CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO THUYẾT MINH TỔNG HỢP
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 KẾ HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (GIAI ĐOẠN 2011 - 2015)
HUYỆN GIA LÂM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
GIA LÂM - 2013
ii
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO THUYẾT MINH TỔNG HỢP
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 KẾ HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (GIAI ĐOẠN 2011 - 2015)
HUYỆN GIA LÂM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngày ... tháng ... năm ...
Ngày ... tháng ... năm ...
CƠ QUAN THẨM ĐỊNH
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
CƠ QUAN LẬP
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
2.1.2. Đất phi nông nghiệp..................................................................................37
2.1.3. Đất chưa sử dụng.......................................................................................39
Bảng 4 . Tình hình biến động sử dụng đất huyện Gia Lâm................................40
2.2.2. Biến động các loại đất chính.....................................................................41
3.1. Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất..................47
3.1.1. Đất nông nghiệp........................................................................................49
1.1. Đánh giá Tiềm năng đất đai để phát triển nông nghiệp................................52
Sử dụng đất phải khoa học, hợp lý, tiết kiệm do diện tích tự nhiên có hạn, không
để thừa, hoang hoá hoặc lãng phí đất; phải đảm bảo duy trì và bồi bổ chất lượng
đất, tránh các tác động làm giảm độ màu mỡ hay làm thoái hoá đất. Bên cạnh đó
còn phải phản ánh được quan điểm khai thác cảnh quan thiên nhiên với cây
xanh, mặt nước, hướng gió để tạo nên môi trường sống tốt nhất với con người.
Trong việc bố trí các công trình phải chú ý đến việc cải thiện môi trường sống
và tổ chức tốt môi trường sinh thái đô thị. .........................................................57
2.1.2. Đất phi nông nghiệp..................................................................................72
ii
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là nguồn tài nguyên, nguồn lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát
triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định tình hình chính trị - xã hội, đảm bảo an
ninh, quốc phòng và là thành quả tạo lập, bảo vệ của nhiều thế hệ người dân.
Chính vì vậy, nhiều năm qua chính quyền và nhân dân trong huyện luôn tìm nhiều
giải pháp nhằm khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy
định “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật đảm
bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả” (Điều 18).
Nghị quyết lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX tiếp tục đổi
mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
Huyện Gia Lâm có tổng diện tích tự nhiên 11.472,99 km 2, dân số
243.957người, mật độ dân số trung bình là 2.126 người/km 2, vị trí địa lý thuận
lợi để giao lưu kinh tế, văn hoá xã hội với các tỉnh khác trong cả nước. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế đạt 13,5%/năm. Trong những năm qua, hòa chung với nhịp
độ phát triển của thành phố Hà Nội, trên địa bàn huyện Gia Lâm diễn ra quá
trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, nhu cầu sử dụng đất của các ngành
kinh tế ngày một gia tăng, đã tác động mạnh đến sự biến động cơ cấu đất đai của
huyện. Vấn đề sử dụng và quản lý đất trên địa bàn huyện gặp nhiều khó khăn và
phức tạp hơn. Ngày càng nhiều các chương trình, dự án lớn sẽ được đầu tư phát
triển trên địa bàn huyện cần được bố trí đất, sự gia tăng dân số cũng gây áp lực
không nhỏ đối với quỹ đất của địa phương và hầu hết các ngành kinh tế trên địa
bàn đều có nhu cầu về đất để mở rộng và phát triển. Chính vì vậy, làm thế nào
để phân bổ quỹ đất hợp lý đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng đất cho tất cả các
ngành tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội của huyện là
việc làm cần thiết.
Do tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc lập quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất trong giai đoạn hiện nay cũng như việc chấp hành nghiêm chỉnh quy
định của Luật đất đai 2003 về kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm và kỳ kế
hoạch sử dụng đất là 5 năm; UBND thành phố Hà Nội, UBND huyện Gia Lâm,
phòng TNMT huyện Gia Lâm phối hợp với các cấp, ngành triển khai lập quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015).
