Bài tiểu luận ảnh hưởng của dân tộc và tôn giáo đến bản đồ chính trị thế giới - Pdf 31

ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO ĐẾN BẢN ĐỒ
CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI
A. Mở đầu

Sự hình thành bản đồ chính trị thế giới nói chung và biên giới của
từng quốc gia nói riêng là quá trình rất phức tạp. tuy nhiên, có thể
khái quát thành 4 nhóm yếu tố sau:
- Dân tộc và tôn giáo.
- Chiến tranh.
- Các phát kiến địa lý.
- Trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên quá trình hình thành và phát triển của dân tộc là nền
tảng của sự hình thành quốc gia. Vì vậy nhân tố dân tộc, tôn giáo
có ảnh hưởng đến bản đò chính trị rất quan trọng trong quá trình
lâu dài nhưng bền vững. Đề tài chủ yếu đề cập đến yếu tố Dân
Tộc và Tôn Giáo bởi hiện nay vấn đề dân tộc và tôn giáo là hai
yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc, để lại nhiều hệ quả điển
hình đến bản đồ chính trị thế giới.
B. Nội dung
Chương 1 cở sở lý luận
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Dân tộc
Dân tộc là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một
nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, sử dụng ngôn ngữ
chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi
lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh
chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.
1.1.2. Tôn giáo
Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính
thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một
cách hư ảo, nhằm lí giải những vấn đề trên trần thế cũng như thế giới bên

hành của tôn giáo. Không có lịch sử của dân tộc nào lại không cưu mang
lịch sử tôn giáo của họ; bởi lẽ, khác với mọi hệ thống chính trị xã hội, tôn
giáo là một nhu cầu muôn thuở của con người. Nói theo ngôn ngữ của các
triết gia, đặc tính của một nền văn minh là sự biểu lộ về tôn giáo của nó, và
văn minh được quyết định bởi phẩm chất tôn giáo mà nó dựa vào. Nói khác
đi, yếu tố tôn giáo có một vai trò vô cùng quan trọng đến sự phồn vinh hay
thất bại của một xã hội. Trong một giai đoạn nào đó mà xã hội phồn vinh,
nhân dân hạnh phúc có nghĩa là mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc đã
được phát triển một cách hài hòa, tốt đẹp. Ngược lại, trong một giai đoạn
nào đó mà xã hội bộc lộ những mâu thuẫn giữa hai thành tố này, điều ấy có
thể do hai lý do: Một là tôn giáo và dân tộc chưa vận dụng được sức mạnh
của chính mình; hai là vì triết lý tôn giáo đó không còn đáp ứng được khát
vọng sống và nhu cầu tâm linh của dân tộc ấy.
2.1. Quá trình biến đổi bản đồ chính trị thế giới
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy bản đồ chính trị thế
giới tuy thay đổi theo thời gian nhưng đều phản ánh những đặc điểm cũng
như những xu hướng chung của tình hình thế giới ở mỗi thời kì khác nhau.
Hầu hết các quốc gia trong lịch sử hình thành của mình đều có sự thay đổi
về biên giới, quy mô lãnh thổ và vai trò trên thế giới. Thậm chí có những
quốc gia chỉ tồn tại trong thời gian nhất định . Lịch sử hình thành bản đồ
chính trị thế giới cho đến nay có thể chia làm 5 thời kì.
- Thời kì trước phát kiến địa lý
- Thời kì sau phát kiến địa lí đến Chiến tranh thế giới lần 1
- Thời kì từ Chiến tranh thế giới lần 1 đến Chiến tranh thế giới lần 2
- Thời kì từ Chiến tranh thế giới lần 2 đến năm 1990
- Thời kì năm 1990 đến nay.
2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến bản đồ chính trị thế giới
- Dân tộc và tôn giáo



gấp hàng trăm lần so với diện tích ban đầu có trước đó cho dù có sự khác
biệt về mặt địa lý. Sự mở rộng lãnh thổ của các nước Nga, Trung Quốc, Ấn
Độ… chủ yếu là nhờ quá trình phát triển của dân tộc. Trong và sau thời kì
phát kiến địa lý cũng như quá trình xâm chiếm thuộc địa của các đế quốc,
người Anh, người Pháp, người Tây Ban Nha, người Bồ Đào Nha, và một số
dân tộc ở Tây Âu đã di chuyển đến Châu Mỹ, Châu Phi, Ôxtraylia và Châu
Đại dương.
Các quốc gia hình thành nhờ những cuộc thiên di, có bản sắc văn hóa
với nhiều nét riêng biệt mới được hình thành trong quá trình hoạt động sản
xuất và xã hội ở lãnh thổ mới


