và sông Duy Tiên chảy
qua, cùng với 6 trạm bơm với công suất lớn và hệ thống mương máng lớn nhỏ
nối với nhau tạo nên hệ thống tưới, tiêu thuận lợi giúp sản xuất ngày càng
IV
Loại đất
Tổng diện tích đất tự nhiên
Đất nông nghiệp
Đất chuyển đổi làm trang trại
Đất 2 lúa
Đất trồng màu
Đất chuyển dùng trường học,
Diện tích (ha)
828.26
555.63
79.36
450.0
26.27
120.41
Tỷ lệ (%)
100
67.08
9.38
54.27
3.17
14.53
giao thông, thủy lợi
Đất thổ cư
35.88
4.33
2008
2009
2010
55.68
51.45
50.10
14.75
16.15
21.98
29.57
32.40
27.92
(Nguồn UBND xã Châu Can)
Châu Can là một xã phía Nam thành phố Hà Nội,có điều kiện tự nhiên
tương đối thuận lợi, được chia thành 9 thôn bao gồm Lễ Thượng, Bài Lễ, Cầu
Giẽ, Quán, Cổ Châu, Tư Can, Trung, Nội, Nghĩa Lập. Các thôn được nối với
nhau băng hệ thống đường xá thuận lợi, đường được bê tông hóa kiên cố,.
Nhân dân trong xã chủ yếu làm nghề nông, hiện nay với sự chuyển dịch của
nền kinh tế thị trường nên bộ mặt chung về nền kinh tế có nhiều thay đổi. Số
hộ kinh doanh trên toàn xã tăng mạnh từ năm 2006 tới nay, với các mặt hang
kinh doanh vô cùng đa dạng :như quần áo, tạp hóa, giầy dép…ngoài ra phát
triển nghề phụ cũng được chú trọng như nghề mộc, nghề dày da, mây che đan,
đan lưới. Đã và đang mang lại thu nhập lớn cho người dân.
• Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các ngành công
nghiệp tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại đều tăng. Lĩnh vực nông
lâm thủy sản giảm (bảng 2).
Nguyên nhân của sự thay đổi trên là do tốc độ phát triển công nghiệp
hóa, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản tăng nhanh so với phát triển các
điểm như năm 2003, 2005:
Tổng đàn trâu bò hàng năm có khoảng 90_100 con mục đích chăn nuôi
chủ yếu là cung cấp thực phẩm là chính, còn một phần bổ sung cho sức kéo
phục vụ cho làm đất, đàn lợn từ 11000 đến 13000 con, tổng lượng thịt hang
năm đạt từ 650- 700 tấn, giá trị trên 20 tỷ đồng,
Về chăn nuôi gia cầm ngày càng phong phú về chủng loại: vịt siêu
trứng, gà vườn, gà công nghiệp, ngan lấy trứng chất lượng ngày càng cao.
Hàng năm đẵ chăn nuôi được 40000-50000 con các loại đã cung cấp hang
ngàn tấn thực phẩm và hang triệu quả trứng mang lại thu nhập cho xã viên
hàng trục tỷ đồng. Ngoài ra chăn nuôi thủy sản cũng khá phát triển, các giống
15
cá mới lớn nhanh đã thay thế các giống cá cũ, các diện tích tận dụng thùng
đào, ao rãnh phục vụ cho sản xuất. thuỷ sản được HTX tận thu giao khoán
thầu tăng nguồn thu hàng năm là 149.061.900 đồng
* Xây dựng cơ bản – nạo vét nội đồng.
Hang năm trước khi bước vào mùa vụ sản xuất, do điều kiện thời tiết
nắng, hạn, HTX đã tiến hành nạo vét khơi thong dòng chảy các mương máng
vào các trạm bơm với khối lượng 500m 3. để phục vụ tưới tiêu, ngoài ra để
giao thong nội đồng được tốt hơn HTX đã đầu tư dải đất đá với khối lượng là
2939 m3.sửa chữa, nâng cấp.
