Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới, sâu răng được xem như là
tai họa toàn cầu thứ ba. Sâu răng là một trong những bệnh mạn tính thường
xuyên trong con người. Ở trẻ em, bệnh sâu răng là một trong những bệnh răng
miệng phổ biến nhất. Sâu răng có thể gây đau, ảnh hưởng đến ăn uống, học
hành, vui chơi của trẻ, tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc cho việc điều trị.
Ngoài ra còn có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
Sâu răng sữa thường tiến triển nhanh, nếu không được điều trị, sâu răng
sẽ dẫn tới biến chứng viêm tủy, viêm quanh cuống làm ảnh hưởng tới mầm
răng vĩnh viễn và có thể gây ảnh hưởng toàn thân khiến trẻ phải nhổ răng sữa
trước tuổi thay sinh lý.
Nếu các răng sữa bị mất sớm nhất là các răng hàm sữa sẽ khiến trẻ ăn
nhai khó, không ngon miệng, dễ nuốt trọn viên thức ăn gây ảnh hưởng không
tốt đến hệ tiêu hóa. Bên cạnh đó còn ảnh hưởng không tốt tới sự hình thành
khớp cắn răng vĩnh viễn, sự tăng trưởng của xương hàm, sự phát âm, thẫm
mỹ…Ngoài ra, còn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần và trí
tuệ của trẻ.
Tại hội nghị quốc tế y tế khu vực Tây Thái Bình Dương năm 1984 đã đề
ra khẩu hiệu : “Sức khỏe của trẻ em, sự giàu có của ngày mai” mà một trong
những vấn đề quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe toàn diện đó là chăm
sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ.
Tuy nhiên, ở nước ta tình trạng chăm sóc răng miệng ở trẻ em còn thấp.
Năm 2010, theo kết quả điều tra của Viện đào tạo Răng Hàm Mặt thực hiện
tại 5 tỉnh, thành phố trên cả nước thì có đến 81,6% trẻ từ 4-8 tuổi bị sâu răng
sữa; 16,3% bị sâu răng vĩnh viễn [1]. Với bộ răng sữa thì gặp phần lớn là sâu


2




3

Chương 1

TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X-QUANG BỆNH SÂU RĂNG.

1.1.1. Định nghĩa bệnh sâu răng.
Sâu răng là một bệnh phổ biến nhất của loài người. Có rất nhiều định
nghĩa về bệnh sâu răng như:
- Fejerkov và Thystrup: Bệnh sâu răng là một quá trình động, diễn ra
trong mảng bám vi khuẩn dính trên mặt răng, dẫn đến mất cân bằng giữa mô
răng với chất dịch xung quanh và theo thời gian, hậu quả là sự mất khoáng
của mô răng.
- Lundeen và Robersoon: Bệnh sâu răng là bệnh nhiễm trùng của răng
dẫn đến hậu quả là hoà tan cục bộ và phá huỷ các mô vôi hoá.
- Nikiforuk: Bệnh sâu răng là bệnh đặc thù tại chỗ có liên quan đến sự
phá huỷ mô răng do các sản phẩm chuyển hoá từ vi khuẩn.
- Silverston: Bệnh sâu răng là bệnh nhiễm trùng của mô răng biểu hiện
đặc trưng bởi các giai đoạn mất/tái khoáng xen kẽ nhau.
- Newbrun: Bệnh sâu răng là một quá trình bệnh lý của sự phá huỷ cục
bộ mô răng do vi khuẩn.
Nhìn chung, ngày nay phần lớn các tác giả đều thống nhất rằng: sâu
răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức canxi hoá được đặc trưng bởi sự
huỷ khoáng của thành phần vô cơ và sự phá huỷ thành phần hữu cơ của mô
cứng. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hoá lý liên
quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng và là
quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật

- Nhóm yếu tố phụ trợ có rất nhiều
như: Vai trò của nước bọt, di truyền,

đặc tính vi sinh hóa của răng… Nhóm
b¸m này tác động làm tăng hay giảm sâu
răng và gây ra các vịR¨ng
trí lỗ sâu khác nhau.
S
R

Thêi gian

ChÊ
t

n


n

5

Từ năm 1975, White đã thay thế một vòng tròn (chất đường) của sơ đồ
Keys bằng vòng tròn chất nền và nhấn mạnh vai trò nước bọt và pH của dòng
chảy môi trường xung quanh răng [8].
+ Răng: Tuổi, flouride, hình thái, các
vi tố, độ Cacbonat v.v.

