MỞ ĐẦU
Đất đai - nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc
gia, địa bàn phân bố và nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế, văn hoá xã hội, an
ninh và quốc phòng, giới hạn về diện tích, hình thể nhưng mức độ sản xuất lại
phụ thuộc vào sự đầu tư, hướng khai thác sử dụng của con người.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Điều
18) quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch
và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”. Luật Đất đai
hiện hành quy định: “Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất” là một
trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho
trước mắt mà cả lâu dài. Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương
hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh
thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm tạo cơ sở pháp lý để bố trí sử
dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan môi trường, đồng thời đáp
ứng được yêu cầu thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai, đặc biệt trong giai
đoạn thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Một trong những nhân tố đột phá then chốt để đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước là có những chính sách hợp lý nhằm đẩy nhanh tốc
độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh
tế và cơ cấu vùng kinh tế. Để thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước cũng
như tạo mối liên kết và phối hợp trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng
kinh tế, Chính phủ đã lựa chọn một số tỉnh, thành phố để hình thành nên các
vùng kinh tế trọng điểm quốc gia có khả năng đột phá, tạo động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với tốc độ cao và bền vững, tạo điều kiện
nâng cao mức sống của toàn dân và nhanh chóng đạt được sự công bằng xã hội
trong cả nước.
Theo hướng đó, ngay từ cuối năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
Quyết định số 1018/1997/QĐ-TTg ngày 29/11/1997 về Quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (KTTĐMT), bao gồm 4
tỉnh, thành phố là Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Đến nay
động sử dụng đất trong thời kỳ 1996 - 2005...
2). Từ đó tính toán, tổng hợp và dự báo nhu cầu sử dụng đất của các
ngành, các lĩnh vực đến năm 2010 và 2020.
3). Sau khi đối soát với kết quả điều tra thực tiễn và khả năng đáp ứng
từ quỹ đất đai, tiến hành cân đối giữa các mục đích sử dụng, đề xuất các chỉ
tiêu định hướng, quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và 2020, trong đó:
- Cơ bản đảm bảo quỹ đất cho các ngành, các lĩnh vực theo quy hoạch,
điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh trong vùng đã
được Chính phủ phê duyệt.
- Có sự điều chỉnh một số loại đất đạt tiêu chuẩn đối với các tỉnh dự
báo thấp hơn so với định mức cũng như cân đối phù hợp với các chỉ tiêu sử
dụng đất của vùng được tổng hợp từ các tỉnh theo quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất cả nước đã được Quốc hội phê duyệt.
- Có tính đến mối quan hệ, tính liên kết trong toàn vùng, liên vùng đối
với một số lĩnh vực như: các khu kinh tế (Chân Mây - Lăng Cô - Chu Lai -
2
Dung Quất - Nhơn Hội), các khu đô thị, trung tâm thương mại (Huế - Đà
Nẵng - Vạn Tường - Quy Nhơn), các khu du lịch (Cố đô Huế - Chân Mây -
Lăng Cô - Mỹ Khê - Non Nước - Hội An - Mỹ Sơn - Sa Huỳnh - Quy Nhơn)…
Trong quá trình nghiên cứu, ngoài việc tuân thủ các quy định theo Luật
Đất đai năm 2003 và các văn bản dưới Luật (như Nghị định số 181/2004/NĐ-
CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày
01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường...), Quy hoạch sử dụng đất vùng
KTTĐMT còn được xây dựng dựa trên những văn bản, tài liệu sau:
1). Các văn bản, tài liệu liên quan về đất đai:
- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến
năm 2005 của cả nước; Kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006 - 2010 của cả nước
(đã được Quốc hội phê duyệt).
- Quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010; kế
hoạch sử dụng đất 5 năm (2001 - 2005) và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006
đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 (Quyết định phê duyệt số
139/2006/QĐ-TTg ngày 16/6/2006).
- Quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế mở Chu Lai (Quyết định phê
duyệt số 43/2004/QĐ-TTg ngày 23/3/2004).
- Các văn bản, tài liệu liên quan đến việc thành lập và xây dựng các khu
kinh tế Chu Lai, Chân Mây - Lăng Cô, Nhơn Hội (Quyết định số 108/QĐ-TTg
ngày 25/7/2003, Quyết định số 04/2006/QĐ-TTg ngày 05/01/2006...).
- Kết quả dự báo dân số cho cả nước, các vùng địa lý - kinh tế và 61
tỉnh/thành phố Việt Nam 1999 - 2024.
- Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm
2020 (Quyết định phê duyệt số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23/01/1998).
- Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản cả
nước đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 (Quyết định phê duyệt số
150/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005).
- Quy hoạch tổng thể phát triển thuỷ sản cả nước đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 (Quyết định phê duyệt số 10/2006/QĐ-TTg ngày
11/01/2006).
- Chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam (Quyết định phê
duyệt số 206/2004/QĐ-TTg ngày 10/12/2004).
- Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 (Quyết định phê duyệt số 162/2002/QĐ-
TTg ngày 15/11/2002).
- Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông đường sắt Việt Nam
đến năm 2020 (Quyết định phê duyệt số 06/2002/QĐ-TTg ngày 07/01/2002).
- Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông vận tải đường sông Việt
Nam đến năm 2020 (Quyết định phê duyệt số 16/2000/QĐ-TTg ngày
03/02/2000).
- Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ
sở đến năm 2010 (Quyết định phê duyệt số 271/2005/QĐ-TTg ngày
31/10/2005).
01’ đến 109
0
18’ kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị.
- Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên.
- Phía Đông giáp biển Đông.
- Phía Tây giáp các tỉnh Kon Tum, Gia Lai và nước CHDCND Lào.
Nằm vào trung độ của khu vực miền Trung, trên các trục giao thông
chính xuyên quốc gia (đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng
không), có hệ thống cảng biển, sân bay, là cửa ngõ ra biển của vùng Tây
Nguyên và các quốc gia láng giềng phía Tây như Nam Lào, Đông bắc
Campuchia, Đông bắc Thái Lan... đã tạo cho vùng KTTĐMT có vị trí địa lý
thuận lợi trong việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với vai trò đầu mối
trung chuyển quan trọng mang ý nghĩa quốc gia tới các nước trong khu vực và
trên thế giới.
1.2. Địa hình, địa mạo
Vùng KTTĐMT có địa hình đa dạng, phức tạp, ngoài việc bị chia cắt
bởi khu vực đèo Hải Vân, nhìn chung dáng địa hình của vùng nghiêng dần từ
Tây sang Đông với hình thái một dải hẹp uốn theo hình vòng cung ôm sát
đường bờ biển, nhiều nhánh núi ngang nhô ra sát biển, chia cắt dải đồng bằng
thành nhiều cánh đồng nhỏ, hình thành 4 dạng địa hình chính như sau:
- Địa hình núi trung bình và núi cao: có độ cao trung bình trên 700 m
với độ dốc trên 25
0
. Đây là tiểu vùng nằm ở phía Tây của vùng và phía Đông
của dãy Trường Sơn Nam, địa hình bị chia cắt mạnh, đất đai chủ yếu thuộc
nhóm đất đỏ vàng, đất mùn trên núi và đất xói mòn trơ sỏi đá với thảm thực
vật chủ yếu là rừng, song do độ dốc lớn nên đất đai ở khu vực này thường bị
xói mòn, rửa trôi.
6
nên thường xảy ra các hiện tượng lũ lụt, xói mòn mạnh, ảnh hưởng không nhỏ
đến sản xuất cũng như đời sống của nhân dân trong vùng.
1.3. Khí hậu
Nằm trong khu vực nhiệt đới, gió mùa, bị chi phối bởi quy luật độ cao
và ảnh hưởng của yếu tố địa hình nên khí hậu của vùng có sự biến động và
phân hoá mạnh mẽ theo mùa: mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, mùa
khô từ tháng 1 đến tháng 8 năm sau. Bên cạnh đó, do có sự chia cắt bởi khu
vực đèo Hải Vân nên chế độ khí hậu của vùng có nhiều đặc điểm riêng biệt
với sự hình thành các tiểu vùng khí hậu mang các đặc trưng khác nhau, cụ thể
như sau:
- Tiểu vùng phía Bắc đèo Hải Vân (thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế): Nhiệt
độ trung bình hàng năm dao động từ 21 - 25
0
C và thấp dần về phía miền núi
(thấp hơn khoảng 3
0
C so với đồng bằng ). Đây là một trong những khu vực có
lượng mưa lớn nhất nước ta, trung bình trên 3.030 mm/năm, có nơi hơn 4.500
mm (Nam Đông, A Lưới), tập trung từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, trong đó
tháng 11 có lượng mưa nhiều nhất, chiếm tới 30% lượng mưa cả năm.
