Nghiên cứu năng lực tham gia thị trường nông sản của các hộ nông dân phường Cự Khối, quận Long Biên, thành phố Hà Nội - Pdf 28

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Người cam đoan
Nguyễn Năng Huân
i
LỜI CÁM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các thầy, cô giáo thuộc
khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Mai Lan Phương đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND phường Cự Khối, các tổ chức đoàn
thể, các hộ nông dân phường Cự Khối đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động
viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và thời gian thực
hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Người cảm ơn
Nguyễn Năng Huân
ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ Bình quân
BVTV Bảo vệ thực vật
CC Cơ cấu

đến năng lực tham gia thị trường nông sản của các hộ nông dân; về thực tiễn:
Đề tài tìm hiểu thực tiễn và kinh nghiệm tham gia thị trường của người dân ở
các nước có điều kiện gần với nước ta là Indonesia. Tại Việt Nam nghiên cứu
vấn đề: Lồng ghép các chương trình, tăng tính thị trường, tăng tính đa dạng
hóa và thương mại hóa các sản phẩm nông nghiệp, đa dạng sự tham gia, tăng
cường các yếu tố hợp tác.
Với các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu,
phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp xử lý thông tin, phương pháp
iv
phân tích gồm phương pháp phân tích thống kê, phương pháp so sánh,
phương pháp cho điểm, phương pháp phân tích SWOT.
Qua nghiên cứu chúng tôi thấy có một số nét nổi bật:
Các hộ nông dân phường Cự Khối sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.
Những nông sản chính của họ bao gồm sản phẩm của ngành trồng trọt là ổi,
táo, nhãn, rau…và chăn nuôi là gia cầm, lợn, bò. Ngoài ổi, táo và nhãn, những
loại nông sản khác chủ yếu được sản xuất trên quy mô nhỏ, lẻ; một gia đình
thường sản xuất nhiều lại nông sản dẫn đến không chuyên, chất lượng nông
sản không cao. Hầu hết số lượng hàng hóa nông sản làm ra để bán đem lại thu
nhập chính cho hộ gia đình.
Về khả năng tìm kiếm thông tin, người nông dân trong phường đã chủ
động tìm kiếm thông tin từ hộ khác, trên tivi, internet, báo, tạp chí. Loa truyền
thanh và ti vi là nguồn thông tin rất hữu ích. Tuy nhiên, thông tin nhận được
còn quá ít, chưa cụ thể, chưa chi tiết. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của
phường đã tương đối phát triển, người dân được tự do tham gia vào thị trường
này. Tuy nhiên năng lực tham gia thị trường của hộ nông dân vẫn chưa cao.
Hộ nông dân có khả năng bán tất cả những sản phẩm nông nghiệp mà họ sản
xuất ra, đặc biệt với ổi, táo và nhãn với khối lượng và chất lượng cung cấp ra
thị trường cao nhất, tuy nhiên họ vẫn chủ yếu phụ thuộc vào các thương lái
thu mua nông sản của hộ nên tình trạng ép giá vẫn thường xuyên xảy ra. Giao
thông và phương tiện vận chuyển là một khó khăn lớn khi hộ sản xuất muốn

vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của phường qua 3 năm (2012 – 2014)
Error: Reference source not found
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của phường qua 3 năm (2012 – 2014)
Error: Reference source not found
Bảng 3.3: Kết quả phát triển kinh tế của phường qua 3 năm (2012 – 2014)
Error: Reference source not found
Bảng 4.1: Tình hình sản xuất nông sản của các hộ điều tra Error: Reference
source not found
Bảng 4.2: Tỷ lệ hộ bán nông sản Error: Reference source not found
Bảng 4.3: Phương tiện nghe nhìn của các hộError: Reference source not found
Bảng 4.4: Nguồn tiếp nhận thông tin của các hộ điều tra Error: Reference
source not found
Bảng 4.5: Hiểu biết về thông tin thị trường của các hộError: Reference source
not found
Bảng 4.6: Nguyên nhân không tiếp cận thông tin của nông hộError: Reference
source not found
Bảng 4.7: Kênh tiêu thụ nông sản của các hộ điều tra. Error: Reference source
not found
Bảng 4.8: Thời điểm bán nông sản của các hộ điều traError: Reference source
not found
Bảng 4.9: Chênh lệch giá nông sản giữa các hộ điều tra Error: Reference
source not found
Bảng 4.10: Quyết định với việc đem nông sản đi nơi khác bán Error:
Reference source not found
Bảng 4.11: Những khó khăn trong việc tham gia thị trường Error: Reference
source not found
viii
Bảng 4.12: Ma trận SWOT, phân tích năng lực tham gia thị trường Error:

nhiều cơ hội, nhưng kèm theo nó cũng là những khó khăn. Trong nền kinh tế
sản xuất hàng hoá, hộ nông dân thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối
khắc nghiệt của quy luật thị trường. Cơ hội kiếm tiền sẽ đến với người có vốn,
có điều kiện về thông tin nhiều hơn đáng kể so với các đối tượng khác, nhất là
người nghèo. Người nắm thông tin, người nhiều vốn, người lanh lợi và phải
có chút “tinh quái” mới tận dụng cơ hội tốt hơn và do đó giàu lên nhanh hơn.
Bên cạnh đó, việc tiếp cận đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp mấy
năm gần đây cũng đang khó khăn không kém. Thị trường đầu vào của sản
xuất nông nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân, giá lên cao liên
tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc mua giá thấp với
khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những nhà cung
cấp tin cậy và ổn định, và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn phương
án tối ưu…. Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của nền kinh tế thị trường đẩy
người nông dân rơi vào tình thế bất lợi. Do đó, nâng cao năng lực tham gia
thị trường cho nông dân là một trong những phương thức đảm bảo cho họ
cũng được lợi từ sự tăng trưởng rất nhanh chóng này.
1
Cự Khối là một phường nông nghiệp thuộc quận Long Biên, thành phố
Hà Nội, đất đai được bồi đắp bởi phù sa sông Hồng. Phường có tổng diện tích
tự nhiên là 479.6776 ha, đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng 54%, với lực
lượng lao động dồi dào và vị trí gần trung tâm đô thị. Trong những năm qua,
tình hình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp của
quận nói riêng đã có những sự chuyển biến rõ rệt, bộ mặt nông thôn thay đổi
từng ngày, đời sống của các hộ gia đình được cải thiện rất nhiều, những kiến
thức cơ bản và sự hiểu biết về thị trường của người dân trong phường đã được
nâng lên. Tuy nhiên so với cư dân các vùng ven đô khác thì còn khá chênh
lệch, khả năng thu thập thông tin, xử lý, ứng xử với thị trường trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đang là những rào cản làm cho năng lực
tiếp cận, năng lực tham gia thị trường của hộ nông dân còn yếu. Những vấn
đề đặt ra cần quan tâm giải quyết là: Thực trạng về năng lực tham gia thị

trường nông sản của các hộ nông dân thuộc phường Cự Khối, quận Long
Biên, thành phố Hà Nội.
- Cụ thể tập trung vào thực trạng sản xuất, tiêu thụ nông sản và năng lực
tham gia thị trường nông sản của các hộ nông dân.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về nội dung
Đánh giá mức độ tham gia của các hộ nông dân vào thị trường nông
sản, những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tham gia thị trường nông sản của hộ
nông dân. Từ đó phân tích tình hình, đưa ra các giải pháp nâng cao mức độ
tham gia để phát triển kinh tế cho các nông hộ.
3
1.3.2.2 Phạm vi về không gian
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn phường Cự Khối, quận
Long Biên, thành phố Hà Nội.
1.3.2.3 Phạm vi về thời gian
- Thời gian thực hiện đề tài: Đề tài được thực hiện trong thời gian từ
ngày 14/01/2015 đến ngày 02/05/2015.
- Thời gian nghiên cứu số liệu: Số liệu thứ cấp được sử dụng chủ yếu
trong phạm vi 3 năm (2012 – 2014). Số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2015.
4
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm và phân loại về thị trường
2.1.1.1 Khái niệm về thị trường
Thị trường ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó là môi trường
để tiến hành các hoạt động giao dịch mang tính chất thương mại của mọi
doanh nghiệp công nghiệp. Trong một xã hội phát triển, thị trường không nhất
thiết chỉ là địa điểm cụ thể gặp gỡ trực tiếp giữa người mua và người bán mà
doanh nghiệp và khách hàng có thể chỉ giao dịch, thoả thuận với nhau thông
qua các phương tiện thông tin viễn thông hiện đại. Cùng với sự phát triển của