Xuất phát từ thực tế trên, được sự chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội,
UBND huyện Gia Lâm đã phối kết hợp với Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Đất
và Môi trường - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội tiến hành điều tra, khảo sát
lập “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 2015 của huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội”
*. Mục đích và yêu cầu đối với quy hoạch huyện Gia Lâm
2
- Nghị định số 181/2004/NĐ – CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Thủ
tướng Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
3
- Thông tư 19/TT- BTNMT, ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.
- Quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2020
- Công văn số 2778/BTNMT – TCQLĐĐ ngày 24 tháng 8 năm 2009 của
Tổng Cục quản lý Đất đai về triển khai quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và
kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011- 2015).
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội đến
năm 2020 và tầm nhìn 2030.
Nội dung quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng
đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) huyện Gia Lâm bao gồm các nội dung sau:
Phần I: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Phần II: Tình hình quản lý sử dụng đất đai
Phần III: Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn sử dụng đất
Phần IV: Phương án quy hoạch sử dụng đất
Phần I
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
4
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
- Lượng mưa trung bình hàng năm 1400-1600mm. Mưa tập trung vào mùa
nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.
- Số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.500 giờ, thấp nhất là 1.150 giờ,
cao nhất là 1.970 giờ. Tổng lượng bức xạ cao, trung bình khoảng
4.272Kcal/m2/tháng.
- Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió
mùa Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theo nhiều hơi
nước từ biển vào. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường
gây ra lạnh và khô. Rét đậm trong tháng 12 và tháng 1 và thường gây ra những
thiệt hại cho sản xuất.
1.1.4. Thuỷ văn
Huyện Gia Lâm nằm tại Tả Ngạn sông Hồng. Tuyến sông Đuống từ phía Tây
Bắc chạy qua trung tâm sang phía Đông Nam huyện và sông Bắc Hưng Hải ở phía
Nam huyện. Đây là hai con sông đang làm nhiệm vụ tưới tiêu cho huyện.
Sông Đuống chia huyện thành hai vùng: Bắc Đuống và Nam Đuống. Vùng Nam
Đuống được bao bọc bởi hệ thống đê ngăn lũ của sông Hồng và sông Đuống.
* Khu vực Bắc sông Đuống:
- Phần đất phía Tây Bắc đường 1A: Cao độ giảm dần từ ven sông vào
phía trong đồng, từ Tây Nam sang Đông Bắc và thay đổi cao độ trung bình từ 7,
20m đến 5,5m.
- Phần đất phía Đông Nam đường 1A: Cao độ cũng giảm dần từ ven sông
vào phía trong đồng, từ Tây Bắc xống Đông Nam và thay đổi cao độ trung bình
từ 6, 2m đến 4,2m.
*Khu vực Nam sông Đuống:
Cao độ giảm dần từ ven sông vào trong đồng, từ Tây Bắc xuống Đông
Nam và thay đổi trung bình từ 7, 2m đến 3, 2m. Tại các điểm dân cư cao độ nền
thường cao hơn từ 0, 4 đến 0, 7m so với cao độ ruộng lân cận. Đê sông Hồng có
- Cao độ thay đổi trong khoảng 13,5-14, 0m. Đê sông Đuống có cao độ
12,5-13,0m.
Huyện Gia Lâm chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ văn của các sông:
thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Đây cũng là vùng trung tâm huyện có
tốc độ đô thị hoá cao.
b) Tiểu vùng 2
Tiểu vùng 2 hay tiểu vùng khu sông Hồng bao gồm 4 đơn vị hành chính
trực thuộc: Xã Đông Dư, xã Bát Tràng, xã Kim Lan, xã Văn Đức.