7
- Tiểu vùng phía Nam đèo Hải Vân (bao gồm thành phố Đà Nẵng và
các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định):
+ Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24 - 26
0
C, song có sự chênh lệch
giữa các khu vực theo hướng tăng dần về phía đồng bằng (trung bình 25 -
27
0
C), thấp dần về phía miền núi (trung bình 20 - 23
khu vực trên địa bàn vùng. Tuy nhiên, do lượng mưa tập trung và phân hoá
theo mùa cũng như sự khác biệt lượng mưa giữa các khu vực... có ảnh hưởng
khá lớn đến quá trình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn vùng. Vì vậy việc bố
trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng phù hợp với chế độ mưa trên từng
địa bàn cụ thể có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất nhất là ở những khu
vực chưa có công trình thuỷ lợi. Ngoài ra, các yếu tố khí hậu bất lợi khác như
bão, gió mùa Tây Nam khô nóng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và
đời sống của nhân dân trong vùng.
8
1.4. Thuỷ văn, nguồn nước
Vùng KTTĐMT có mạng lưới sông suối tương đối phát triển, phân bố
với mật độ khá cao, trung bình từ 0,5 - 1,2 km/km
2
, chủ yếu bắt nguồn và
chảy trong phạm vi nội vùng với hướng chảy từ Tây sang Đông. Nhìn chung
hệ thống sông suối thường ngắn và dốc, bao gồm các sông chính như: sông
Hương, sông Bồ, sông Truồi, sông Nông (Thừa Thiên - Huế); sông Hàn (Đà
Nẵng); Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ (Quảng Nam); Trà Bồng, Trà Khúc, Sông
Nhuệ, Trà Câu (Quảng Ngãi); Lại Giang, La Tinh, sông Côn, sông Hà Thanh
(Bình Định)...
Do điều kiện yếu tố độ dốc địa hình nên chế độ thủy văn của các sông
đa phần mang đặc điểm: vào mùa mưa dòng chảy lớn ở thượng nguồn, nước
lũ dồn về nhanh trong khi đoạn hạ lưu độ dốc nhỏ, cửa sông cạn, hẹp, do vậy
khả năng thoát lũ chậm, thường gây lũ lụt ở đồng bằng (nhất là khi trùng với
thời kỳ triều cường); trong khi vào mùa khô dòng chảy nhỏ, gây khô hạn, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và sinh hoạt. Vì vậy, mặc dù phần lớn các
khu vực trong vùng có thể tự cân đối được nguồn nước thông qua hệ thống
công trình thuỷ lợi, hồ chứa..., nhưng biện pháp trữ nước thông qua hệ thống
hồ chứa vẫn là một vấn đề cần được quan tâm nhiều, nhằm hạn chế lũ lụt
trong mùa mưa cũng như giải quyết yêu cầu về nước trong mùa khô.
bồi, chủ yếu ở Thừa Thiên Huế và Quảng Nam.
+ Đất phù sa ngòi suối: phân bố thành từng dải hẹp ven các sông, suối
nhỏ tập trung ở các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng.
+ Đất phù sa gley: phân bố rải rác ở các tỉnh trong vùng, nơi có địa
hình thấp trũng, dễ đọng nước hoặc nơi có mực nước ngầm gần mặt đất.
+ Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng: phân bố ven các sông, tập trung
nhiều ở các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.
+ Đất phù sa phủ trên nền cát: phân bố ở địa hình thấp, bằng phẳng của
các huyện đồng bằng ven biển thuộc tất cả các tỉnh trong vùng.
+ Đất phù sa chua: phân bố ở tỉnh Bình Định.
Về cơ bản, nhóm đất phù sa phân bố ở địa hình tương đối bằng phẳng,
tập trung ở phần hạ lưu các con sông, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung
bình, độ dày tầng đất trên 100 cm, độ phì và hàm lượng dinh dưỡng từ trung
bình đến khá, thích hợp với nhiều loại cây trồng (cây lương thực, hoa màu,
cây công nghiệp ngắn ngày...). Tuy nhiên, tùy theo từng khu vực cụ thể mà
các loại đất có những tính chất, hàm lượng dinh dưỡng... khác nhau, do đó
mức độ đầu tư, bồi dưỡng đất cũng như việc bố trí cây trồng thích hợp rất cần
được chú ý nhằm đem lại hiệu quả cao.
- Nhóm đất xám: Diện tích 842.439 ha, chiếm 30,21% đất tự nhiên toàn
vùng, phân bố ở các tỉnh Bình Định (425.835 ha), Quảng Ngãi (376.547 ha)
và Quảng Nam (40.057 ha), được chia thành 6 loại:
+ Đất xám feralit: phân bố chủ yếu ở khu vực phía Đông dãy Trường
Sơn thuộc tỉnh Bình Định.
