Nghiên cứu, phát hiện những bất cập trong chế định thừa kế của bộ luật dân sự 2005 - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VƢƠNG THỊ VÂN ANH

NGHIÊN CỨU, PHÁT HIỆN NHỮNG
BẤT CẬP TRONG CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VƢƠNG THỊ VÂN ANH

NGHIÊN CỨU, PHÁT HIỆN NHỮNG
BẤT CẬP TRONG CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHÙNG TRUNG TẬP

HÀ NỘI - 2014



NHỮNG NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM....... 9

1.2.1.

Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công
dân ...................................................................................................... 10

1.2.2.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế ............ 11

1.2.3. Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế ................... 12
1.2.4. Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm
mở thừa kế .......................................................................................... 15
1.3.

KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT
VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM ........................................................... 16

1.3.1. Giai đoạn trước Cách mạng Tháng 8/1945 ........................................ 17
1.3.2. Giai đoạn từ Cách mạng Tháng 8/1945 đến trước 01/7/1996 ............ 27
1.3.3. Giai đoạn từ 01/07/1996 đến nay ....................................................... 33
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 37


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM ..... 38
2.1.

PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................ 38


3.4.

THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT........................................................ 84

3.4.1. Thừa kế thế vị ..................................................................................... 84
3.4.2. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế......................... 86
3.5.

HẠN CHẾ PHÂN CHIA DI SẢN ..................................................... 86

3.6.

THỪA KẾ THEO DI CHÚC ............................................................. 87

3.6.1. Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế ..................................... 87
3.6.2. Di sản dùng vào việc thờ cúng ........................................................... 88

5


3.7.

THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ............................................... 92

3.8.

GIẢI QUYẾT THỪA KẾ CỔ PHẦN NGÂN HÀNG PHẢI
PHÙ HỢP VỚI PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ............................... 96


HĐTP

Hội đồng thẩm phán

HNGĐ

Hôn nhân gia đình

HVLL

Hoàng Việt luật lệ

Luật HN & GĐ

Luật Hôn nhân và gia đình

NN

Nhà nước

NVTS

Nghĩa vụ tài sản

PLTK

Pháp lệnh thừa kế

PLVTK


TTLK

Trung tâm lưu ký

UBND

Ủy ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, Thừa kế là một trong
những chế định có vai trò quan trọng trong việc dịch chuyển tài sản của người
chết để lại cho những người thừa kế của họ theo di chúc hoặc theo quy định
của pháp luật.
Có thể nói, Chế định Thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2005 được
Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày
01/01/2006 là một chế định khá hoàn chỉnh. Để đảm bảo việc thi hành Bộ
luật, hiện nay Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ đang soạn
thảo, chuẩn bị ban hành các luật chuyên ngành, các pháp lệnh và nghị định
hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm
2005 hiện nay vẫn chưa có kế hoạch sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng các văn
bản dưới luật quy định chi tiết hay hướng dẫn thi hành. Trong khi đó, việc áp
dụng chế định này trong thực tiễn vẫn còn gặp nhiều vướng mắc do đa số các
vụ việc về thừa kế đều khá phức tạp, qui định của pháp luật trong việc điều
chỉnh các quan hệ về thừa kế chưa thật sự đầy đủ và mang tính cụ thể nên quá

phong phú. Do vậy, Thừa kế đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm
nghiên cứu.
Các đề tài nghiên cứu về Thừa kế khá nhiều và được thực hiện ở các cấp
độ khác nhau như khóa luận tốt nghiệp, luận văn cao học, luận án tiến sĩ…
Trước khi BLDS được ban hành, đã có rất nhiều nghiên cứu về thừa kế
dưới góc độ sách pháp luật thường thức như: "Câu hỏi và giải đáp PLTK"
năm 1994 của Luật sư Lê Kim Quế; "Hỏi đáp về PLTK" năm 1995 của Trần
Hữu Bền và TS. Đinh Văn Thành.
Sau khi BLDS 1995 được ban hành thì việc nghiên cứu đề tài về Thừa
kế vẫn nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về

2


Thừa kế để làm luận văn thạc sĩ, tiến sĩ. Tiểu biểu là: TS. Phùng Trung Tập
với đề tài "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam" năm 2001; TS.
Phạm Ánh Tuyết với đề tài "Thừa kế theo di chúc theo quy định BLDS Việt
Nam" năm 2003; Ths. Nguyễn Hải An nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề về
thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam" năm 2004;
Ths. Nguyễn Hồng Nam nghiên cứu đề tài "Các điều kiện có hiệu lực di
chúc" năm 2005... Ngoài ra, đề tài về Thừa kế còn được nghiên cứu và đăng
trên các báo, tạp chí như Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Đặc san
khoa học pháp lý… Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các tác giả
nói trên mới dừng lại phân tích các quy định của pháp luật về Thừa kế ở một
góc độ, một khía cạnh nhất định. Các công trình nghiên cứu dưới góc độ lý
luận hoàn thiện PLVTK còn ít, chưa có tính chất hệ thống, khái quát. Vì vậy,
có thể khẳng định rằng, luận văn này là một công trình khoa học đầu tiên,
nghiên cứu chuyên sâu phát hiện những vướng mắc, bất cập trong chế định
thừa kế của BLDS năm 2005 là một đề tài hoàn toàn độc lập, không có sự
trùng lắp với bất kỳ một công trình nào của người khác.