7
Mật độ dân cư trung bình khoảng 1660 người/km 2, bình quân đất nông
nghiệp/khẩu nông nghiệp là 571m2. Địa hình tương đối thấp. Các loại đất bao gồm: đất
phù sa cổ không được bồi hàng năm có glây, đất phù sa được bồi hàng năm và ít được
bồi hàng năm của đồng bằng sông Hồng. Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là rau, hoa
màu, lợn, bò. Sản phẩm tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng gốm sứ Bát Tràng. Xã Bát Tràng
đang phát triển nhanh theo xu hướng hình thành thị trấn.
c) Tiểu vùng 3
Tiểu vùng 3 hay tiểu vùng Nam Sông Đuống gồm 4 đơn vị hành chính
trực thuộc: xã Dương Quang, xã Kim Sơn, xã Phú Thị, xã Lệ Chi.
Mật độ dân số trung bình khoảng 1623 người/km 2, bình quân đất nông
nghiệp/khẩu nông nghiệp là 662m2/khẩu, địa hình tương đối cao và thoát nước.
Tiểu vùng có các loại đất chính là: đất phù sa cổ không được bồi hàng năm, đất
phù sa cổ bị glây.
Hiện nay sản xuất nông nghiệp vẫn là chính, sản phẩm chủ yếu của vùng
là lúa, ngô và rau màu. Vùng có tiềm năng phát triển cây ăn quả theo hướng tập
trung. Sản xuất công nghiệp đang hình thành và phát triển với cụm công nghiệp
Phú Thị và Hapro-Lệ Chi.
d) Tiểu vùng 4
Tiểu vùng 4 hay tiểu vùng Bắc Đuống gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc: xã
Yên Thường, xã Yên Viên, xã Dương Hà, xã Đình Xuyên, xã Trung Màu, xã Phù
Đổng, thị trấn Yên Viên, xã Ninh Hiệp.
Mật độ dân số trung bình là 2191 người/km 2, là khu vực tập trung đông
gắn biển di tích cách mạng kháng chiến). Các di tích nổi tiếng đã được nhân dân
nhiều địa phương trong nước và quốc tế biết đến như : Đền – chùa Bà Tầm (xã
Dương Xá), Đình Chử Xá (xã Văn Đức), cụm di tích Phù Đổng, Chùa Keo, Đình
Xuân Dục, Đình Đền Chùa Sủi….
* Lễ Hội Truyền thống:
Hàng năm, trên địa bàn huyện Gia Lâm có khoảng 84 lễ hội đình chùa được tổ
chức, trong đó có những di tích nổi tiếng như đền Ỷ Lan, đền Chử Đồng Tử. Đặc biệt, hội
Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc của Việt Nam đã chính thức được Unesco công nhận là
Di sản van hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 11/2010.
* Làng nghề:
9
Hiện tại huyện Gia Lâm có một số làng nghề như: Làng nghề gốm sứ Bát Tràng,
làng nghề Quỳ Vàng, may da ở xã Kiêu Kỵ, làng nghề bào chế thuốc Nam, thuốc Bắc ở xã
Ninh Hiệp. Làng gốm Bát Tràng là làng nghề nổi tiếng trong nước và quốc tế, đã được quy
hoạch thành làng nghề kết hợp với du lịch. Với hệ thống làng nghề đa dạng và phong phú
đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của của huyện và tạo cơ hội
việc làm cho người dân địa phương.
1.3. Thực trạng môi trường.
Trong giai đoạn vừa qua, hòa chung với công cuộc đổi mới của thành phố
Hà Nội, huyện Gia Lâm đã và đang diễn ra quá trình chuyển dịch mạnh mẽ về
kinh tế - xã hội. Các khu vực thị trấn và các trung tâm kinh tế xã hội, các khu
làng nghề CN - TTCN đang được xây dựng và phát triển mạnh, đang đe dọa đến
mức độ ô nhiễm tới môi trường đất, nước, không khí của địa phương, đặc biệt là
các xã có nhiều hộ kinh doanh như: Bát Tràng, Kiêu Kỵ…..
Hiện trạng rãnh tiêu thoát nước thải khu dân cư nhiều nơi đã bị xuống cấp,
chưa có nắp đậy nhưng hầu hết các xã, thị trấn, chưa có kinh phí xây dựng, tu sửa,
nạo vét, đang phần nào ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân địa phương.