=> Quá trình mở rộng lãnh thổ có trường hợp dẫn đến sự phân chia dân
tộc, đặc biệt là trong điều kiện ngăn cách về mặt địa lí như các đại dương.
- Quá trình thu hẹp lãnh thổ:
Quá trình thu hẹp hoặc biến mất của lãnh thổ: ngược với quá trình mở
rộng lãnh thổ thì trong quá trình phát triển có những dân tộc bị thu hẹp dần
về diện tích thậm chí dẫn đến diệt vong.
Nguyên nhân:
+ Các cuộc chiến tranh hủy diệt lẫn nhau giữa các bộ tộc.
+ Do dịch bệnh, nạn đói, thiên tai...
+ Các dân tộc tự nguyện sát nhập hòa bình với các dân tộc khác.
+ Vào các thế kỷ XVII – XIX và đầu thế kỷ XX, khi các đế quốc Âu
Mỹ xâm chiếm và nô dịch các dân tộc thuộc địa, tiến hành chiến dịch đồng
hóa diệt chủng dân bản xứ.
+ Quá trình phát triển gặp nhiều khó khăn nên đã bị tụt hậu
Ở một số nước thuộc châu Mỹ, châu Phi và châu Đại dương được hình
thành do quá trình thực dân hóa của các đế quốc. Cư dân đảo Tasman trước
khi thực dân Anh đến xâm lược có khoảng 3000 – 4000 người, sau một thời
gian bị người Anh đô hộ đến năm 1876 thì người phụ nữ Tasman cuối cùng

Cũng có một số quốc gia tồn tại hai dân tộc có vai trò và vị trí ngang nhau:
người Anh và Pháp ở Canada, người Hà Lan và Pháp ở Hà Lan.


Bản đồ phân bố các tôn giáo lớn trên thế giới
2.4. Ảnh hưởng của tôn giáo đến bản đồ chính trị thế giới
2.4.1. Quá trình phát triển của tôn giáo.
- Khởi nguyên :
Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học người ta đả chứng
minh được sự tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm (từ 4 - 6 triệu
năm). Tuy nhiên với những hiện vật thu được người ta khẳng định: có đến
hàng triệu năm con người không hề biết đến tôn giáo. Bởi vì tôn giáo đòi
hỏi tương ứng với nó là trình độ nhận thức cao nó là sản phẩm của tư duy
trừu tượng trong đời sống xã hội ổn định. Hầu hết trong giới khoa học đều
thống nhất rằng khi con người hiện đại, người khôn ngoan hình thành và tổ
chức xã hội, tôn giáo mới xuất hiện, thời kì này cách đây khoảng 95000 năm
đến 35000 năm trước Công nguyên. Tuy nhiên trong thời kì đầu mới chỉ là
các tín hiệu đầu tiên. Đa số các nhà khoa học đều khẳng định: tôn giáo ra
đời khoảng 45000 năm vào thời kì đồ đá cũ với những hình thức sơ khai
nhất như: đạo Vật Tổ, Ma Thuật, Tang Lễ... Đây là thời kì tương ứng với
thời kì đồ đá cũ.
- Thời kì đầu:
Bước sang thời kỳ đồ đá giữa, con người chuyển dần từ săn bắt, hái
lượm sang trồng trọt và chăn nuôi, các hình thức tôn giáo dân tộc ra đời với
sự thiêng liêng hóa các nguồn lợi của con người trong sản xuất và cuộc
sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông… hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự
sinh sôi (thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…), đó là các vị thần của
các thị tộc Mẫu hệ. Khi đồ sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời nhằm