Vi khuẩn


6

Trên lâm sàng các tổn thương sớm này có thể phát hiện được khi thổi
khô bề mặt răng. Khi các tổn thương men xốp dưới bề mặt răng được hydrate
hóa rất khó phát hiện trên lâm sàng vì men xốp lúc này trở nên trong suốt.
Các tổn thương sớm có khả năng tái khoáng hóa và hồi phục [7].

Hình 1.2. Sâu răng sớm, bề mặt men vẫn còn nguyên vẹn [9]

Hình 1.3. Đốm trắng - Sâu răng sớm [10]
Melrose và cộng sự (1996) đã chỉ ra trong cơ thể sau một tuần tiếp xúc
giữa men và mảng bám, không thể phát hiện bất kỳ sự thay đổi vĩ mô sau khi
khô bề mặt răng cẩn thận. Tuy nhiên, ở cấp độ vi mô đã có dấu hiệu của sự
giải thể của các tinh thể trên bề mặt dẫn đến một sự phá hủy một phần ngoại


7

vi của các tinh thể. Sau 14 ngày, xuất hiện tổn thương vĩ mô của men, đó là sự
gia tăng độ xốp (Hình 1.5) [9].

Hình 1.4. Tổn thương trên bề mặt men răng [9]
Đối với bộ răng sữa, sâu răng hay gặp ở các RHS và thường là mặt bên
nên việc phát hiện sâu răng mới chớm là rất khó, nhiều trường hợp chỉ có thể
xác định được trên phim X-quang.

Hình 1.5. Phim X-quang cánh cắn [10]
A: Phát hiện vị trí sâu mặt bên
B: Đánh giá mào xương ổ răng.
Việc phát hiện sớm khi lỗ sâu răng chưa xuất hiện thì phần lớn bệnh


9

Ngược lại, nếu tổn thương có màu sáng là một tổn thương tiến triển nhanh
hơn [3].
* Sâu ngà răng:
Khi sâu răng tiến đến đường ranh giới men - ngà sẽ tiếp tục lan sang bên
theo đường ranh giới men – ngà làm tổn thương số lượng lớn ống ngà. Tổn
thương sớm có hình nón hoặc dạng lồi, đáy quay về phía ranh giới men – ngà.
Theo tiến triển, về mặt vi thể từ trong ra ngoài cũng có 4 vùng: [7]
- Vùng xơ cứng.
- Vùng hủy khoáng.
- Vùng xâm nhập vi khuẩn.
- Vùng phá hủy.
Trên lâm sàng, dấu hiệu cơ năng của sâu ngà là bệnh nhân cảm thấy buốt
khi có kích thích chua, ngọt, lạnh, hết kích thích thì hết đau. Sâu ngà sâu dễ
nhạy cảm với các kích thích hơn sâu ngà nông. Đôi khi chúng ta gặp những
trường hợp sâu răng ở giai đoạn ổn định, đáy lỗ sâu cứng, lòng chảo xám đen,
người bệnh có thể không có dấu hiệu ê buốt khi gặp các kích thích trên.
Khi khám thấy đáy lỗ sâu tổn thương mềm người ta cho rằng đó là sâu
răng đang phát triển. Nếu đáy lỗ sâu cứng đó là sâu răng đã ổn định. Sự khác
biệt chính giữa sâu ngà nông và sâu ngà sâu là chiều sâu của lỗ sâu. Nếu tổn
thương sâu dưới 2mm là sâu ngà nông, còn tổn thương >2-4mm là sâu ngà
sâu [3].
1.1.4. Đặc điểm lâm sàng sâu răng sữa.
Mặc dù răng sữa có nhiều chức năng rất quan trọng nhưng không phải
ai cũng nhận thức đầy đủ về vấn đề này. Nhiều bậc cha mẹ vẫn cho rằng răng
sữa sẽ thay nên chăm sóc răng cho trẻ kém, khi tổn thương không nhất thiết