Việc sửa chữa thường tập trung vào mùa khô, HTX cho tu sửa nâng
cấp hệ thống mương máng tưới, tiêu và giao thông nội đồng để thực hiện cơ
giới hóa vào sản xuất theo nghị quyết của đại hội HTX nhiệm kỳ 2006-2010
đã đề ra, tiến hành khảo sát, xây dựng kế hoạch tu sửa, nạo vétm đắp mới,
xây cống mới hang năm từ 5-6 cống, đào đắp từ 9000-11000 m3 ,tổ chức vớt
bèo,dọn cỏ các mương máng đản bảo tưới tiêu thuận lợi khối lượng từ 2000022000 m2 Tổng giá trị đầu tư xây dựng, nạo vét nội đồng hàng năm từ 450500 triệu đồng. Hiện nay công trình đang đưa vào sử dụng tốt.
3.1.5.2. Tình hình dân số và lao động xã Châu Can
Bảng 3 : số nhân khâu, số người trong tuổi lao động và phân loại theo ngành sản xuất chính
SỐ HỘ, NHÂN KHẨU, SỐ NGƯỜI TRONG TUỔI LAO ĐỘNG VÀ PHÂN LOẠI HỘ THEO NGÀNH SẢN
XUẤT CHÍNH NGUỒNG THU NHẬP LỚN NHẤT TRONG 12 THÁNG QUA TÍNH ĐẾN 01/07/2006
Đơn vị: Châu Can Mã số ĐV: 10 348
TT
Chỉ tiêu
1
Tổng số nhân khẩu
(ng)
Só người trong độ
tuổi LĐ
Tổng số hộ
Hộ nông nghiệp
Hộ lâm nghiệp
Hộ thủy sản
Hộ công nghiệp
Hộ xây dựng
Hộ thương nghiệp
Hộ vận tải
Hộ dịch vụ khác
Hộ khác
Phân loại hộ theo
thu nhập lớn nhất
Từ Nông – Lâm và
Thủy sản
Cơ
lượng cấu
%
Bài lễ
Số
Cơ
lượng cấu
%
Cầu giẽ
Số
Cơ
lượng cấu
%
Quán thôn
Số
Cơ
lượng cấu
%
Chia theo các thôn
Cổ châu
Tư can
Số
Cơ
Số
Cơ
lượng cấu lượng cấu
1645
1604
459
438
1349
4665
272
1056
247
160
915
823
222
227
743
4
1
1
0
100
31.4
0
13.8
20.6
28.5
3.9
0.9
0.9
0
100
604
293
0
63
113
4
41
17
13
60
100
48.5
2.8
100
79
39
0
3
22
0
4
0
7
4
100
49.3
0
3.9
27.9
0
5
0
8.9
5
100
408
181
0
10
100
34.1
0
7
30.5
5
5.8
1.4
5.4
10.8
100
108
50
0
15
9
13
6
1
14
0
100
46.3
0
13.9
8.3
12
5.6
0
32
26
5
16
4
13
8
100
66.9
0
10.2
8.3
1.6
5
1.3
4.2
2.5
100
1163
50.9
46
45
356
609
27.8
50
49.2
117
19.4
15
13.4
22
27.8
153
37.5
149
35.6
23
47
11.5
53
12.5
8
7.6
10
8.7
36
11.5
178
8.1
0
0
60
Số nhân khẩu, trình độ văn hóa của lực lượng lao động là yếu tố cơ bản
quyết định khả năng tham gia các hoạt động sản xuất để phát triển kinh tế
nông hộ. Ngoài ra độ tuổi trung bình của chủ hộ cho phép dụ đoán tính trẻ,
mức độ năng động và mạnh dạn của chủ hộ trong thực hiện việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, chuyển cơ cấu kinh tế của nông hộ.
Kết quả điều tra nông hộ cho thấy: về trình độ văn hóa cũng như độ
tuổi trung bình của chủ hộ cho thấy : về trình độ văn hóa cũng như độ tuổi lao
động của thôn Cổ Châu có trình độ văn hóa cao nhất.
Về nhân khẩu : cũng như tình hình chung ở các vùng trong huyện số
nhân khẩu trong toàn thôn cổ Châu cao hơn so với số nhân khẩu toàn huyện.