huỷ bỏ hoặc tự thay đổi, thay thế để thích nghi. Với xu thế quốc tế hóa ngày
càng gia tăng, việc mỗi cá nhân chỉ biết đến tôn giáo của mình đã trở nên lạc
hậu. Mỗi người đều rằng trên thế gian có nhiều thánh thần, có nhiều tôn
giáo. Họ bắt đầu hoài nghi và lựa chọn, thần thánh được mang ra tranh luận,
bàn cãi và làm nảy sinh xu thế thế tục hóa tôn giáo và xu thế này ngày càng
thắng thế.
Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang chi phối mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, sự nâng cao về trình độ học vấn và đặc biệt là
những thành tựu của khoa học và công nghệđã làm cho các tôn giáo ngày
càng trở nên thế tục hóa kéo theo sự đa dạng trong đời sống tôn giáo. Từ


đây xuất hiện các ý kiến khác nhau trong một tôn giáo và dẫn đến sự chia rẽ
trong các tôn giáo một cách có tổ chức, bùng nổ các giáo phái và xuất hiện
nhiều tôn giáo mới. Bản thân trong các tôn giáo khu vực và thế giới cũng có
những biểu hiện khác trước: số tín đồ ngày càng tăng nhưng số tín đồ thực
tế giảm, nghĩa là người ta theo đạo nhưng không hành đạo, nhiều tín đồ bỏ
đạo để theo các “đạo mới”. Trong nội bộ các tôn giáo có sự chia rẽ thành
những giáo phái với những tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan.
2.4.2. Các hình thức tổ chức tôn giáo
- Tôn giáo trong xã hội chưa có giai cấp (Tôn giáo nguyên thủy):
Ăng - ghen cho rằng tôn giáo xuất hiện từ ngay trong thời kỳ nguyên
thủy, từ những quan niệm hết sức dốt nát, tối tăm, nguyên thủy của con
người về bản thân mình và thiên nhiên bao quanh họ. Các tôn giáo nguyên
thủy, sơ khai thể hiện niềm tin bản năng của con người và lúc ấy chưa gắn
với các lợi ích về kinh tế - xã hội. Các hình thức phổ biến của tôn giáo
nguyên thủy là các dạng sau:
+ Tô tem giáo (thờ vật tổ): Tô tem theo ngôn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ
nghĩa là giống loài. Đây là hình thức tôn giáo cổ xưa nhất, thể hiện niềm tin
vào mối quan hệ gần gũi, huyết thống giữa một cộng đồng người (thị tộc, bộ

giới siêu nhiên này của người nguyên thủy cũng đầy đủ động vật, thực vật,
các đối tượng do tinh thần tưởng tượng ra và không khác biệt gì lắm so với
thế giới thực tại.
- Tôn giáo trong xã hội có giai cấp:
Khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nước, quốc gia với
các vùng lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là một nhu cầu
tinh thần của quần chúng mà còn là một phương tiện để giai cấp thống trị
duy trì sự thống trị áp bức giai cấp và bóc lột của mình và thực hiện sự bành
trướng, xâm lược vì vậy tôn giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa. Từ
đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới.
+ Tôn giáo dân tộc: Đặc trưng của tôn giáo dân tộc là tính chất quốc
gia dân tộc của nó. Các vị thần được tạo lập mang tính quốc gia dân tộc và
phạm vi quyền lực giới hạn trong phạm vi quốc gia. Thậm chí một số tôn
giáo lớn cũng bị dân tộc hóa ở mỗi quốc gia và trở thành tôn giáo có tính
chất quốc gia. Ví dụ Anh giáo (Thanh giáo), các dòng khác nhau của đạo
Hồi…
+ Tôn giáo thế giới: Sự phát triển của các tôn giáo vượt ra khỏi biên
giới của một quốc gia đã hình thành nên các tôn giáo khu vực và thế giới
như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo… Khác với các tôn giáo dân tộc,
tôn giáo thế giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng
lớn trên thế giới.
2.4.3. Các tôn giáo chính trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có hàng ngàn tôn giáo trong đó có 3 tôn giáo
chủ yếu ảnh hưởng trên phạm vi không gian rộng lớn đó là : Cơ đốc giáo,
Hồi giáo, Phật giáo).
- Cơ đốc giáo :