+ Có đối tượng trao đổi: hàng hóa, dịch vụ,…
+ Có điều kiện để thực hiện quá trình trao đổi: khả năng thanh toán của
người mua, thời gian, không gian, pháp luật,…
2.1.1.2 Phân loại thị trường
- Căn cứ vào công dụng của hàng hóa ta chia ra:
+ Thị trường các yếu tố đầu vào: Đó là những sản phẩm dùng để sản
xuất, là những tư liệu sản xuất như các loại máy móc, thiết bị, nguyên vật
liệu, hoá chất, dụng cụ, Trong sản xuất nông nghiệp như: giống, phân bón,
thức ăn, thuốc, nguồn vốn,
+ Thị trường các yếu tố đầu ra (hàng tư liệu tiêu dùng): là những sản
phẩm phục vụ tiêu dùng cá nhân của con người như: lương thực, thực phẩm,
quần áo,
6
- Căn cứ vào nguồn gốc sản xuất ra hàng hoá:
+ Thị trường hàng công nghiệp: là các sản phẩm do các xí nghiệp công
nghiệp khai thác, chế biến sản xuất ra.
+ Thị trường hàng nông nghiệp (nông, lâm, thủy, hải sản): là những
hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật.
Nói tóm lại, tùy theo mục đích nghiên cứu, người ta có thể phân chia
thị trường theo các tiêu thức khác nhau
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm thị trường nông sản
2.1.2.1 Khái niệm thị trường nông sản
Thị trường nông sản là tập hợp những người mua có cùng nhu cầu, có
khả năng thanh toán về một sản phẩm nông sản nào đó.
- Bản chất của thị trường nông sản:
Xét về phía kết quả của các cuộc trao đổi hàng hoá, kể cả trao đổi hàng
hoá giản đơn trực tiếp vật lấy vật hay trao đổi có dùng tiền làm trung gian, thì
kết cục của mọi cuộc mua bán trên thị trường đều là sự chuyển giao quyền sở
hữu một vật gì đó từ người chủ này sang người chủ khác với một giá cả nhất
định do họ thoả thuận định ra. Nói cách khác nếu khi có sự chuyển giao

hàng lưu động và nhiều lĩnh vực linh hoạt và thuận tiện cho người tiêu dùng,
hoặc sơ chế trước khi đưa đi tiêu thụ, đồng thời phải sử dụng các phương tiện
chuyên dụng riêng khi vận chuyển, bảo quản.
+ Tình trạng độc quyền tương đối phổ biến trên thị trường nông sản:
Nền nông nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
8
nước, chịu tác động của quy luật cạnh tranh thị trường, về lý luận có hai loại
cạnh tranh trong thị trường nông nghiệp, đó là thị trường cạnh tranh hoàn hảo
và thị trường cạnh tranh độc quyền . Về mặt thực tiễn cho thấy không phải
mọi thị trường đều có tính chất cạnh tranh và ngược lại trong thị trường nông
nghiệp, độc quyền một người bán và một người mua là những nét đặc trưng.
- Đặc trưng của thị trường nông sản hàng hoá:
+ Là loại thị trường có nhiều người bán và nhiều người mua. Ở đây tính
chất được thể hiện rõ. Người sản xuất thường chịu những rủi ro (được mùa -
hạ giá), (mất mùa - không có sản phẩm để bán). Tính chất không ổn định của
thị trường này được thể hiện rõ nhất ở tình trạng rối loạn cục bộ ( đối với một
số sản phẩm, một số thời điểm, một số tác nhân )
+ Là loại thị trường có nhiều sản phẩm với nhiều phẩm cấp khác nhau.
Điều có lợi ở đây là sự phù hợp với nhu cầu tiêu dùng đa dạng cho nhiều mục
đích khác nhau của các tầng lớp dân cư khác nhau, nhưng mặt khác rất nhiều
khó khăn khi phân biệt giá cả với những sản phẩm có chất lượng khác nhau
và thực hiện điều đó là không thoả đáng. Vì vậy, thái độ của người mua và
người bán hàng thường ảnh hưởng lớn đến sự phân bổ lợi ích của người sản
xuất và người tiêu dùng đối với những sản phẩm có phẩm chất khác nhau.
+ Tính chất tự do di chuyển nguồn lực biểu hiện ở những đặc điểm
riêng. Tốc độ thu hồi vốn đầu tư trong nông nghiệp chậm, thời gian vốn nằm
trong sản xuất tương đối dài nên sự di chuyển nguồn lực không dễ dàng gì.
Đó là chưa kể đến trường hợp xảy ra đối với các vườn cây lâu năm và đàn gia
súc cơ bản. Giá trị thu hồi các vườn cây lâu năm là không đáng kể trong khi
mất mát là to lớn nếu ta thay đổi hướng sản xuất. Sự thay thế đàn gia súc cơ