3.1.5.3 Cơ sở vật chất phục vụ cho sản xuất
Hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã ngày càng được trang
bị bằng các máy móc, tiến tới hiên đại hóa nông nghiệp. Các máy thường
dùng trong sản xuất nông nghiệp như: ô tô, công nông, máy cày, máy phụt,
máy tuốt, máy xay sát, máy nghiền…vv. Ngoài ra trong chế biến các sản
phẩm công nghiệp có rất nhiều loại máy móc hộ trợ: máy cưa, máy sẻ,
khoan… Bên cạnh đó là hệ thống đường xá được bê tông hóa kiên cố, những
đoạn đường được trải nhựa. Đây là điều kiện thúc đẩy quá trình hiện đại hóa
nền nông nghiệp trong nước nói chung và trên địa bàn xã nói riêng.
Các hoạt động khuyến nông phù hợp, đó là đưa các tiến bộ mới vào sản
xuất các mô hình cấy lúa theo trương trình 3 giảm 3 tăng, đưa các giống lúa
lai vào gieo trồng. Nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
19
Bảng 4. Cơ sở vật chất phục vụ cho sản xuất của xã Châu Can
Chỉ tiêu
02
0
03
02
0
0
02
Máy cưa
(chiếc/thôn)
Máytuốt lúa
Máy sát gạo
(Chiếc/thôn) (Chiếc/thôn)
15
04
07
04
02
03
05
08
02
01
04
01
06
12
03
Năng suất
(tạ/ha)
Nhị ưu 838, Q5, KD18, nếp
63.5
LVN10, LVN14, P11
54
DK03, DT96, DT84
21.3
Bí xanh, F1-125, Bí đỏ
221,5
L12, Seu, gié
40
( Nguồn UBND xã Châu Can )
Qua bảng 4.9 cho thấy hiện có nhiều loại cây trồng ngắn ngày phổ biến
là lúa, đậu tương, ngô, lạc, bầu bí. Năng suất của lúa đạt 63.5 tạ/ha, ngô đạt
54 tạ /ha, đậu tương 21.3 tạ/ha, lạc 40 tạ ha. Đây là mức năng suất khá cao so
với các vùng sản xuất trong huyện.
20
• Cơ cấu giống lúa
Giống là yếu tố quan trọng quyết định trực tiếp đến năng suất của cây
trồng và hiệu quả sản xuất của hệ thống cây trồng, thời gian sinh trưởng và
đặc điểm sinh vật học của từng giống có quan hệ chặt chẽ với việc bố trí công
thức luân canh.
Vấn đề cơ cấu giống cây trồng là yếu tố rất quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp. Nó quyết định năng suất, chất lượng, sản lượng của cây trồng. Nên xã
2010
DT Tỷ DT Tỷ DT Tỷ DT Tỷ
(ha) lệ (ha) lệ (ha) lệ (ha) lệ
(%)
(%)
(%)
(%)
450 100 450 100 450 100 450 100
180
40 225 50 220
50 270
60
225
50 180 40 135
30
90
20
45
10
45 10
90
20
90
20
450 100
270 60
135 30
45 10
100
60
10
30
(Nguồn: HTX Châu Can)
Qua bảng trên ta thấy cơ cấu các giống lúa thay đổi theo từng năm,
từng giống trồng thích hợp với thời vụ cho hiệu quả kinh tế cao. Ví dụ: Lúa
lai 838 ở vụ xuân được tăng dần theo từng năm (năm 2006 có 20% đến năm
2010 là 60%). Còn những giống không phù hợp thì được bố trí ngày một giảm
như giống khang dân 18 vụ xuân (năm 2006 là 70% - năm 2010 là 20%).
21
Giống Q5 vụ mùa (năm 2006 là 30% đến năm 2010 còn 10%).
Được sự chỉ đạo của phòng nông nghiệp huyên Phú Xuyên cùng với
sự lãnh đạo của Đảng ủy , ủy Ban xã Châu Can. Đặc biệt là sự chỉ đạo trực
tiếp của Ban quản lý HTX nông nghiệp Phú Nghĩa xã Châu Can- Phú
Xuyên- Hà Nội. lên năng xuất sản lượng lúa của xã nhưng năm qua không
ngừng tăng lên và ổn định. Góp phần cải thiên đời sống nhân dân trong xã.