Bản đồ phân bố các quốc gia Cơ đốc giáo
Có ba nhánh lớn là công giáo La Mã, Chính thống giáo Đông phương

theo thời gian. Muhammad sáng lập ra Hồi giáo dựa trên sự xâm lăng tàn
bạo tiến chiếm cả vùng Trung Đông, tới bắc Phi Châu, sang tới A Phú Hãn,
Parkistan và sang cả Á Châu như Nam Dương, Phi Luật Tân và Mã Lai Á.
Sau Công nguyên do tác động của Hồi giáo nên bản đồ chính trị các
khu vực Tây Á, Tây Âu, Nam Âu biến động mạnh. Thế kỉ V đế chế LA Mã
sụp đổ làm xuất hiện hàng loạt quốc gia mới ở Tây Âu, Trung Âu. Bản đồ
chính trị châu Âu đã thay đổi một cách đáng kể. Khu vực Tây Âu hình thành
nên các quốc gia mới: Tây Gốt và Van Đăng, Buốcgônđơ, Đông Gốt,
Lôngba, Phrăng. Năm 711, Tây Gốt bị người Ả Rập xâm lược và phân chia


thành 2 quốc gia là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Với sự trợ giúp của Hồi giáo, dân Palestine chiếm đất Do Thái từ đó.
Mãi đến năm 1948 lần đầu tiên được sự ủng hộ của Hoa Kỳ và Liên Hiệp
Quốc, người dân Do thái lần lượt về lại cố hương sau gần hai ngàn năm lưu
vong xa xứ. Họ buột người Palestine phải trả đất lại cho họ khiến cho rất
nhiều dân Palestine phải lưu vong sang những nước Ả Rập trong vùng
Trung Đông như Jordan, Ai Cập… Có lẽ đây là khởi nguyên những cuộc
tranh chấp tại Trung Đông giữa Do thái và khối à Rập mà Hoa kỳ là nước
đở đầu cho Do Thái vì Do thái là thánh địa của Thiên Chúa giáo. Cuộc
chiến khốc liệt năm 1968, lúc đó Kissinger là cố vấn an ninh quốc phòng
cho Nixon, giữa Do thái và khối Ả Rập khiến Hoa kỳ đe dọa sẽ dùng bom
nguyên tử bắt buộc Tổng thống Ai Cập lúc bấy giờ là Anwar Sadat phải rút
quân. Về sau chính Sadat với sự trung gian của Tổng thống Jimmy Carter đã
ký một thỏa ước hòa bình với Thủ tướng Do Thái là Menachem Begin để
chấm dứt sự tranh chấp của hai nước. Chính sự hòa giải này đã khiến những
người Hồi giáo quá khích ám sát Sadat năm 1981.
Trong thế giới Hồi giáo, lí tưởng của một quốc gia thần học - chính trị
vẫn tồn tại đến ngày nay. Hơn 20 năm nay trong khu vực thế giới Hồi giáo
luôn luôn xảy ra các xung đột giữa các nhà nước Ảrập.

chính trị chiến lược, kinh tế, văn hoá và tôn giáo đặc biệt quan trọng, nó là một
vùng đất rất nhạy cảm trong các mối quan hệ tôn giáo, dân tộc. Với những đặc
điểm trên, đạo Hồi ở Bắc Phi, Trung Đông phát triển nhanh khiến cho vùng
này có nhiều biến đổi sâu sắc. Các nước Hồi giáo cũng như các xã hội Á châu
nói chung không thể tự mình chuyển hướng sang xã hội duy lý hiện đại được,
nên nhất thiết cần sự can thiệp từ bên ngoài để thúc đẩy các xã hội ấy thực hiện
cải cách tùy theo sự chín mùi của tình hình.
3.1.2. Nguyên nhân của xung đột
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học chính trị, kinh tế-xã hội học và các