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
- Nông – Lâm – TS
22,7
22,3
22,1
22,1
19,8
- Công nghiệp – XD
54,1
54,3
54,3
2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế.
2.2.1. Khu vực kinh tế nông nghiệp;
Sản xuất nông nghiệp huyện Gia Lâm đang từng bước hình thành các
vùng sản xuất tập trung chuyên canh như:
- Vùng chăn nuôi bò sữa và bò thịt ở các xã ven đê Sông Đuống và ven
sông Hồng như: Phù Đổng, Văn Đức, Lệ Chi, Trung Mầu, Dương Hà. Đây là
các khu vực xa đô thị và có diện tích bãi chăn thả rộng.
- Vùng nuôi lợn nạc được hình thành ở các xã: Đa Tốn, Dương Quang,
Văn Đức, Đặng Xá, Yên Thường, Phù Đổng, Trung Mầu.
- Vùng rau an toàn được hình thành tại các xã: Văn Đức, Đông Dư, Đặng
Xá, Lệ Chi.
- Vùng cây ăn quả tập trung ở các xã: Đa Tốn, Kiêu Kỵ, Đông Dư.
- Vùng lúa cao sản, chật lượng cao tập trung ở các xã: Đa Tốn, Dương Xá,
Yên Thường, Phù Đổng, Trung Mầu.
- Vùng trồng hoa, cây cảnh hình thành ở một số xã: Lệ Chi, Đa Tốn,
Ninh Hiệp, Phù Đổng, Trung Mầu. Tuy nhiên diện tích trồng hoa và cây cảnh
còn ít, chưa tương xứng tiềm năng thị trường tiêu thụ hoa cây cảnh của thị
trường Hà Nội.
- Sản lượng một số cây trồng chính năm 2010 như sau; Thóc 28,27 nghìn
tấn, ngô 9452 tấn; rau 38873 tấn, trong đó rau an toàn 20523 tấn; đậu tương
1600 tấn, quả các loại 26100 tấn.
11
Chăn nuôi phát triển khá: tổng đàn trâu năm 2010 có 134 con, giảm 17
con so với năm 2006. Đàn bò có 9318 con, trong đó có 2500 con bò sữa. Đàn
lợn có 50,72 nghìn con. Đàn gia cầm có 362,27 nghìn con, chăn nuôi gia cầm
nhỏ lẻ được thay thế bằng chăn nuôi tập trung.
Sản phẩm chính của nghành chăn nuôi gồm: thịt lợn hơi 15,56 nghìn tấn,
thịt gia cầm 718,7 tấn, trứng 16,23 triệu quả; sữa tươi 11,67 nghìn tấn.
nâng cao thu nhập cho người dân trong huyện mà còn thu hút đáng kể lao động
ở các tỉnh ngoài.
Khu vực nông thôn Gia Lâm đã hình thành các khu cụm công nghiệp như:
Cụm công nghiệp vừa và nhỏ Phú Thị; cụm công nghiệp thực phẩm Hapro (Lệ
Chi); cụm sản xuất công nghiệp Kiêu Kỵ; cụm công nghiệp Ninh Hiệp. Bên
cạnh đó còn có các làng nghề truyền thống như làng nghề gốm sứ Bát Tràng,
Kim Lan, làng nghề quỳ vàng và may da Kiêu Kỵ. Việc hình thành các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp ở khu vực nông thôn huyện Gia Lâm đã tác động tích
cực đến tiến trình phát triển kinh tế nông thôn. Một lực lượng lớn lao động, chủ
yếu là lao động trẻ được thu hút vào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp và
các làng nghề góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, tạo thu nhập
cho lao động nông thôn. Các nghành nghề thủ công cũng phát triển khá đa dạng
như nghề cơ khí sản xuất hàng sắt, hàng nhôm, đồ gỗ, đồ gia dụng, cơ khí sửa
chữa…thu hút nhiều lao động.