+ Đất xám bạc màu: phát triển trên phù sa cổ, đá macmaaxit và đá cát,
10
phân bố chủ yếu ở Quảng Nam.
+ Đất xám điển hình: phân bố ở bậc thềm cao hơn và nằm tiếp giáp đất
phù sa.
+ Đất xám gley: phân bố ở địa hình thấp, trũng, có điều kiện ngập
nước.
11
nâu đỏ trên đá Gabrrô, điôrit được phân bố rải rác ở các tỉnh trong vùng.
Nhìn chung, nhóm đất đỏ được phân bố ở nhiều dạng địa hình khác
nhau, song chủ yếu ở địa hình cao và rất cao nên chịu nhiều tác động của
xói mòn, rửa trôi. Đất thường chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp thụ
không cao, nhiều khu vực xuất hiện quá trình tích luỹ Fe, Al, đa phần được
sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, một phần nhỏ được cải tạo để sản xuất
nông nghiệp (trồng các loại cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày), còn
lại là đất trống đồi núi trọc.
- Nhóm đất đen: Có 2.792 ha, chiếm 0,10% diện tích tự nhiên toàn
vùng, phân bố tập trung ở Quảng Ngãi và Quảng Nam. Đất có thành phần cơ
giới trung bình, phản ứng từ trung tính đến ít chua, hàm lượng mùn và đạm
tổng số khá, lân tổng số cao, thích hợp với nhiều loại cây trồng cạn.
- Nhóm đất mùn alit trên núi cao: Diện tích 98.297 ha, chiếm 3,53%
diện tích đất tự nhiên, phân bố ở độ cao trên 700 m, thuộc địa bàn các tỉnh
Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, bao gồm 3 loại:
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất: phân bố tập trung ở Quảng
Nam.
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá macma axit: phân bố rải rác ở các tỉnh
Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.
+ Đất mùn vàng nhạt trên đá cát: phân bố ở tỉnh Quảng Nam.
Đây là nhóm đất có độ phì khá, hàm lượng mùn cao nhưng do phân bố
ở địa hình núi cao, dốc và chia cắt nên đất thường chua, tầng mỏng, chỉ thích
hợp cho mục đích phát triển cây lâm nghiệp.
- Nhóm đất mặn: Có 22.646 ha, chiếm 0,81% diện tích tự nhiên, phân
bố ở tất cả các tỉnh trong vùng song chủ yếu ở Quảng Nam (13.234 ha) và
Bình Định (6.365 ha). Tùy theo tính chất và đặc điểm hình thành, đất mặn
được chia thành 3 loại gồm: đất mặn sú vẹt đước, đất mặn nhiều, đất mặn ít
và trung bình.
Đất mặn thường phân bố ở khu vực ven biển, cửa sông, hình thành do sự
tổng số từ nghèo đến trung bình, mức độ phân giải chất hữu cơ yếu, thích hợp
để trồng lúa, rau màu hoặc cây công nghiệp ngắn ngày.
- Nhóm đất tầng mỏng: Có 22.229 ha, chiếm 0,80% diện tích tự nhiên,
phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi của tỉnh Bình Định, trên sản phẩm phong hoá
của đá granit ở địa hình chia cắt, dốc, lượng mưa nhiều, quá trình rửa trôi, xói
mòn mạnh, đất có phản ứng chua, hàm lượng mùn, đạm tổng số khá, lân và
kali tổng số nghèo, thích hợp khoanh nuôi phát triển rừng.
- Nhóm đất nứt nẻ: Diện tích 634 ha, phân bố ở Quảng Ngãi, đất có
thành phần thịt nặng hoặc sét, hơi chua, hàm lượng chất hữu cơ từ khá đến
giàu, các chất dinh dưỡng đều thấp, nếu được đầu tư có thể đưa vào sản xuất
nông nghiệp.
- Nhóm đất than bùn: Diện tích 120 ha, tập trung ở tỉnh Bình Định,
phân bố ở địa hình thấp trũng, có phản ứng chua, thành phần cơ giới nhẹ, hàm
lượng chất dinh dưỡng từ nghèo đến trung bình tùy theo độ sâu tầng đất.
Tóm lại: Mặc dù tài nguyên đất của vùng khá đa dạng về chủng loại
song số lượng đất tốt không nhiều, cùng với điều kiện bất lợi về địa hình, khí
13
hậu... đã hạn chế rất lớn đến sản xuất nông nghiệp của vùng.
2.2. Tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên biến động khá rõ theo sự phân hóa mùa trong
năm trên địa bàn vùng, được cấu thành từ hai nguồn: nước mặt và nước ngầm.