nhà nghiên cứu chiến lược cho thấy, bạo loạn chính trị xẩy ra ở các nước
phần đông số dân là người theo đạo Hồi: đây không phải là các quốc gia
nghèo trên thế giới. Theo thống kê chưa đầy đủ của Hội đồng thống nhất
kinh tế Arab: thu nhập bình quân đầu người của Libya là 8.903 USD,
Tunisia: 3.423 USD, Ai Cập: 1.759 USD. Những phân phối nguồn lợi quốc
gia tại Ai Cập và Tunisia rất bình đẳng. có tới 40% dân số Ai Cập sống với
mức thu nhập dưới 2 USD/ngày. Tỷ lệ thất nghiệp tại 3 nước này là rất cao,
trên dưới 30%.. Một đặc điểm nữa là những tín đồ theo đạo Hồi và tôn giáo
đều sống tại các trung tâm đô thị lớn, là những nơi có trình độ dân trí cao.
Bởi vậy, các nhà nghiên cứu chính trị-xã hội học đều khẳng định bạo động
chính trị ở các nước này là tất yếu khách quan, trong đó có cả những nguyên
nhân chủ quan. Trước hết, phải kể đến các nguyên nhân bên trong, nguyên
nhân trực tiếp nội tâm của các nước Hồi giáo thuộc vùng Bắc Phi, Trung
Đông:
• Việc các nước này từ lâu lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, cả về chính trị,
kinh tế, quân sự, ngoại giao, nhất là sự lệ thuộc về kinh tế. Khi kinh tế toàn
cầu suy giảm, nền tài chính, tiền tệ thế giới rơi vào khủng hoảng, chính các
nước này bị tác động sớm và mạnh mẽ nhất.
• Đường lối chính trị, phương pháp lãnh đạo, điều hành đất nước của nhà

nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa.
Về nguyên nhân trực tiếp: Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới các biến động
chính trị-xã hội ở một số nước Bắc Phi và Trung Đông, mở đầu từ
Tunisia, xuất phát từ chính tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội và chính trị
ở các nước đó như nạn thất nghiệp gia tăng; sự bất bình đẳng trong xã hội; sự
chênh lệch quá lớn giữa người giàu và người nghèo; chính quyền ở các nước
đó bảo thủ và trì trệ trong nhiều năm (Tổng thống Tunisia Ben Ali cầm quyền
sau cuộc đảo chính cung đình vào năm 1987 và kéo dài trong suốt 24 năm;
Tổng thống Ai Cập H.Mubarak cầm quyền sau vụ đảo chính vào tháng 101981, trong 30 năm; nhà lãnh đạo Lybia Gaddafi lên nắm quyền sau cuộc
đảo chính quân sự năm 1969, trong 42 năm; Thủ tướng Bahrain Khalifa Ibn
Salman Al Khalifa cầm quyền 40 năm và là thủ tướng lâu đời nhất trên thế
giới; Tổng thống Yemen Ali Abdullah Saleh cầm quyền năm 1978 trong suốt
33 năm). Tình trạng khủng hoảng này càng trở nên trầm trọng hơn do tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu bùng phát từ Mỹ năm
2008 và đến nay vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc.
Bản thân chính phủ các nước châu Phi và Trung Đông trong những năm
gần đây cũng đã từng nhận thấy tình trạng khủng hoảng này và chính họ đã
đề ra “Sáng kiến của các nước châu Phi và Trung Đông về dân chủ hoá” với
6 nội dung cơ bản. Một là, cải cách dân chủ ở các nước châu Phi và Trung
Đông cần phải được thực hiện từ bên trong các nước đó mà không được áp
đặt từ bên ngoài.
Hai là, quá trình cải cách dân chủ cần phải được thực hiện từng bước để
không làm tổn hại đến an ninh và sự ổn định.
Ba là, quá trình cải cách cần phải phục vụ lợi ích của khu vực chứ không
phải các “kẻ thù” từ bên ngoài.
Bốn là, việc giải quyết cuộc xung đột giữa các nước Arập và Israel là điều
kiện tiên quyết để tiến hành thắng lợi cuộc cải cách chính trị.
Năm là, khi tiến hành cải cách dân chủ cần phải tính đến đặc điểm của
từng nước trong khu vực chứ không thực hiện theo một công thức cố định.
Sáu là, không cho phép các tổ chức Hồi giáo cực đoan sử dụng thành quả

