BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
––––––––––––––––––
TRẦN TẤN SANG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC
TẬP CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
KINH TẾ - KỸ THUẬT PHÚ LÂM TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Sỹ Tùng
NGHỆ AN, 2013
Mục lục
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nhân loại đã và đang bước vào kỷ nguyên của công nghệ
thông tin cùng với nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá mạnh mẽ, giáo dục
và đào tạo đang diễn ra những biến đổi sâu sắc trên quy mô toàn cầu. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Trước đó, tại Báo
cáo chính trị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII - Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định các nguồn lực tác động đến sự phát triển của xã hội ta trong giai
phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quản lý hoạt động học tập của sinh viên không chỉ giới hạn trong quản lý
giờ học ở trên lớp mà còn gồm cả quản lý việc sinh viên tự tổ chức quá trình học
tập của mình thông qua các hoạt động tự học, tự nghiên cứu, học nhóm, tham
quan, thực hành, thực tập, làm bài tập, học ở thư viện. Quản lý hoạt động học
tập bao hàm quản lý thời gian học tập, chất lượng học tập, tinh thần, thái độ và
phương pháp học tập của sinh viên.
Tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về việc "lấy tự học làm gốc" đã được nhân
dân ta luôn coi trọng. Điều 5 của Luật Giáo dục 2005 quy định "Phương pháp
giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của
người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng
say mê học tập và ý chí vươn lên"; "… đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu
cho học sinh phát triển phong trào tự học, tự đào tạo..."; "… tạo ra năng lực tự
học sáng tạo của mỗi học sinh" [9].
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục
đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình
chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để
người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới
các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài” [10]. Để đáp ứng yêu cầu
đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế, trong đó,
vấn đề đổi mới phương thức đào tạo và quản lý đào tạo theo hướng hiện đại hoá
đã và đang trở thành một yêu cầu cấp bách. Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Phú Lâm được thành lập theo quyết định số 1974/QĐ-GDĐT của Bộ Giáo dục
và Đào tạo ngày 09 tháng 4 năm 2008 trên cơ sở trường Trung cấp Kỹ thuật
Nghiệp vụ Phú Lâm được thành lập từ năm 1999. Mặc dù có bề dày gần 15 năm
phát triển, đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ
Chí Minh, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh tặng nhiều bằng
khen, cờ thi đua đơn vị xuất sắc trong giáo dục, đào tạo. Nhưng trong thực tế
Để thực hiện luận văn, tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
trong lĩnh vực khoa học xã hội, trên cơ sở thế giới quan khoa học của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu
cơ bản được áp dụng gồm:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích tổng hợp
những tư liệu như: tư liệu về giáo dục học - tâm lý học, lý luận về quản lý giáo
dục, các văn bản về chủ trương, đường lối, Nghị quyết, Chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, các văn bản của ngành về dạy và học, quản lý học tập
của sinh viên nhằm xây dựng cơ sở lý luận đề tài.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát sư phạm: Thu thập thông tin qua việc quan sát
hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm.
- Phương pháp điều tra: Thu thập thông tin thông qua phiếu khảo sát ý
kiến của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên trong trường
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Nhằm thu thập thông tin thông
qua việc trao đổi, xin ý kiến trực tiếp của cán bộ quản lý, giảng viên và một số
chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: quản lý hoạt động học tập của
sinh viên ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm.
Nhóm phương pháp thống kê toán học:
- Nhằm xử lý kết quả các số liệu thu được.
7. Đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lý luận
Khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng về công tác quản lý hoạt động
học tập của SV tại trường đại học, cao đẳng trong giai đoạn hiện nay.
7.2 Về mặt thực tiễn
7.2.1. Đánh giá một cách khoa học thực trạng và một số biện pháp quản
lý hoạt động học tập của sinh viên ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú
tư tưởng tự học tập suốt đời. Vì “Việc học không bao giờ là muộn" (Ngạn ngữ)
hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học" (Đác-uyn). Quan niệm tự học và
học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở cửa đi
vào thế kỷ 21 thế giới của nền kinh tế tri thức.
Quá trình học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin để tự biến đổi
mình, làm phong phú tri thức cho bản thân. Trong điều kiện ngày nay, thông tin
là tài nguyên của sự học, trí tuệ con người trở thành tài nguyên quý giá nhất của
một quốc gia dân tộc. Mặt bằng dân trí cao, cùng với những đỉnh cao của trí tuệ
là điều kiện tiên quyết để một quốc gia dân tộc thắng lợi trong cuộc cạnh tranh
khốc liệt mang tính toàn cầu hiện nay. Dù ở bất kỳ xã hội nào, học tập cũng luôn
là hoạt động cơ bản của con người như Lênin đã dạy “Học! Học nữa! Học
mãi!”. Vì vậy, nâng cao chất lượng học tập của sinh viên là mục đích là nhiệm
vụ chủ yếu của các nhà trường hiện nay. Quản lý hoạt động dạy và học như thế
nào để nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề đang được các nhà giáo dục và
quản lý giáo dục quan tâm.