nêu lên những vướng mắc, bất cập của chế định thừa kế và đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện chế định thừa kế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở
lý luận cho việc sửa đổi, bổ sung BLDS 2005. Ngoài ra, luận văn còn là
tài liệu tham khảo phục vụ công việc nghiên cứu giảng dạy và học tập của
cán bộ, giáo viên và sinh viên các Trường đại học, Cao đẳng, Trung học
chuyên nghiệp.
- Về thực tiễn: Luận văn đề ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện PLVTK,
giúp cho việc áp dụng pháp luật về thừa kế có hiệu quả.

4


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục, luận văn được bố cục 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của chế định thừa kế
Chương 2. Thực trạng pháp luật về thừa kế ở Việt Nam
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam

5


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm Pháp luật về thừa kế
Theo pháp luật dân sự Việt Nam, Thừa kế chính là việc chuyển dịch tài
sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có

Như vậy, tương ứng với mỗi giai đoạn lịch sử phát triển nhất định là sự phát
triển của lực lượng sản xuất, hình thức gia đình,.. sự thay đổi quan hệ sở hữu
và theo đó việc thừa kế tài sản cũng thay đổi.
Ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và
thừa kế đã xuất hiện như một yếu tố khách quan và nó thuộc về phạm trù kinh
tế. Thừa kế xuất hiện dựa trên chế độ sở hữu. Sở hữu và thừa kế có mối quan
hệ vô cùng mật thiết, nếu yếu tố sở hữu là tiền đề phát sinh thừa kế thì thừa kế
chính là phương tiện duy trì, củng cố quan hệ sở hữu.
Theo tiến trình phát triển của xã hội, cùng với sự phát triển của lực
lượng sản xuất, năng suất lao động ngày càng được nâng cao, của cải xã hội
ngày càng được làm ra nhiều hơn, không chỉ đảm bảo cho sinh hoạt gia đình
và cộng đồng thị tộc, bộ lạc mà còn dư thừa sản phẩm. Từ khi có của cải dư
thừa, những người có quyền hành trong thị tộc, bộ lạc đã lợi dụng địa vị của
mình để chiếm hữu số của cải dư thừa đó làm của riêng. Chế độ tư hữu xuất
hiện, xã hội nguyên thuỷ bắt đầu tan rã và nhường chỗ cho một chế độ xã hội
mới trong đó đã có sự phân hoá giai cấp.
Khi giai cấp đã xuất hiện trong xã hội, các giai cấp có quyền lợi đối lập
nhau (giai cấp thống trị và giai cấp bị trị), sự đối kháng giai cấp là điều tất
yếu. Các giai cấp luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt để bảo vệ lợi ích của
giai cấp mình. Tổ chức thị tộc trở nên bất lực trước yêu cầu giải quyết mâu
thuẫn xã hội, lúc này "xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để

7


dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy hoặc cùng lắm là để cho
cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi
là hợp pháp. Tổ chức đó là nhà nước và nhà nước đã xuất hiện" [15, tr.38].
Thừa kế được hình thành từ khi xã hội chưa phân chia giai cấp, nhưng
khái niệm pháp luật về thừa kế chỉ ra đời và tồn tại trong những xã hội đã