- Năng lực bán: Người nông dân có khả năng cung ứng ra thị trường
những loại hàng hoá, dịch vụ nào? Số lượng, chất lượng, giá cả và rủi ro gặp
phải khi tham gia thị trường?
- Sự lựa chọn: Thể hiện khả năng lựa chọn hàng hoá dịch vụ thay thế
sao cho có lợi nhất cho người nông dân.
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tham gia thị trường của các
nông hộ
- Khoảng cách của hộ so với thị trường:
Khoảng cách từ hộ tới thị trường gần hay xa phần lớn sẽ quyết định
mức độ tham gia thị trường của hộ là dễ dàng hay khó khăn. Khi hộ có vị trí
gần thị trường thì ngoài việc giảm được thời gian và chi phí vận chuyển vật tư
đầu vào hoặc sản phẩm đầu ra, hộ còn tiếp cận được dễ dàng và nhanh chóng
các thông tin thị trường như: biến động giá cả, nhu cầu tiêu dùng, tiến bộ kỹ
thuật, Từ đó giúp hộ nắm bắt tốt nhu cầu và biến động của thị trường, có
nhiều lựa chọn cho phương án sản xuất kinh doanh, giảm được chi phí, tăng
năng suất và thu nhập.
Ở mức độ vĩ mô, khi xem xét trong phạm vi một tỉnh, thì những xã,
huyện nào càng xa thị trường trung tâm, hệ thống giao thông khó khăn thì xã,
huyện đó có kinh tế chậm phát triển hơn, mức sống của người dân thấp hơn;
ngược lại, tại các xã, huyện gần thị trường trung tâm, giao thông thuận tiện thì
kinh tế phát triển nhanh hơn so với các xã, huyện xa thị trường trung tâm và
mức sống người dân cũng cao hơn; trong phạm vi một quốc gia, những tỉnh
và những vùng càng xa các khu trung tâm kinh tế (khu kinh tế trọng điểm)
hay nói cách khác là các trung tâm thị trường của quốc gia thì kinh tế sẽ chậm
phát triển hơn những tỉnh và những vùng gần hoặc nằm trong khu kinh tế
trọng điểm - thị trường trung tâm. Điều này là do khả năng tiếp cận thị trường
các yếu tố đầu vào và thị trường các sản phẩm đầu ra tại các vùng có mức độ
11
thuận lợi và khó khăn khác nhau, và chính việc tiếp cận thị trường khó hay dễ
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của một vùng hay của một quốc gia,

khoán sản phẩm, bảo đảm tính tự chủ trong sản xuất của nông dân.
Thông qua thông tin thị trường nông nghiệp có thể nâng cao trình độ kỹ
thuật và trình độ chuyên môn hóa trong nông nghiệp đưa công nghiệp nông
thôn phát triển nhanh, gắn thị trường nông thôn với thành phố, thị trường
trong nước với quốc tế, tăng lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp. Người
nông dân không chỉ thu được lợi nhuận trong sản xuất trực tiếp mà còn có thể
thu được lợi nhuận gián tiếp từ khâu lưu thông và một phần lợi nhuận từ các
ngành dịch vụ, cung ứng và chế biến nông sản. Đồng thời tạo cho nông dân
có việc làm trong những lúc nông nhàn và giải quyết được nạn dư thừa lao
động ở nông thôn hiện nay. Như vậy, việc thu nhập của nông dân không
ngừng được nâng cao, tạo không khí phấn khởi, yên tâm ở quê hương sản
xuất trong thanh niên nông thôn.
Mục tiêu chính của tiếp cận thông tin thị trường là thúc đẩy được sản
xuất nông nghiệp phát triển, gắn với kinh tế thị trường hòa nhập vào quốc tế,
điều hòa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, tăng
nhanh quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, tạo cho nông dân có thu nhập cao
hơn và cuộc sống khá giả hơn.
Hiện nay, cách tiếp cận thông tin chính của nông dân là qua đài, báo,
truyền hình, mạng lưới khuyến nông. Tuy nhiên, các thông tin này thường chỉ
tập trung vào kỹ thuật sản xuất, trong khi đó câu hỏi đầu tiên đặt ra cho các
nông dân là sản xuất cho ai, bao nhiêu, sau đó mới là sản xuất như thế nào.
Chính vì vậy, cần nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thông tin nông nghiệp,
nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho người nông dân, giúp người nông dân dễ
13
dàng tìm kiếm được thị trường, hoạt động sản xuất của người nông dân gắn
với thị trường, hàng hóa làm ra phù hợp với nhu cầu thị trường, nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng nông sản.
- Hệ thống đường giao thông, cơ sơ hạ tầng:
Hệ thống giao thông là huyết mạch của nền kinh tế, hệ thống giao
thông thuận lợi sẽ bôi trơn các hoạt động của nền kinh tế, và ngược lại nếu hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status