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến chuyên gia đề
cập đến vấn đề quản lý hoạt động học tập của người học ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Sau đây là một vài ví dụ:
Đối với giáo dục phổ thông, với quan điểm lấy người học làm trung tâm,
tác giả Nguyễn Kỳ trong tài liệu của mình đã đưa ra: “Mô hình dạy học” ông
cho rằng chỉ có bằng cách này mới có thể thúc đẩy học sinh, tự giác học tập
[34]. Để nâng cao chất lượng dạy và học nghề phổ thông, luận án tiến sĩ của
Phạm Văn Sơn đã cho rằng, không chỉ đổi mới cách dạy mà còn phải đổi mới
cách tổ chức buổi học thực hành nghề phổ thông theo quy trình 7 bước nhằm
tăng cường tính tự học của học sinh [45].
Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, Nguyễn Cảnh Toàn đã đi sâu vào
nghiên cứu năng lực tự học của sinh viên trong nhiều năm, ông khẳng định chỉ
có phát triển năng lực tự học của sinh viên thì mới giúp họ khám phá ra cái mới
1.2. Một số khái niệm cơ bản
Để xác định rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, chúng ta sẽ tìm hiểu
nội hàm của một số khái niệm có liên quan đến đề tài.
1.2.1. Quản lý và chức năng quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng
nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động. Quản lý là đối
tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học nghiên cứu
quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra những định nghĩa khác nhau. Chúng
tôi sẽ trình bày dưới đây một số định nghĩa, quan niệm về "Quản lý" của các nhà
triết học, nhà khoa học quản lý như sau:
Theo Harold Koontz: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó
con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật
chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là
một nghệ thuật, còn kiến thức có thể tổ chức về quản lý là một khoa học" [25,
Tr.33].
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: “Quản lý là phương thức tác
động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng
buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì
tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ sớm đạt tới mục tiêu” [24].
"Quản lý (cai trị) là công việc của các bậc đại nhân. Đó là biết tập hợp
quanh mình những người hiền" (Mặc Tử, Trung Hoa).
Theo H.Fayol (l841 - 1925), nhà tư tưởng Pháp: "Quản lý tức là lập kế
hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra".
F.W.Taylor (1856 - 1915), người được coi là "cha đẻ của thuyết quản lý
khoa học" đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: "Mỗi loại công việc dù
nhiệm vụ ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó. Quá trình này bao
gồm các hoạt động phân công, hướng dẫn, đôn đốc, động viên, thúc đẩy họ hoàn
thành nhiệm vụ.
+ Chức năng kiểm tra:
Kiểm tra là căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã định để xem xét, đo lường
và đánh giá việc thực hiện nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên
nhân và biện pháp khắc phục. Đồng thời, kiểm tra cũng nhằm tìm kiếm các cơ
hội, các nguồn lực có thể khai thác để thúc đẩy hoạt động của tổ chức. Trong
hoạt động quản lý, chức năng kiểm tra có vai trò hết sức quan trọng, thông qua
chức năng kiểm tra một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát
các thành quả hoạt động, nếu kết quả hoạt động không đạt được đúng với mục
tiêu, người quản lý sẽ tiến hành những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn
nếu cần thiết. Vì vậy, để đánh giá được hiệu quả quản lý, người lãnh đạo cần
phải thực hiện chức năng kiểm tra.
Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong
quản lý. Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
. Xây dựng chuẩn để thực hiện.
. Đánh giá việc thực hiện dựa trên chính sách so với chuẩn.
. Nếu kết quả hoạt động có sự chênh lệch so với chuẩn thì cần điều chỉnh
hoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn.
Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau
tạo thành một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự
tham gia của hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là thông tin và quyết định. Trong
đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là
tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo.
Hình 1.1. Sơ đồ chức năng của quản lý
Kế
hoạch
chính,..v.v.
Theo Giáo sư – viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là
đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.
[22,61]
“Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống tác động sư phạm hợp lý
và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giảng viên, học sinh và các
lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động và phối hợp sức lực
trí tuệ của họ vào mọi hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn thành có
chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến ”. [44,27]
Để hoạt động quản lý nhà trường đạt được mục tiêu và mang lại hiệu quả
cao, nhân tố quan trọng hàng đầu chính là đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường.
Quá trình quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm
của thầy giáo, quản lý hoạt động học tập – tự học của sinh viên và quản lý cơ sở
vật chất - thiết bị phục vụ dạy và học. Trong đó người cán bộ quản lý phải trực
tiếp và ưu tiên dành nhiều thời gian để quản lý hoạt động của lực lượng trực tiếp
đào tạo. Mọi hoạt động quản lý khác đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng
dạy và học.