* Theo tiến triển của tổn thương: Sâu răng cấp tính, sâu răng mạn tính và sâu
răng ngừng tiến triển.
* Phân loại theo Black :
- Loại I : sâu ở vị trí các hố và rãnh tự nhiên của răng.
- Loại II : sâu mặt bên các răng hàm.
- Loại III : sâu mặt bên các răng cửa nhưng chưa có tổn thương rìa cắn.
- Loại IV : sâu mặt bên các răng cửa có tổn thương rìa cắn.
- Loại V : sâu cổ răng.
- Loại VI : sâu răng ở vị trí rìa cắn của răng cửa hoặc đỉnh núm răng hàm.
* Phân loại theo độ sâu : Sâu men, sâu ngà nông và sâu ngà sâu.
* Phân loại theo bệnh sinh :
- Sâu răng tiên phát.
- Sâu răng thứ phát : sâu răng mới phát sinh trên một răng đã điều trị.
- Sâu răng tái phát: tái phát trên nền của tổn thương cũ đã được điều trị.
* Phân loại theo “Site and size ” : Phân loại này dựa vào hai yếu tố chính đó
là vị trí lỗ sâu và kích thước của lỗ sâu.
Vị trí :

Vị trí 1 : tổn thương ở hố rãnh và các mặt nhẵn.
Vị trí 2 : tổn thương kết hợp với mặt tiếp giáp.
Vị trí 3 : sâu cổ răng và chân răng.

Kích thước :
1: tổn thương nhỏ, vừa mới ở ngà răng cần điều trị phục hồi, không thể
tái khoáng.
2: tổn thương mức độ trung bình, liên quan đến ngà răng, thành lỗ sâo
còn đủ, cần tạo lỗ hàn.
3 : tổn thương rộng, thành không đủ hoặc nguy cơ vỡ, cần phải có các
phương tiện lưu giữ cơ sinh học.



13

- Ghi lại độ rộng khoảng trống được tạo bởi sự mất răng hoặc sự rụng răng sớm.
- Xác định sự có mặt hay vắng mặt của các răng hàm nhỏ .
- Xác định mối liên quan giữa một răng với mặt cắn để xem khả năng
răng đó bị dính khớp.
- Phát hiện mức độ xương ổ răng ở vùng khe răng .
- Phát hiện lỗ sâu thứ phát.
Kĩ thuật:
Đầu của bệnh nhân được đặt sao cho mặt phẳng chân cánh mũi - nắp
bình tai vuông góc với mặt phẳng dọc giữa và song song với sàn nhà. Cạnh
dưới của phim được đặt trên sàn miệng giữa lưỡi và mặt lưỡi của hàm dưới và
miếng cắn được đặt trên bề mặt cắn của các răng hàm dưới. Phim được đặt ở
tư thế để bao phủ toàn bộ các vùng cần chú ý. Trung tâm của tia đi vào ở mặt
cắn hợp với mặt phẳng ngang một góc 5-8 độ. Một miếng cắn hoặc bục cắn
hoặc unibite film holders có thể được sử dụng để giữ phim vuông góc với mặt
cắn [10].

Hình 1.6: A và B: Chụp phim cánh cắn [10]
A: Dụng cụ giữ phim để chụp phim cánh cắn, B: Vị trí của phim và ống chụp


14

Hình 1.7. Hướng của tia [10]

Hình 1.8. Sâu răng sớm [10]


cuống răng.
- Giai đoạn thoái triển: Được tính từ lúc kết thúc giai đoạn 2 cho đến
khi răng thay.
Răng sữa thường được thay thế bằng răng vĩnh viễn bắt đầu vào lúc
6 tuổi cùng với sự xuất hiện của răng hàm lớn thứ nhất.
Thông thường răng vĩnh viễn mọc theo thứ tự sau:
Hàm trên