- Nước mặt: được phân bố trên hệ thống sông suối và hồ chứa với lưu
lượng nước khá phong phú như: sông Hàn - lượng nước bình quân đạt 7 tỷ
m
3
/năm, sông Hương - 3,8 tỷ m
3
/năm, sông Cu Đê - 0,6 tỷ m
3
/năm... Nhìn
/ngày, Quy
Nhơn 17.983 m
3
/ngày; khu vực thị xã Quảng Ngãi 20.000 m
3
/ngày, khu vực
đồng bằng Bắc sông Vệ 1.000 m
3
/ngày, khu vực đồng bằng Mộ Đức - Đức
Phổ 2.000 m
3
/ngày…
Nhìn chung, tài nguyên nước ngầm trên địa bàn vùng rất hạn chế, chủ
yếu khai thác ở quy mô nhỏ phục vụ cho sinh hoạt và một phần cho sản xuất
nông nghiệp. Tuy nhiên trên địa bàn vùng lại có tiềm năng nước khoáng,
nước nóng khá phong phú, phân bố ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,
Bình Định, hiện đang được khai thác sử dụng cho các mục đích như an dưỡng
chữa bệnh, đóng chai giải khát, phục vụ du lịch…
Trong điều kiện nguồn nước ngầm không ổn định, khó khai thác thì vấn
đề nước mặt là yếu tố tác động rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân
trong vùng. Với địa hình hẹp, dốc, sự phân phối dòng chảy trong năm không
đều, để duy trì, điều tiết đảm bảo sự cân bằng nước của vùng, cần thiết phải
bảo vệ và trồng lại rừng đầu nguồn, đầu tư thích đáng xây dựng hệ thống thủy
14
lợi với các công trình như hồ chứa, đập dâng…
2.3. Tài nguyên biển, ven biển
Với khoảng 590 km chiều dài bờ biển đã tạo cho vùng KTTĐMT có
nhiều lợi thế trong việc khai thác các nguồn lợi biển và được thể hiện qua một số
mặt:
- Việc hình thành nhiều cảng biển lớn như cảng Thuận An, Chân
khỉ, sơn dương, heo rừng, chồn, cheo, mèo rừng, sóc chân vàng, voọc ngũ
15
sắc, khỉ đuôi dài, voọc xanh bạc, gà tiền mặt đỏ, gà lôi hồng tía, trăn gấm...;
Chim có các loài đại diện gồm có: công, đại bàng đất, gà lôi, bìm bịp và một
số loài khác, đặc biệt chim yến cho sản phẩm có giá trị cao, nổi tiếng trong
nước và quốc tế. Ngoài ra, còn có 1 số loài chim nước, chim di cư, chim biển
và các loại bò sát…
Nhìn chung, vùng KTTĐMT chứa đựng tài nguyên động, thực vật khá
phong phú, song do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho nguồn tài
nguyên rừng ngày càng dần suy giảm. Vì vậy, việc bảo vệ nghiêm ngặt các
loài thực vật, động vật đang tồn tại là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc
duy trì đa dạng tài nguyên sinh vật để phát triển bền vững, đặc biệt với vai trò
cân bằng sinh thái, điều tiết nguồn nước nhằm hạn chế lũ lụt và hạn hán ở hạ
lưu vùng.
2.5. Tài nguyên khoáng sản
Theo đặc điểm cấu tạo địa chất và sinh khoáng, vùng KTTĐMT có
tiềm năng khoáng sản vào loại lớn của nước ta với chủng loại và trữ lượng
khá phong phú, trong đó:
- Vật liệu xây dựng: phân bố ở tất cả các tỉnh trong vùng, bao gồm các
loại: đá Granit (Quảng Ngãi khoảng 4 triệu tấn, Bình Định 500 triệu tấn…), đá
xây dựng (Quảng Ngãi 7 tỷ m
3
, Bình Định 700 triệu m
3
…), đá vôi (Thừa Thiên
Huế khoảng 1.040 triệu m
3
…), cát thuỷ tinh (Thừa Thiên Huế trên 50 triệu
tấn…), cao lanh (Quảng Ngãi trên 4 triệu tấn, Bình Định khoảng 28 triệu m
3
tiếng nói riêng... tạo nên bản sắc văn hoá khá đa dạng, phong phú, mang đậm
những yếu tố văn hoá bản địa cổ xưa, trong đó nổi lên bản sắc văn hoá lịch sử
dân gian truyền thống với các loại hình nghệ thuật độc đáo như nhã nhạc cung
đình Huế, Ca chòi, Ca Lêu, Xà Ru, A Giới, Cà Lù, Cor Nghé, Plét... Đặc biệt,
bề dày lịch sử của vùng đất này còn được thể hiện qua các di chỉ cổ xưa như:
văn hoá Sa Huỳnh, di chỉ Gò Đá, di chỉ Bình Châu (Quảng Ngãi); nhiều di
tích lịch sử nổi tiếng như quần thể di tích Huế, đô thị cổ Hội An, thánh địa
Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới…
Về tập quán sản xuất đã hình thành nhiều nghề mang tính nghệ thuật
nổi tiếng như: điêu khắc Chàm, đúc đá Non Nước, làng mộc Kim Bồng, gốm
Thanh Hà, dâu tằm Duy Trình, đúc đồng Phước Kiều…
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, các dân tộc trên địa
bàn vùng đã đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần xứng đáng cùng
cả nước hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ, để lại ngày
nay nhiều di tích lịch sử như: nhà chứng tích chiến tranh ở Sơn Mỹ, di tích
lịch sử Ba Tơ…
Với tài nguyên như trên, việc quan tâm đến tập quán của mỗi dân tộc để
bố trí phân bổ sử dụng đất đai là vấn đề cần được xem xét trong quy hoạch nhằm
khai thác triệt để các nguồn lực, tiềm năng, góp phần phát triển kinh tế của vùng.