theo hàng nhận di sản của ông, bà nội, ngoại, các cụ nội, ngoại. Đây là một
qui định rất đặc thù, bởi vì cháu, chắt của người để lại di sản đã là những
người thừa kế thế vị theo qui định tại điều 677 rồi. Lợi ích của cháu, của chắt
nội, ngoại của người để lại di sản được bảo đảm thực hiện theo những qui
định tại các Điều 676 và 677 Bộ luật dân sự [84, phần 4].
Đặc điểm thứ ba, pháp luật thừa kế Việt Nam quan tâm đến phong
tục phổ biến trong nhân dân và bảo đảm cho phong tục tốt đẹp đó được
thực hiện theo qui định của pháp luật. Pháp luật thừa kế Việt Nam qui định
về người lập di chúc có quyền để lại một phần di sản dùng vào việc thờ
cúng theo qui định tại Điều 670. Đây là một qui định mang tính kế thừa các
luật Cổ Việt Nam, nhưng được qui định rộng rãi và có thể áp dụng một
cách linh hoạt hơn những qui định về di sản thờ cúng trong các đạo luật
của các thời kỳ trước đây [84, phần 4].
1.2. NHỮNG NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM
Nguyên tắc PLVTK là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt
trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện PLVTK. Từ khi hình thành đến
nay, những nguyên tắc PLVTK ở nước ta có sự thay đổi phù hợp với bản chất
của nhà nước ở từng giai đoạn lịch sử. Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở
Việt Nam được áp dụng chung cho hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa
kế theo pháp luật. Những nguyên tắc này xuất hiện trong các văn bản pháp
luật đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Dựa trên Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh số 97-SL ngày 22.5.1950 đã
qui định những nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ: “đàn bà ngang quyền

9


với đàn ông về mọi phương diện” [48, Điều 5]. Nguyên tắc này được coi như
một định hướng chủ đạo trong việc xây dựng các qui phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thừa kế tài sản nói riêng trong

kế. Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế còn thể hiện trong việc đảm bảo cho mọi
công dân có quyền sở hữu hợp pháp như của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh
hoạt, tư liệu sản xuất, không giới hạn về số lượng hay giá trị ... Tất cả mọi tài sản
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân là di sản thừa kế khi người đó chết,
được Nhà nước tôn trọng và pháp luật bảo vệ [67, Điều 631].
1.2.2. Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân là một trong những
nguyên tắc Hiến định. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên đã qui định “Tất cả công
dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế,văn hóa”.
Hiến pháp 1959, 1980, 1992 đều kế thừa và phát triển nguyên tắc này.
Ngay khi Sắc Lệnh 97-SL ra đời, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
của công dân về thừa kế đã được ghi nhận. Theo Điều 11 của Sắc lệnh 97
Trong lúc sinh thời, người chồng góa hay người vợ góa, các con
đã thành niên có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của
người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung. Sắc lệnh cũng quy định
rằng “vợ và chồng có địa vị bình đẳng trong gia đình” và “người đàn bà
có chồng có toàn năng lực về hộ” [48, Điều 11].
So với các qui định của chế độ thực dân, phong kiến thì qui định này đã
loại bỏ được quan điểm trọng nam khinh nữ, đảm bảo quyền công dân.
Kế thừa và phát huy các văn bản pháp luật trước đó, trải qua nhiều lần
sửa đổi, bổ sung, trong các văn bản pháp luật nguyên tắc này vẫn được ghi
nhận và ngày càng cụ thể hóa hơn. Nguyên tắc này là sự cụ thể hóa một phần
các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự. Điều 52 Hiến pháp 1992 ghi nhận
"mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" [65, Điều 52] và Điều 5 BLDS
2005 qui định "trong quan hệ dân sự các bên đều bình đẳng, không được lấy
lý do về khác biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín
11


ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng

dân, tổ chức. Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được hiểu theo hai chủ thể nhất
định, đó là chủ thể để lại tài sản và chủ thể hưởng thừa kế di sản.
Trên cơ sở của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận
được qui định tại Điều 7 BLDS, pháp luật thừa kế tôn trọng ý chí của
người có quyền thừa kế và bảo đảm một cách nhất quán nguyên tắc này
với các qui định cụ thể về quyền của cá nhân để lại tài sản và quyền của
cá nhân hưởng thừa kế [67, Điều 7].
- Đối với cá nhân người để lại tài sản với tư cách là chủ sở hữu hợp
pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực
hiện quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Pháp luật không cho phép
bất kỳ ai có hành vi cản trở, cưỡng ép, đe doạ... người lập di chúc. Người để
lại thừa kế có thể thực hiện quyền định đoạt thông qua hình thức di chúc viết
hoặc di chúc miệng, có thể nhờ người làm chứng cho việc lập di chúc, có thể
yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở của mình để lập di chúc. Di chúc chính là
hình thức xác định ý chí của một người định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu
của họ trước khi chết. Quyền định đoạt này được nêu tại Điều 648 BLDS, khi
thực hiện quyền định đoạt trong di chúc, người lập di chúc có quyền chỉ định
người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di
sản cho từng người thừa kế, dành một phần tài sản trong khối di sản để di
tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc;
người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Quyền định đoạt của người có tài sản lập di chúc có hiệu lực pháp luật
khi di chúc thỏa mãn các điều kiện được qui định tại Điều 652 BLDS.
Trong trường hợp di chúc đã được xác lập, nếu muốn, người lập di
chúc vẫn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc vào bất kỳ
lúc nào [67, Điều 662].
Ý chí của cá nhân người để lại di sản được pháp luật bảo hộ và tôn trọng,
tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật qui định quyền của những người
13