Tuy nhiên, phát triển CN – TTCN ở khu vực nông thôn huyện Gia Lâm
đang gặp phải một số khó khăn, trở ngại:
+ Nguy cơ nhiễm môi trường cao, đòi hỏi phải lựa chọn các nghành công
nghiệp sạch hoặc các nghành công nghiệp ít nguy hại cho môi trường là vấn đề
không phải dễ dàng.
+ Quy hoạch mặt bằng cho phát triển các khu, cụm công nghiệp gặp khó khăn.
+ Công tác quản lý điều hành của chính quyền các cấp còn hạn chế trong các
lĩnh vực chủ yếu như quản lý đất đai, xây dựng cơ bản, quản lý trật tự xây dựng.
+ Cơ chế thủ tục phiền hà, chậm được đổi mới làm chậm tiến độ thực hiện
các dự án đầu tư xây dựng, từ đó ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ mở rộng các
cơ sở sản xuất công nghiệp.
+ Kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất còn yếu kém.
+ Cạnh tranh thị trường ngày càng gay gắt hơn.
2.2.3. Khu vực kinh tế dịch vụ.
Thương mại - du lịch, dịch vụ những năm gần đây đã có bước phát triển
đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động xã hội. Thị trường nông
thôn người, chiếm 85,5% tổng dân số toàn huyện, dân số đô thị chỉ tập trung ở khu
vực hai thị trấn Yên Viên và thị trấn Trâu Quỳ chiếm 14,5% tổng dân số toàn huyện.
2.3.2. Lao động
14
Chương trình lao động về việc làm luôn được cấp Đảng, chính quyền và
các ban ngành trong huyện quan tâm. Huyện có nhiều hình thức tạo việc làm
cho lao động trong các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Đã giải quyết việc
làm tại chỗ cho nhiều lao động. Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể thanh niên
đến tuổi lao động, những người bị dôi dư trong quá trình chuyển dịch kinh tế
nông nghiệp, TTCN và làng nghề.
Năm 2010, toàn huyện có 124.458 người trong độ tuổi lao động chiếm
51,02% tổng số dân tự nhiê toàn huyện. Trong đó, tổng số lao động ở khu vực
nông thôn năm 2010 của huyện là 106.929 lao động, tốc độ tăng 2,39%/năm, lao
động đang làm trong các ngành nghề kinh tế có 101.761 người.
Chất lượng nguồn lao động tương đối khá. Năm 2010 tỷ lệ lao động qua đào tạo
tại các trường Cao Đẳng, Đại học nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề là 17%.
Tuy nhiên, hàng năm trên địa bàn huyện có một lượng lớn người bước vào độ
tuổi lao động. Do đó, huyện cũng đang nỗ lực giải quyết việc làm bằng nhiều hình thức
và đòi hỏi có các giải pháp mang tính khả thi.
2.3.3. Mức sống – thu nhập
Là một huyện ngoại thành, đa phần người dân trên địa bàn huyện sinh sống bằng
nghề nông nghiêp. Thu nhập của cư dân nông thôn huyện Gia Lâm ngày càng được cải
thiện, theo đánh giá thực tế đạt khoảng 17,9 triệu đồng/người/năm, cao hơn thu nhập
bình quân của cư dân nông thôn toàn thành phố.
Kết quả giảm nghèo đạt nhiều thành tích đáng ghi nhận. Năm 2011 theo
tiêu chuẩn nghèo mới của thành phố Hà Nội, khu vực nông thôn huyện Gia
Lâm, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn khoảng 3,0%. Trên địa bàn huyện đến nay vẫn còn
3 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao là Trung Mầu, Lệ Chi và Dương Quang.
Quỳ) đây là những đầu tàu thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
huyện theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tương lai.
16
2.4.2. Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn
Huyện Gia Lâm có 20 xã, trung bình mỗi xã có quy mô đất đai khoảng
550ha, dân số khoảng 9,4 ngàn người. (Diện tích đất lớn nhất là xã Phù Đổng
khoảng 1166 ha, nhỏ nhất là xã Bát Tràng, khoảng 164 ha).