3. Khái quát cảnh quan, môi trường
3.1. Điều kiện cảnh quan
Là địa bàn vừa có núi, có đồng bằng, có biển, nhiều di sản văn hoá độc
đáo nên cảnh quan của vùng khá phong phú, đa dạng với nhiều thắng cảnh
đẹp, nổi tiếng, rất thích hợp cho phát triển du lịch. Trong đó đáng kể như:
- Quần thể di tích cố đô Huế, đô thị cổ Hội An nổi bật với nét đẹp về
17
cảnh quan kiến trúc.
- Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm (Đà Nẵng) hấp dẫn du khách
với tài nguyên sinh vật phong phú (khỉ vàng, sóc chân vàng, chim yến, san
hô…).
+ Môi trường không khí: Trên địa bàn các tỉnh trong vùng, hầu hết các
đô thị và khu công nghiệp đều bị ô nhiễm nặng về bụi. Nồng độ bụi trong
không khí vượt quá trị số tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 - 3,0 lần (đặc biệt là
18
thành phố Đà Nẵng và thị xã Tam Kỳ). Nồng độ khí SO
2
ở khu vực xung
quanh một số nhà máy, xí nghiệp (như nhà máy thép Đà Nẵng) vượt quá trị số
tiêu chuẩn cho phép từ 1,1 - 2,7 lần.
+ Môi trường nước: Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết chất lượng nước
các sông trên địa bàn vùng tương đối ổn định, các chỉ tiêu đều nằm trong giới
hạn cho phép. Tuy nhiên, tại Đà Nẵng chất lượng nước đoạn hạ lưu sông Hàn
đã bị ô nhiễm với nồng độ COD cực đại lên tới 16 - 25 mg/l, nồng độ chì 0,004
- 0,010 mg/l, thủy ngân 8 - 10 µg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5942 -
1995)…
- Suy thoái môi trường biển và ven bờ do chất thải: Chất thải từ các
hoạt động du lịch, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp (công nghiệp đóng tàu,
cảng dầu, chế biến hải sản...) đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và
môi trường ven biển. Kết quả điều tra cho thấy, ở các bến cảng, vũng vịnh
như cảng Sông Hàn (Đà Nẵng), cửa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi)... đặc biệt là các
khu vực biển có cảng cá hoạt động, môi trường nước đều đã bị ô nhiễm với
hàm lượng chất dinh dưỡng, hữu cơ và tổng Coliform tương đối cao. Ngoài
ra, chất thải sinh hoạt của dân cư vùng cửa sông, ven biển cùng với quá trình
khai thác nguồn tài nguyên biển bằng các phương pháp sử dụng chất nổ, điện,
lưới quét... cũng là những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng môi trường
ven biển.
- Suy thoái môi trường đất do hoạt động sản xuất nông nghiệp: Quá
trình canh tác chưa hợp lý, đặc biệt là trên đất dốc đã dẫn đến hiện tượng rửa
trôi, xói mòn, bạc màu đất; hàng trăm ha đất sản xuất bị cát bay bồi lấp, nước
mặn xâm nhập hàng năm. Việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu chưa
là điều kiện thúc đẩy phát triển các ngành nông lâm thuỷ sản.