Được thể hiện qua bảng:
Bảng 7: Năng suất sản lượng lúa của xã Châu Can từ năm 2007 – 2010
Năm
Diện tích (ha)
2007
2008
2009
Phân bón là yếu tố quan trong và rất cần thiết cho sự sinh trưởng và
phát triển của cây lúa. Vì thế HTX Châu Can đã xây dựng quy trình ky thuật
và liều lượng bón cho cây lúa qua cá năm sau:
Bảng 8: Mức độ phân bón cho lúa của xã Châu Can (tạ/ha)
22
Chỉ tiêu
Loại phân
Phân chuồng
Phân U rê
Phân Lân
2007
5.4 – 8.1
1.08 - 1.62
2.7 – 3.24
Năm
2008
2009
2010
5.4 – 8.1
5.4 – 8.1
5.4 – 8.1
1.08 - 1.62 1.35 – 1.89 1.62 – 2.16
2.7 – 3.24 2.7 – 4.05 2.7 – 4.05
Ghi chú
Bệnh đạo ôn
+
6
Bệnh khô vằn
++
7
Bệnh bạc lá
++
8
Bệnh đốm sọc
+
9
Bệnh đốm nâu
+
10 Bệnh tiêm lửa
+
11 Bệnh hoa cúc
+
(Nguồn: HTX Châu Can)
Mức độ gây hại trong các năm
2007
2008
2009
++
+++
+
++
++
++
+++
++
+++
++
+++
++
++
++
+
+
Qua bảng trên cho thấy mức độ gây hại của các đối tượng trong các
năm thường khác nhau, từ mức độ nặng đến nhẹ. Nhưng riêng đối với bệnh
khô vằn thì mức độ gây hại của chúng trong các năm đều ở mức độ gây hại
nặng là phổ biến.
3.2.2. Một số giống cây trồng sử dụng phổ biến tại xã Châu Can
23
Hiện nay trên địa bàn xã có rất nhiều loại cây trồng, trong đó cây lúa
vẫn chiếm một diện tích khá lớn khoảng 85%. Các cây trồng như ngô, lạc,
đậu tương, các loại rau màu khác chiếm một diên tích khá nhỏ khoảng 15%.
Diện tích trồng cây ăn quả và cây lâu năm hiện chưa được chú trọng cho nên
diện tích nhỏ hẹp, độ che phủ hàng năm bị giảm dần, cân bằng sinh thái bị
phá vỡ.
Các cây trồng phổ biến là bạch đàn, phi lao, là những cây trồng với số
lượng lớn. Được trồng nhiều trên các diện tích kênh mương máng tưới tiêu,
một phần nhỏ trồng ở các trang trại, diện tích vườn ươm. Nói về cây bóng mát
được trồng nhiều là bàng, lim , xà cừ...tăng độ che phủ bề mặt hàng năm lên
Tập huấn cho bà con nông dân các ky thuật mới về cách bón phân thay
thế cho những phương pháp cổ truyền, lạc hậu. bón cân đối cho cây trồng.
Hạn chế rưả trôi sói mòn đất, làm tăng năng suất cây trồng.
Luân canh cây trồng với các cây họ đậu làm tằng độ phì cho đất, tỗng
hợp được các chất hưu cơ do quá trình cố định đạm của vi khuẩn nốt sần.
3.3.3 Giải pháp về dồn điền đổi thửa
Thực hiện chính sách dòn điền đổi thửa cuả nhà nước, cánh đồng 50
triêu. Được sự lãnh đạo của Đảng ủy, hội đồng nhân dân xã năm 2003 toàn
HTX đã dồn diền dổi thửa thành công toàn diện tích cáy lúa, những diện tích
đất trũng sâu đã đổi sang mô hình trang trại như các thôn Tư Can, Thôn Bai
Lễ, Thôn Nội với diện tích 79.36 ha. Quy hoạch tổng thể diện tích toàn xã tới
năm 1020.
3.3.4 Giải pháp về vốn
Chính sách của Đảng và nhà nước hỗ trợ vốn và cho nông dân vay vốn
là rất thiết thực đem lại nguồn vốn kịp thời cho người dân sản xuất. Người
dân có thể vay vốn từ ngân hàng phát triển nông nghiệp nông thôn, các nguồn
vốn dải ngân làm điện nước, các nguồn vốn do nông dân tự đóng góp, các dự
án về cấp nước sạch... Dải ngân hàng năm cho nông dân vay vốn hàng trục tỷ
25