6 - 1 - 2 - 4 - 3 - 5 - 7 - 8 và 6 - 1 - 2 - 4 - 5 - 3 - 7 - 8

Hàm dưới

(6 - 1) - 2 - 3 - 4 - 5 - 7 - 8 và (6 - 1) - 2 - 4 - 3 - 5 - 7 - 8

1.2.1.2. Chức năng răng sữa.
Răng sữa được đề cập đến bốn chức năng cơ bản như sau: [12],[13],
[14],[15],[16].
Chức năng nhai.
Đây là chức năng rất quan trọng. Răng sữa giúp trẻ cắt, xé, nghiền nát
thức ăn. Đảm bảo tốt cho sự dinh dưỡng và phát triển của trẻ.
Chức năng giữ chỗ.
Chức năng quan trọng thứ hai là giữ khoảng trên cung hàm. Khi răng
sữa mất sớm, đặc biệt là răng hàm sữa thứ hai thì răng hàm lớn vĩnh viễn thứ
nhất sẽ di gần thu hẹp khoảng mất răng, làm giảm khoảng xoay trở của các
răng (Leaway Space). Nếu tất cả các răng hàm sữa bị mất sớm có thể gây
khớp cắn sâu hoặc hàm dưới bị lệch vào trong [17].


16


- Chi phí thấp, giá thành rẻ.
Nhược điểm của Amalgam :
- Màu sắc không phù hợp với màu răng.
- Giòn dễ vỡ và gãy nứt hơn nếu hàn không đúng phương pháp.
- Có thể bị ăn mòn và phản ứng điện phân.
- Không liên kết với cấu trúc mô răng.
- Mối nguy hiểm từ độc tố thủy ngân.
1.2.2.2. GIC.
GIC loại cơ bản được Wilsson và Kent giới thiệu lần đầu tiên vào năm
1972, đây là vật liệu có khả năng thay thế cấu trúc mô răng bị mất có nhiều
ưu điểm. Tên Glass Ionomer Cement bắt nguồn từ bột xi măng có bản chất là
thủy tinh và bản chất của kết nối xi măng với tổ chức răng do các liên kết ion.
Không như các loại vật liệu khác, GIC chỉ cần chuẩn bị xoang trám tối thiểu
do có kết nối hóa học với tổ chức răng. So với composite, GIC đòi hỏi ít yêu
cầu về kỹ thuật trám hơn. GIC được coi là vật liệu giống tự nhiên do đặc điểm
cơ học giống ngà răng. Vì vậy GIC là vật liệu phổ biến nhất trong nha khoa.
GIC gồm 3 thành phần chính:
+ Hạt thủy tinh hoạt hóa phản ứng với Polyacid.
+ Polyalkenoic acid (Polyacid, thường dùng là acid Polyacrylic hoặc
copolymers của acid acrylic và các monomeric khác).
+ Nước.


18

Ứng dụng:
- Trám thẩm mỹ xoang loại III, các tổn thương mòn cổ, xoang loại V.
- Vật liệu gắn: Cho phục hình và cho chỉnh nha.
- Vật liệu che tủy và trám lót.
- Tạo cùi.

chuẩn bị sạch, bề mặt men và ngà sẽ không bị lấy số lượng quá mức các Ca2+.
Đặc điểm sinh học: [7]
Vì thành phần Polyacrylic là một acid nên miếng trám GIC ban đầu sẽ
có pH thấp, có thể gây ê buốt nhưng sau 7-8 giờ sẽ ổn định. Trong một số
trường hợp có thể gây thoái hóa tủy, do vậy chỉ trám khi lớp ngà trên tủy
> 0,5 mm. GIC có khả năng giải phóng Fluor dưới dạng ion có tác dụng phòng
ngừa sâu răng, kháng khuẩn và tái khoáng cho mô cứng, chống sâu răng thứ
phát.
Ưu điểm của GIC: GIC có rất nhiều ưu điểm khi điều trị ở trẻ em so với
các loại vật liệu khác.
Kỹ thuật trám GIC đơn giản, rất thuận lợi khi điều trị ở trẻ em. GIC có
tính tương hợp sinh học, có thể bám dính hóa học tốt trên men ngà, màu sắc
gần giống mô răng. GIC không gây kích thích tủy và việc tạo lỗ trám phá hủy
ít mô răng. Khả năng phóng thích Fluor tại chỗ phòng ngừa sâu răng và tái
khoáng hóa. Độ cứng tương đối cao, có thể làm việc được trong môi trường
ẩm. Đây là điều quan trọng vì khi điều trị ở trẻ em rất khó để cách ly hoàn
toàn xoang trám với nước bọt.
Fuji VII:


20

Với những ưu điểm như trên, chúng tôi lựa chọn GIC để điều trị. Trong
nghiên cứu này chúng tôi sử dụng Fuji VII màu hồng để trám các RHS bị sâu
mặt bên với những lý do sau:
Fuji VII có độ bám dính cao, độ hòa tan thấp. Có khả năng đông cứng
trong môi trường ẩm rất tốt, do đó có thể sử dụng ngay cả khi không kiểm
soát được độ ẩm. Điều này rất thuận lợi cho điểu trị ở đối tượng là trẻ em, rất
khó để kiểm soát xoang không bị nhiễm nước bọt.
Fuji VII có khả năng phóng thích Fluor cao nhất, cao hơn Fuji I 3 lần,

với các chất hàn trước đây. Từ khi được phát hiện bởi Ray L Bowen vào năm
1962 với tên gọi Bis - GMA cho đến nay Composite đã được sử dụng rộng rãi
và có nhiều thay đổi để phù hợp với các chỉ định lâm sàng:
- Phục hồi cho vùng răng trước và răng sau.
- Chụp hoặc cầu kim loại cẩn nhựa.
- Chốt chân răng bằng Composite.
- Vật liệu dán mắc cài trong chỉnh nha, chụp sứ, chốt inlay, onlay…
- Trám bít hố rãnh.
- Sữa chữa mảnh vỡ nhỏ của phục hồi sứ.
Composite được sản xuất với nhiều màu sắc khác nhau phù hợp với
màu sắc răng nên Composite là vật liệu có tính thẫm mỹ cao hơn hẳn các loại
vật liệu khác, đồng thời Composite cũng có độ nhẵn cao hơn do đó giảm sự
lưu giữ của mảng bám răng. Trước đây Composite chỉ được chỉ định cho các
vùng răng trước do khả năng chịu lực kém. Những cải tiến gần đây về
composite như hạt độn nhỏ hơn đã gia tăng độ chịu lực của vật liệu nên
Composite đã được mở rộng chỉ định cho các răng sau để giải quyết yêu cầu


22

thẫm mỹ và những lo ngại về độc tính của thủy ngân trong miếng trám
Amalgam. Việc cải tiến hệ thống keo dán cũng đã có được những kết quả lâm
sàng tốt hơn, tăng khả năng dán hơn đảm bảo cho sự tồn tại ổn định lâu dài
của miếng trám Composite.
Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật có rất nhiều loại
Composite mới được sản xuất với những tính năng ưu việt hơn. Song việc sử
dụng Composite trong RTE cũng gặp một số khó khăn. Việc cách ly lỗ trám
Composite và môi trường miệng khó làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng
miếng trám, thời gian làm việc thường lâu và đòi hỏi kỹ thuật chính xác. Răng
sữa có buồng tủy rộng, ngà và men mỏng nên lỗ sâu thường sát tủy do đó

- Sát khít thành xoang.
- Không gây nhạy cảm.
GIC
- Tương hợp sinh học
- Dính vào mô răng.
- Giải phóng Fluor.
- Dễ sử dụng.
Compomer - Các ưu điểm của GIC.
- Đàn hồi tốt hơn GIC.

Nhược điểm
- Không thẫm mỹ.
- Không liên kết với răng.
- Phải tạo lưu cơ học.
- Nguy hiểm từ thủy ngân.
- Có phản ứng điện phân.
- Thời gian đông cứng dài.
- Độ cứng thấp, dễ gãy vỡ.
- Dễ xoi mòn.
- Không cản quang.
- Yêu cầu nhiều trang thiết bị.
- Hở bờ miếng trám.
- Độ cứng thấp.
- Một số cản quang.
Composite - Thẫm mỹ cao.
- Yêu cầu nhiều trang thiết bị.
- Độ bền chấp nhận được.
- Gây nhạy cảm.
- Chủ động thời gian làm việc. - Phải cách ly tốt khi hàn.
- Dễ hở bờ miếng trám.

- Mức 4: Tổn thương kéo dài đến hai phần ba của ngà răng nội bộ.
* Năm 2009, nghiên cứu của Lê Thị Hạnh Quyên và Nguyễn Thị Vân cho
thấy trong số 510 mặt răng sữa bị sâu thì sâu mặt bên chiếm tỷ lệ khá cao.
Mặt răng

Nhai

Ngoài

Trong

Gần

Xa

Tổng

Tổng
%

240
47,06

42
8,24

37
7,25

98




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status