- Về chiến lược quốc phòng, ngoài quần đảo Hoàng Sa thì với vai trò là
"xương sống gánh 2 đầu đất nước" đã mang lại cho vùng KTTĐMT vị trí hết
sức quan trọng trong việc phòng thủ Quốc gia.
4.2. Những khó khăn, hạn chế
- Do có vị trí phía Đông giáp biển, phía Tây giáp núi cao, địa hình phức
tạp, hẹp, sông suối ngắn và dốc nên:
+ Hàng năm thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, lũ lụt; ngập úng
vào mùa mưa; hạn hán, xâm nhập mặn vào mùa khô, gây thiệt hại nghiêm
trọng về kinh tế, ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống dân sinh.
+ Khó khăn trong việc đầu tư khai hoang, cải tạo đồng ruộng và xây
dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đối với giao thông và thủy lợi.
- Tài nguyên rừng bị suy giảm về trữ lượng, chất lượng, tính đa dạng
sinh học; quy mô tài nguyên khoáng sản không lớn; số lượng đất tốt thích hợp
cho sản xuất nông nghiệp không nhiều, nguy cơ thoái hóa do nhiễm mặn khu
vực ven biển, xói mòn rửa trôi ở khu vực đồi núi có chiều hướng gia tăng…
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Khái quát thực trạng phát triển kinh tế
1.1. Tăng trưởng kinh tế
Trong xu thế phát triển chung của cả nước, những năm qua nền kinh tế
20
- xã hội vùng KTTĐMT đã đạt nhiều tiến bộ quan trọng và có sự chuyển biến
tích cực, sản xuất đang dần tăng tốc, đời sống nhân dân từng bước được cải
thiện, xuất hiện nhiều nhân tố mới, những mô hình tốt tạo đà cho đổi mới phát
triển trong giai đoạn tới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt cao hơn nhiều so với
mức trung bình cả nước, thể hiện ở bảng sau:
BẢNG 1: GDP CỦA VÙNG KTTĐMT SO VỚI CẢ NƯỚC THỜI KỲ 1996 - 2005
Chỉ tiêu
Tổng sản phẩm GDP (tỷ đồng)
(Giá hiện hành)
21
Chỉ tiêu Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005
Toàn vùng 100,0 100,0 100,0
- Nông lâm thuỷ sản 39,4 31,1 22,3
- Công nghiệp và xây dựng 21,0 28,3 37,3
- Dịch vụ 39,6 40,6 40,4
Cả nước 100,0 100,0 100,0
- Nông lâm thuỷ sản 26,3 23,3 19,6
- Công nghiệp và xây dựng 29,9 35,4 40,1
- Dịch vụ 43,8 41,3 40,3
Tuy cơ cấu kinh tế toàn vùng có sự chuyển dịch đúng hướng, song tốc
độ chuyển dịch trong nội bộ từng tỉnh, thành phố cũng như giữa các địa
phương trong vùng cũng có sự khác biệt khá lớn:
BẢNG 3: TỐC ĐỘ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU GDP (%)
CỦA CÁC TỈNH TRONG GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
Chỉ tiêu TT Huế Đà Nẵng Q. Nam Q. Ngãi Bình Định
- Nông lâm thuỷ sản - 3,2 - 2,1 - 10,0 - 9,6 - 4,6
- Công nghiệp và xây dựng + 5,0 + 7,8 + 7,2 + 6,5 + 5,4
- Dịch vụ - 1,8 - 5,7 + 2,8 + 3,1 - 0,8
2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
2.1. Khu vực kinh tế nông - lâm - thủy sản
Mặc dù không phải là vùng có tiềm năng phát triển nông nghiệp ở nước
ta, song trong những năm qua nông lâm thuỷ sản vẫn giữ vai trò quan trọng,
đóng góp chủ yếu cho nền kinh tế chung của vùng với tốc độ tăng bình quân
5,02%/năm (giai đoạn 2001 - 2005); tổng giá trị sản xuất tăng từ 5.592,3 tỷ
đồng năm 1995 lên 7.559,8 tỷ đồng năm 2000 và đạt 9.519,6 tỷ đồng vào năm
2005 (giá cố định 1994).
Cơ cấu trong nội bộ ngành có sự chuyển dịch hợp lý trên cơ sở phát
huy lợi thế về tiềm năng biển của vùng: tỷ trọng nông, lâm nghiệp giảm từ
81,86% năm 1995 xuống còn 68,09% năm 2005, trong khi tỷ trọng thuỷ sản
vùng và có nhu cầu xuất khẩu lớn, do đó diện tích được mở rộng lên 49,1
nghìn ha năm 2005 (gấp 1,43 lần so năm 2000), trong khi diện tích khoai lang
giảm từ 35,9 nghìn ha năm 1995 xuống còn 16,1 nghìn ha năm 2005.