1.2.2. Hoạt động học tập và quản lý hoạt động học tập
1.2.2.1. Khái niệm hoạt động học tập
Học tập là hoạt động cơ bản của con người nhằm hướng vào việc nghiên
cứu và tìm hiểu các quy luật của thế giới và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch
sử. Bản chất của quá trình học tập là quá trình nhận thức độc đáo của người học.
[54,61]
Như vậy, học tập là một quá trình đưa đến những thành tựu và những kết
quả cho người học.
Học tập là một quá trình hướng đích, có giá trị. Giá trị của học tập là làm
nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập được đề ra;
- Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình dưới tác động
kiểm tra, đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của bản thân;
- Phân tích những kết quả hoạt động nhận thức - học tập dưới tác động
của giáo viên, từ đó cải tiến hoạt động học tập.
Trường hợp quá trình hoạt động học tập thiếu sự chỉ đạo trực tiếp của
giảng viên hoạt động tự giác, tích cực, chủ động nhận thức học tập của sinh viên
được thể hiện như sau:
- Tự lập kế hoạch, cụ thể hoá các nhiệm vụ học tập của mình;
- Tự kiểm tra, tự đánh giá và tự điều chỉnh tiến trình hoạt động học tập
của mình;
- Tự phân tích các kết quả hoạt động nhận thức - học tập mà cải tiến hoạt
động học tập của mình.
1.2.2.2. Quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Quản lý hoạt động học tập của sinh viên là một trong những nội dung chủ
yếu của quản lý nhà trường. Thực chất quản lý học tập của sinh viên là hệ thống
những tác động có ý thức của chủ thể quản lý trong nhà trường đến quá trình
nhận thức của sinh viên.
Theo PGS - TS Phạm Viết Vượng: “Quản lý hoạt động học tập là quản lý
học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập, là hệ thống những tác động có mục
đích có kế hoạch giúp học sinh học tập tốt nhất, rèn luyện tu dưỡng tốt nhất.
Quản lý hoạt động học tập của học sinh bao hàm cả quản lý thời gian và chất
lượng học tập, quản lý tinh thần, thái độ và phương pháp học tập”.[54,206]
Mục đích của việc quản lý hoạt động học tập là làm cho quá trình thực
hiện các nhiệm vụ học tập của sinh viên đạt tới kết quả mong muốn. Trước hết,
chủ thể quản lý phải theo dõi để nắm bắt được những biểu hiện tích cực và tiêu
cực trong nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của việc học tập, về thái
độ, động cơ, ý thức học tập… của sinh viên nói chung và của từng sinh viên nói
là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng.
Từ đó ta có thể hiểu: khái niệm "sinh viên" là những người đang học tập
tại các trường đại học, cao đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp
ứng yêu cầu của xã hội.
1.3. Quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng
1.3.1. Mục tiêu, nội dung, phương pháp và thời gian đào tạo của
trường Cao đẳng
1.3.1.1. Mục tiêu đào tạo.
- Mục tiêu đào tạo là những yêu cầu về cải biến nhân cách của sinh viên
mà quá trình đào tạo phải đạt được. Mục tiêu đào tạo chính là mục đích của quá
trình đào tạo, mục đích này sẽ quy định những tiêu chuẩn mà người học cần đạt
được trong quá trình đào tạo, đó là những quy định về tư tưởng chính trị, đạo
đức tác phong về nội dung và phương pháp đào tạo, đồng thời là căn cứ để kiểm
tra, đánh giá chất lượng của quá trình đào tạo. Mức độ đạt được các yêu cầu của
mục tiêu đào tạo, nói lên chất lượng đào tạo cao hay thấp và do đó khi nói đến
chất lượng đào tạo học sinh, sinh viên, chúng ta cần hiểu là chất lượng đó được
so với các yêu cầu của mục tiêu đào tạo nào. Nếu mục tiêu đào tạo phản ánh
đúng các yêu cầu của xã hội thì học sinh, sinh viên được đào tạo có chất lượng,
sau khi ra trường sẽ có khả năng phục vụ với hiệu xuất và chất lượng cao.
Ngược lại thì mặc dù người học sinh, sinh viên được đào tạo có chất lượng khả
năng phục vụ xã hội của họ vẫn bị hạn chế.[26]
Các trường Cao đẳng kỹ thuật là sự kế tục và phát triển sự nghiệp giáo dục
phổ thông, để vừa hình thành và hoàn thiện những nét tính cách chung của con
người, ở từng học sinh, sinh viên, vừa đào tạo các em thành những người lao
động chuyên nghiệp có trình độ tay nghề nhất định để phục vụ xã hội. Với sự phát
triển của sản xuất và của khoa học kỹ thuật, dần đần sẽ phải thực hiện đào tạo
nghề nghiệp cho tất cả mọi người lao động, làm việc ở bất cứ nơi nào và ở bất cứ
lĩnh vực nào thì tác dụng này ngày càng có nghĩa to lớn.