Các điểm dân cư nông thôn trong các xã phân bố phù hợp với việc canh
tác nông nghiệp. Có xã, dân cư chủ yếu tập trung tại một điểm (ví dụ như Ninh
Hiệp, Phù Đổng, Bát Tràng...), có xã, các dân cư phân tán thành nhiều điểm
cách xa nhau (ví dụ như Yên Thường, Lệ Chi ...).
Quá trình đô thị hoá tại các điểm dân cư nông thôn trên địa bàn huyện Gia
Lâm diễn ra tương đối chậm. Tại đây chưa hình thành các trung tâm cụm xã,
trung tâm dịch vụ nông thôn thúc đẩy các hoạt động dịch vụ và phục vụ sản xuất
nông nghiệp theo hướng hàng hoá.
Hiện tại đây đang có nhiều dự án xây dựng các cụm công nghiệp (Ninh
Hiệp, Kim Sơn, Lệ Chi, Kiêu Kỵ..) và các dự án phát triển đô thị khác là nhân tố
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và đô thị hoá trong khu vực.
Tuy nhiên, ở các địa bàn khu dân cư nông thôn trên địa bàn huyện các công
trình công cộng như: chợ, nhà văn hóa, trạm y tế, trường học, sân thể thao, đường
giao thông, rãnh thoát nước, … chưa đầy đủ, chất lượng còn thấp, thiếu đồng bộ do
đó chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt cho người dân.
Môi trường sống của người dân nông thôn đang bị đe dọa bở mức độ ô
nhiễm nguồn nước thải sinh hoạt, rác thải, khói bụi…. Tại các khu dân cư nông
thôn nước thải hầu như được thải trực tiếp ra cống rãnh gần nhà rồi đổ ra ao,
sông…, và rác thải cũng trong tình trạng tương tự, đã và đang ảnh hưởng tới sức
khỏe của người dân địa phương.
Hệ thống đường sắt có những đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế xã
hội trên địa bàn huyện.
(2) Hệ thống đường thủy:
Đường thủy trong phạm vi huyện khai thác cả ở sông Hồng và sông Đuống.
- Sông Hồng có khả năng đáp ứng đi lại cho tàu đến 1000 tấn. Tuy nhiên
do điều kiện địa chất thuỷ văn rất khó tổ chức các cảng sông tại bờ Bắc sông
Hồng (trên địa bàn huyện).
- Trên sông Đuống hiện có hai cảng nhỏ là cảng Đông Trù và cảng của
nhà máy Diêm, Gỗ Cầu Đuống nằm ngoài phạm vi huyện. Mạng lưới giao thông
thuỷ hiện tại chưa được khai thác triệt để.
(3) Hệ thống đường bộ:
a. Hệ thống đường quốc lộ, đường vành đai:
18
- Đường quốc lộ 1A mới (đường vành đai 3) từ Cầu Thanh Trì lên phía
Bắc đi Bắc Ninh, đường đang trong giai đoạn hoàn thiện, đường có mặt cắt thiết
kế rộng 29, 5m và 42m, chiều dài hiện tại trong phạm vi huyện là 5355m.
- Đường quốc lộ 1A cũ chạy từ Tây Nam lên Đông Bắc từ Cầu Đuống,
Yên Viên với chiều dài trong phạm vi huyện là 3895m. Tuyến đường này còn
đóng vai trò là đường đô thị, đường có mặt cắt ngang 10 -12m, mặt đường bê
tông thấm nhập nhựa. Hiện đang được dự kiến mở rộng với mặt cắt rộng 48m.
- Đường quốc lộ 5 đi Hải Phòng, chiều dài tuyến đường trong phạm vi
huyện là 4582m, mặt cắt đường gồm hai dải xe mỗi chiều rộng 10,5m, dải phân
cách trung tâm rộng 0,5m.
- Hiện tại chính phủ đang triển khai đầu tư xây dựng tuyến đường Hà Nội
- Hưng Yên và đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.
Mặc dù trên địa bàn có nhiều tuyến quốc lộ và đường vành đai đi qua,
nhưng các tuyến này chưa được xây dựng đồng bộ, thiếu các đường thu gom,