Trong các loại cây công nghiệp hàng năm, mía là cây cho sản phẩm
hàng hóa lớn nên được phát triển với tốc độ khá nhanh, đạt 12,9 nghìn ha vào
năm 2005 với sản lượng 631,5 nghìn tấn (tập trung ở Quảng Ngãi và Bình
Định), có thể xem đây là lợi thế để so sánh với các cây khác có điều kiện
tương tự.
Đối với cây công nghiệp lâu năm, điều là cây có diện tích lớn nhất và
có tiềm năng mở rộng, trong khi cà phê, dừa có xu hướng giảm (tập trung ở
Quảng Ngãi và Bình Định); ngoài ra còn một số cây có triển vọng phát triển
23
như dâu tằm, chè, hồ tiêu, ca cao, cao su... nhưng diện tích, sản lượng hiện
nay còn nhỏ.
- Về chăn nuôi: Những năm gần đây, chăn nuôi của vùng đã được quan
tâm đầu tư, phát triển khá về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng, đa dạng
hóa và tăng giá trị hàng hóa sản phẩm chăn nuôi. Theo số liệu thống kê, năm
2005 đàn trâu có 163,7 nghìn con, chiếm 5,60% trong cả nước (tập trung nhiều
ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và Thừa Thiên Huế); đàn bò có 759,6 nghìn con,
chiếm 13,71% cả nước (chủ yếu ở Bình Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam); đàn
gia cầm có 12,41 triệu con, chiếm 5,64% trong cả nước (tập trung ở Quảng
Nam, Quảng Ngãi và Bình Định). Tồn tại của ngành chăn nuôi nói chung hiện
nay là chất lượng giống kém, công tác thú y chưa tốt và khó khăn về thị trường
tiêu thụ.
b. Sản xuất lâm nghiệp:
Được sự quan tâm của Nhà nước, nhất là nhờ chủ trương đóng cửa
rừng và đẩy mạnh thực hiện các chương trình 327, PAM, 661, 135, 133, giao
khoán rừng cho hộ gia đình quản lý... đã tạo điều kiện cho lâm nghiệp của
vùng phát triển, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng phá rừng, góp phần nâng
cao tỷ lệ che phủ của rừng lên đạt 40,32% (năm 2005), chuyển từ một nền lâm
94,10% năm 2005, tăng tỷ trọng nuôi trồng từ 2,44% lên 5,90%, phù hợp với
xu hướng chung của cả nước.
BẢNG 5: SẢN LƯỢNG, CƠ CẤU THUỶ SẢN QUA CÁC NĂM
Chỉ tiêu Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005
Sản lượng toàn vùng (tấn) 154.761 230.656 322.537
- Khai thác 150.979 222.537 303.504
- Nuôi trồng 3.782 8.119 19.033
Cơ cấu (%) 100,00 100,00 100,00
- Khai thác 97,56 96,48 94,10
- Nuôi trồng 2,44 3,52 5,90
Tỷ trọng so với cả nước (%) 9,77 10,24 9,40
- Khai thác 12,63 13,40 15,21
- Nuôi trồng 0,97 1,38 1,32
Ngoài ra, trên địa bàn vùng còn có hoạt động sản xuất diêm nghiệp,
phân bố chủ yếu ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định; tuy nhiên quy mô diện
tích sản xuất có xu hướng giảm do chuyển đổi sang phát triển nuôi tôm. Phần
diện tích còn lại hiện nay nhìn chung đang được khai thác hiệu quả, chất
lượng muối tốt, được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc.
* Nhận xét chung:
- Những thành tựu đạt được: Trong những năm qua nền kinh tế nông
lâm ngư nghiệp trên địa bàn vùng KTTĐMT đã đạt được những kết quả nhất
định:
+ Tuy có điểm xuất phát thấp, điều kiện tự nhiên không thuận lợi
nhưng đến nay sản xuất nông nghiệp của vùng phát triển khá ổn định, đảm
bảo nhu cầu lương thực và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
+ Việc quản lý, bảo vệ và từng bước khai thác hiệu quả, hợp lý vốn
rừng không những góp phần phát triển bền vững mà còn giữ vai trò quan
trọng trong sự phát triển đa dạng cơ cấu nền kinh tế.
+ Tiềm năng, lợi thế biển và ven biển đã được phát huy hiệu quả, dần
đưa kinh tế thuỷ sản trở thành ngành sản xuất chủ đạo trong cơ cấu ngành