của mình đã khước từ. Hình thức khước từ phải thực hiện ở phòng lục sự Tòa
sơ thẩm tại địa điểm mở thừa kế của người chết [4, Điều 376].
Như vậy, trong thời kỳ phong kiến, do tục lệ cổ hủ mà con cháu, vợ hay
chồng của người chết bắt buộc nhận lấy tài sản riêng của mình để trả các
khoản nợ của người chết vô thời hạn. Chỉ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa nay là Nước CHXHCN Việt Nam được thiết lập thì quyền công dân
nói chung và quyền tự định đoạt về thừa kế nói riêng ngày càng được bảo
đảm một cách thực tế.
1.2.4. Nguyên tắc cá nhân ngƣời thừa kế phải còn sống vào thời
điểm mở thừa kế
Quan hệ thừa kế hình thành với những đặc thù riêng của nó. Đặc thù
đó được ghi nhận ngay trong các quy định của pháp luật như là một nguyên
tắc. Nguyên tắc này đã được quy định ở Điều 11 Sắc lệnh số 97-SL: "Trong
lúc sinh thời, người chồng góa hay người vợ góa, các con đã thành niên có
quyền xin chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết sau khi đã thanh
toán tài sản chung" [48, Điều 11].
Pháp luật không quy định về độ tuổi và năng lực nhận di sản thừa kế,
mà chỉ quy định quyền của cá nhân được hưởng di sản. Do vậy, người có
năng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều được nhận di
sản thừa kế theo pháp luật phần ngang nhau nếu họ cùng thuộc hàng thừa
kế được hưởng.
Đối với người đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì chưa có năng lực
pháp luật dân sự. Bởi vì, theo qui định của pháp luật thì: "Năng lực pháp luật
dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết"
[67, Điều 13]. Pháp luật cũng có quy định bảo vệ quyền thừa kế của người
con ra đời sau khi người bố chết, mà người con đó còn sống thì được hưởng
di sản của bố. Quy định tại khoản 1 Điều 635 BLDS phù hợp và thống nhất


định buộc các giai cấp khác tuân thủ, trong lĩnh vực thừa kế cũng vậy.
16


PLVTK ở Việt Nam có bề dày lịch sử, phát triển cùng với quá trình
dựng nước và giữ nước.
Để có cơ sở cho việc xem xét đối chiếu, so sánh với những quy định
của pháp luật về thừa kế hiện hành, theo tác giả việc nêu sơ lược về pháp luật
thừa kế thời kỳ trước năm 1945 là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, tác giả không
có tham vọng nghiên cứu toàn diện về vấn đề này mà chỉ xin điểm qua những
mốc thời gian quan trọng có ý nghĩa liên quan đến lịch sử xây dựng, kế thừa
và phát triển các quy định về thừa kế.
Quá trình phát triển PLVTK ở Việt Nam có thể chia làm 3 giai đoạn sau:
1.3.1. Giai đoạn trƣớc Cách mạng Tháng 8/1945
* Thừa kế trong giai đoạn chế độ phong kiến Việt Nam
Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại qua rất nhiều thế kỷ, mỗi Nhà
nước phong kiến đều ban hành các văn bản pháp luật để củng cố quyền lực và
phục vụ cho công việc quản lý đất nước.
Khó có thể xác định chính xác thời điểm xuất hiện những quy định về
thừa kế trong pháp luật Việt Nam. Có ý kiến cho rằng: "PLVTK ở nước ta đã
có từ thời Hùng Vương - trước Công nguyên". Thời Hùng Vương đã quy định
việc chia tài sản... luật dân sự và tranh chấp dân sự dưới thời Hùng Vương đã
có những quy định bắt buộc [90, tr.40]. Tuy nhiên, ý kiến trên lại chưa có đủ
cơ sở để khẳng định mà chỉ là sự suy đoán logic của quá trình luật hoá các
quan hệ thừa kế. Có tác giả khác lại dựa vào sách Hậu Hán Thư để khẳng
định dưới thời Trưng Vương (40 - 43) đã có pháp luật. Trong quyển Cổ luật
Việt Nam Thông Khảo quyển 1, ông Vũ Văn Mẫn trích trong sách Hậu Hán
Thư "Mã Viện đi xứ nào, liền đặt thành quận, huyện, xây thành quách..." Có
điều trần tấu về luật viết của người Việt, so sánh với luật Hán hơn mười điều
và ông kết luận "Thời ấy đã có luật thành văn như nhà Hán". Tuy nhiên, đây

sản từ Điều 374 đến Điều 399. Theo đó, có 2 hình thức thừa kế được qui định,

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status