Về nguyên nhân sâu xa.Có hai nguyên nhân sâu xa dẫn tới các biến động
chính trị-xã hội ở các nước Bắc Phi và Trung Đông từ cuối năm 2010 tới
nay.
Một là, các nước trong khu vực Bắc Phi và Trung Đông vừa đang ở
trong tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội và chính trị, vừa đang bị tranh
giành ảnh hưởng giữa các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga,Ấn Độ, Nhật
Bản, các nước EU, trước hết là nhằm sở hữu quyền khai thác tài nguyên
thiên nhiên như dầu mỏ, khí đốt, nguyên tố đất hiếm, quặng kim loại và thị
trường tiêu thụ sản phẩm cũng như thị trường đầu tư. Trong đó, Trung Quốc
đang tỏ ra có ảnh hưởng “lấn lướt” các nước khác, kể cả Mỹ. Đây là điều
mà Washington không thể chấp nhận được trong bối cảnh Mỹ đang bắt đầu
chuyển sang giai đoạn cạnh tranh quyết liệt với Trung Quốc trong nhiều lĩnh
vực trên phạm vi toàn cầu (5,6,7).


Hai là, các mâu thuẫn nảy sinh từ cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội và
chính trị ở các nước trong khu vực này đã bị một số thế lực bên ngoài, trước
hết là ở Mỹ, lợi dụng để kích động nhằm nhanh chóng thay đổi chế độ cầm
quyền, tạo cơ hội để thiết lập ảnh hưởng trong thời kỳ “hậu cách mạng”.
Theo Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ, kịch bản các cuộc bạo động
chính trị đã và đang diễn ra ở nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông được thực
hiện theo cái gọi là “Đề án Đại Trung Đông” mà nhiều đời tổng thống ở Mỹ
đã từng ấp ủ. Do đó, Mỹ quyết định thực hiện giai đoạn mới trong chiến
lược của họ ở châu Phi và Trung Đông là “phá cũ để xây mới”.
3.1.3. Động thái của các nước trước biến động ở Bắc Phi, Trung Đông
Ngay khi biến động xảy ra ở Ai Cập, Iran đã lên án phương Tây kích
động biểu tình. Mỹ, EU đã lên tiếng kêu gọi Chính phủ các nước hạn chế các
hành động quân sự để trấn áp người biểu tình; Nga kêu gọi các nước giải
quyết căng thẳng thông qua thỏa thuận hòa bình. Phát biểu sau cuộc hội đàm
với người đồng cấp Anh William Hague tại London (Anh) hôm 15/2, Ngoại

Mỹ đã ồ ạt thực hiện cuộc tấn công vào các hệ thống phòng thủ của quân đội
Libya trong chiến dịch “Bình Minh Odyss ey” nhằm áp đặt vùng cấm bay trên
bầu trời Libya. Sau khi nã ít nhất 112 quả tên lửa Tomahawk vào lãnh thổ
Libya. Tin đầu tiên theo thông báo của nhà cầm quyền Libya: đã có 48 người
thiệt mạng và 150 người bị thương trong các cuộc không kích. Truyền hình quốc
quốc gia Libya nói “kẻ thù viễn chinh” đã bỏ bom các khu vực dân thường ở thủ
đô Tripoli, cũng như các bể dự trữ nhiên liệu cung cấp cho thành phố miền đông
Misrata.
Cuộc xung đột ở Libya, các nhóm Giáo sĩ cực đoan nhìn thấy sáo trộn tại
những nơi có biến động chính trị là cơ hội để tiến lên nắm quyền xoay chuyển
tình hình sao có lợi cho chủ trương bảo thủ Hồi giáo chống lại phương Tây. Sáo
trộn sẽ dẫn đến chỗ người nghèo khó trong vùng vốn đã khốn khổ sẽ bị khốn khổ
hơn. Các tổ chức khủng bố quốc tế sẽ dựa vào đó để tuyên truyền về sự thất bại
của các thế lực tay sai củaphương Tây và là thành quả của cao trào khủng bố quốc
tế cũng như chủ trương Hồi giáo cực đoan. Một số nước sẽ lợi dụng nhảy vào tạo
ảnh hưởng.
Tình trạng bất ổn chính trị ở các nước Hồi giáo Bắc Phi, Trung Đông
không những được coi là một khó khăn địa chiến lược chính trị, địa kinh tế rất
lớn đối với phương Tây, đặc biệt là Mỹ, mà còn là "cơn ác mộng" đe dọa kinh
tế thế giới vốn đang chật vật để thoát khỏi di chứng của cuộc khủng hoảng
kinh tế cách đây không lâu.
3.2. Ai Cập – Lybia
3.2.1. Ai Cập
a. Quá trình thành lập nhà nước
Qua những tài liệu và tư liệu khảo cổ học cũng như theo sự ghi chép của
các sử gia Hy lạp Herodotes, Diodore, Strabon và nhất là Manetho với tài
liệu “Lịch sử Ai Cập”cho chúng ta thấy Ai Cập là một trong những trung
tâm văn minh lớn của nhân loại. Văn minh Ai Cập phát triển ở vùng Đông
Bắc châu Phi, trải qua 4 giai đoạn là Tảo vương quốc (3200 – 3000 TCN),
Cổ vương quốc (3000 – 2200 TCN), Trung vương quốc (2200 – 1570 TCN)