Phương pháp đào tạo trong các trường cao đẳng bao gồm các phương
pháp giảng dạy, các môn học lý thuyết, phương pháp hướng dẫn sinh viên rèn
luyện kỹ năng nghề nghiệp và phương pháp giáo dục học sinh, sinh viên về
phẩm chất đạo đức. Khi nói về hoạt động của giáo viên để thực hiện từng loại
nội dung đào tạo (lý thuyết, thực hành) người ta không dùng thuật ngữ phương
pháp đào tạo mà nói là phương pháp giảng dạy, hướng dẫn, giáo dục... Khi nói
đến những phương pháp chung để tác động lên nhân cách hay một bộ phận lớn
của nhân cách thì người ta thường nói đến phương pháp đào tạo. Chẳng hạn kết
hợp thực tập với sản xuất ra của cải vật chất là phương pháp đào tạo quan trọng
trong các trường, vì với phương pháp này các trường có thể tác động và gây ra
sự chuyển biến trên nhiều mặt nhân cách của học sinh, sinh viên. [26]
1.3.1.4. Thời gian đào tạo của trường cao đẳng
Thời gian đào tạo của trường cao đẳng kỹ thuật theo điều 38 Luật Giáo
dục 2005 quy định "Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ 2 dến 3 năm
học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp Trung học
phổ thông (THPT) hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp từ một năm rưỡi đến hai năm
đối với người có bằng trung cấp cùng chuyên ngành".
Theo quy định trên thì các em học sinh đã tốt nghiệp THPT thì sẽ được
học hệ 3 năm.Với các em tốt nghiệp hệ trung cấp chuyên nghiệp thì sẽ được liên
thông với thời gian học là 1 năm rưỡi.
Các trường cao đẳng kỹ thuật có thể đào tạo các hệ trung cấp chuyên
nghiệp và trung học nghề với thời hạn 2 năm cho các em đã tốt nghiệp trung học
phổ thông.[38]
1.3.2. Đặc điểm chung của các trường cao đẳng kỹ thuật.
1.3.2.1. Kết quả lao động tập thể của cán bộ, giảng viên, công nhân viên
trong nhà trường cao đẳng kỹ thuật là một loại sản phẩm đặc biệt.
Đó là nhân cách của học sinh, sinh viên được đào tạo theo các tiêu chuẩn
quy định trong mục tiêu đào tạo của từng ngành học [26]
1.3.3. Hoạt động học tập của sinh viên trong trường cao đẳng kỹ thuật.
Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trong trường Cao đẳng có đầy
đủ những đặc điểm và bản chất của quá trình học tập nói chung là:
- Đối tượng của hoạt động học tập là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
tương ứng. Người học phải chiếm lĩnh được hệ thống kiến thức trong chương
trình học tập để sử dụng chúng trong thực tiễn cuộc sống.
- Mục đích của hoạt động học tập hướng vào làm thay đổi chính chủ thể
của hoạt động. Song bên cạnh đó nó cũng có những đặc điểm riêng, đó là:
- Hoạt động học tập của sinh viên trong trường Cao đẳng kỹ thuật luôn
luôn gắn kết với sản xuất kinh doanh và khoa học công nghệ [2] đồng thời đã
diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục
tiêu, phương thức và thời hạn nhất định.
- Hoạt động học tập của sinh viên trong trường Cao đẳng kỹ thuật đặc biệt
hệ dạy nghề không chỉ ở trên lớp, ở ký túc xá (ở nhà) mà chủ yếu là ở xưởng
trường vì phần lớn tỉ lệ thực hành rèn luyện tay nghề ở nhiều nghề chiếm
khoảng từ 50% đến 70% tổng thời gian đào tạo.
- Phương pháp học tập của sinh viên trong trường Cao đẳng là phương
pháp nhận thức rất gần gũi với phương pháp nhận thức chung của loài người,
đồng thời còn là phương pháp rèn luyện để hình thành hệ thống kỹ năng thực
hành và phát triển tư duy kỹ thuật, năng lực sáng tạo kỹ thuật.
- Hoạt động học tập của sinh viên trong trường Cao đẳng mang tính độc
lập, trí tuệ, trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động tập thể, hoạt động thực
tiễn, hoạt động tự rèn luyện của sinh viên trong đó yếu tố quyết định kết quả học
tập của sinh viên chính là động cơ học tập.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập của sinh viên các trường
cao đẳng.
* Mục đích, động cơ học tập
Hoạt động của con người bao giờ cũng có tính mục đích. Một trong