động chính trị quy mô lớn đòi Tổng thống H.Mu-ba-rắc từ chức. Ngày 11-22011, Phó tổng thống Ai Cập Ô.Su-lây-man phát biểu trên truyền hình tuyên
bố Tổng thống Ai Cập H.Mu-ba-rắc “quyết định từ chức” kết thúc 32 năm
cầm quyền liên tục. Ở An-giê-ri, từ ngày 6 đến 8 tháng 1-2011, biểu tình,
bạo loạn cũng bùng phát ở trên 20 tỉnh, thành phố, trên 80 người đã thiệt
mạng, hàng trăm người bị thương. Nhiều cuộc biểu tình, bạo động chính trị
xảy ra ở các nước khác như Li-bi, Y-ê-men, Xy-ri, Ba-ranh…
- Tìm hiểu, người ta thường nghĩ ngay đến nguyên nhân can thiệp từ bên
ngoài, đứng đầu là Mỹ. Nguyên nhân này thể hiện rõ nhất khi các nước
phương Tây dưới danh nghĩa thực hiện Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc thiết lập vùng cấm bay ở Li-bi tiến hành không kích đất
nước này và đòi Tổng thống Li-bi “từ chức ngay lập tức”. Cách thức can
thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của các nước phương Tây vào công việc nội bộ
của các quốc gia có chủ quyền nơi đây khiến người ta liên tưởng đến Đề án
Trung Đông Lớn (The Greater Middle East) của Mỹ nhằm thay đổi biên giới
của 24 quốc gia, từ Châu Phi, Trung Đông tới Trung Á, làm bàn đạp để Mỹ
tiến tới thiết lập quyền kiểm soát đối với toàn bộ lục địa Á-Âu. Đề án Trung
Đông Lớn đã từng được nhiều đời Tổng thống Mỹ xây dựng cách đây hơn
30 năm nhằm mục đích trước hết và quan trọng nhất là bảo đảm duy trì
nguồn cung cấp dầu mỏ liên tục, thường xuyên cho Mỹ từ khu vực này.
Theo dự báo, đến năm 2025, khoảng 2/3 nhu cầu dầu mỏ của Mỹ được đáp
ứng từ khu vực Trung Đông. Hiện nay, ở khu vực này đã tập trung các căn
cứ quân sự chủ yếu của Mỹ, trong đó có 10 sân bay quân sự lớn nhất và một
số căn cứ hải quân phục vụ lực lượng hải quân tiến công của Mỹ. Hơn 200
ngàn quân Mỹ thường trực ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc và trên bán đảo A-rập.
Hơn nữa, gần đây ở khu vực địa chính trị quan trọng này, vị trí của Mỹ bị
lấn lướt bởi Trung Quốc và Nga. Tháng 11-2006, Trung Quốc tổ chức thành


công Hội nghị Thượng đỉnh Trung Quốc-châu Phi, việc mà Mỹ chưa từng
làm được. Điều đó ngăn cản Mỹ trong thực hiện chiến lược năng lượng, khả

tham nhũng ngày càng nặng nề, kéo dài. Theo điều tra năm 2009 của Tổ
chức Minh bạch Quốc tế, Chính phủ Ai Cập xếp thứ 111, Y-ê-men xếp thứ
146 trên 180 quốc gia về chỉ số tham nhũng. Vì lợi ích riêng, họ khó có thể
cho dân biết một cách minh bạch, tường tận các vấn đề quan trọng quốc kế,
dân sinh và càng khó cho dân tham gia quyết định các chính sách quốc gia.


Họ không thể thực hiện dân chủ thực chất, không thể quy tụ, đoàn kết được
nhân dân. Điều kiện cá nhân cầm quyền suốt đời dễ dẫn đến lạm dụng
quyền lực, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, gia đình trị, “cha truyền
con nối”, thu vén những món lợi khổng lồ cho bản thân và gia đình, lối sống
đặc quyền, đặc lợi, xa hoa tạo ra những bất công xã hội ngày càng gay gắt,
tích tụ đến mức bùng phát không kiểm soát được. Sau thất bại của nguyên
Tổng thống Tuy-ni-di và Ai Cập, Tổng thống Y-ê-men A.Xa-lê chấp nhận
phương án chuyển giao quyền lực hòa bình và tuyên bố từ chức.
* Đời sống nhân dân khó khăn.
Cũng giống các nước khác, khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng rất
lớn đến các nước A-rập. Tuy nhiên, do các nước này phụ thuộc quá nhiều
vào nước ngoài về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, nhất là về kinh tế
(Ai Cập mỗi năm nhận 1,5 tỉ USD viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ) nên
khi kinh tế toàn cầu suy giảm, nền tài chính, tiền tệ thế giới rơi vào khủng
hoảng, các nước này bị tác động sớm và mạnh mẽ nhất. Tình hình kinh tế
phát triển chậm, lạm phát tăng, không thể giải quyết vấn đề thất nghiệp, nhất
là với thế hệ trẻ. Tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, giá cả leo thang, mù chữ,
tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa
tạo nên mâu thuẫn xã hội gay gắt. Ví dụ, ở Ai Cập, hơn 40% số dân có mức
thu nhập 2 USD/ngày, 1/3 số dân mù chữ, năm 2010 giá lương thực, thực
phẩm tăng 20%, lạm phát lên đến 13%, thất nghiệp chiếm 25%. Ai Cập từng
là một trong những “trụ cột” sản xuất lương thực của thế giới, nay lại trở
thành một trong những nước nhập khẩu lớn nhất thế giới. Theo Bộ Nông

quốc gia, dân tộc trên thế giới. Với Việt Nam, bài học sâu xa, căn bản, quan
trọng nhất luôn là lấy dân làm gốc. Phải “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ,
bền gốc” (Trần Hưng Đạo), bởi “chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là
dân” (Nguyễn Trãi). Khi dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, công
bằng, không bức xúc vì tham nhũng, dân sẽ bảo vệ Đảng, Chính phủ. Khi
đó, không một thế lực bên ngoài nào dù mạnh và mưu mô quỷ quyệt đến
đâu có thể can thiệp, gây rối, lật đổ. “Nước lấy dân làm gốc. Gốc có vững,
cây mới bền” (Hồ Chí Minh). Bài học không mới nhưng vẫn luôn nóng
bỏng tính thời sự trong học và thực hành đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất
là cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý - lấy dân làm gốc.


3.2.2. LYBIA

Bản đồ Libya
Nguon: CIA map – CIA World Factbook
- Là một quốc gia tại Bắc Phi. Nước này có biên giới giáp với Địa Trung
Hải ở phía bắc, Ai Cập ở phía đông, Sudan ở phía đông nam, Tchad và
Niger ở phía nam, Algérie và Tunisia ở phía tây. Với diện tích hơi lớn hơn
bang Alaska, Libya là nước lớn thứ tư ở châu Phi và thứ 17 trên thế giới[2].
Thủ đô của Libya là thành phố Tripoli, với 1,7 triệu trong tổng số 5,8 triệu
dân cả nước. Ba khu vực truyền thống của quốc gia này là Tripolitania,
Fezzan và Cyrenaica.
Cái tên "Libya" bắt nguồn từ chữ "Lebu" trong tiếng Ai Cập, để chỉ những
người dân Berber sống ở phía tây sông Nil, và được đưa vào tiếng Hy Lạp
để trở thành "Libya". Ở thời Hy Lạp cổ đại, thuật ngữ "Lybya" có nghĩa
rộng hơn, gồm toàn bộ Bắc Phi ở phía tây Ai Cập, và đôi lúc còn bao gồm
toàn bộ lục địa châu Phi.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status