Quản lý nhà nước về lĩnh vực thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - Pdf 31

I/.Mô tả tình huống
1/ Đặc điểm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay
công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh, cá
nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Nói cách khác là nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi
là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
- Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi
một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn
trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có
vốn FDI.
- Công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách thu hút
vốn. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công
nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua
nhiều năm. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra và nước
thu hút đầu tư có học được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu
của đất nước.
- Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của
công ty đa quốc gia mà cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí
nghiệp đó và cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Công ty có vốn
đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ
phận dân cư địa phương được cải thiện, sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế
của địa phương.
- Trong quá trình thuê mướn lao động đó đã đào tạo được lực lượng lao động có
kỹ năng nghề nghiệp và chuyên môn cao, và các nhà chuyên môn địa phương cũng có
cơ hội làm việc và bồi dưỡng nghiệp vụ ở các công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đối với nhiều nước đang phát triển, thuế do các công ty có vốn đầu tư nước
ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng cho các nước thu hút đầu tư.


2/ Tình hình kê khai chấp hành chính sách thuế

Hơn 20 năm qua, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đã có những đóng
góp tích cực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế VN. Tuy nhiên, những đóng góp
này mới thể hiện về lượng (tăng vốn cho nền kinh tế, tạo việc làm) mà chưa có sự thể
hiện rõ rệt về chất (chuyển giao công nghệ, nâng cao kỹ năng cho người lao động,
hiện đại hóa). Không chỉ đóng góp trực tiếp về kinh tế, chính những nhà đầu tư nước
ngoài là tác nhân tạo ra áp lực lớn buộc các công ty trong nước phải đổi mới, phải
chuyển mình để có thể lớn mạnh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường.
Sự hoạt động và cạnh tranh của các doanh nghiệp FDI là tác nhân quan trọng
để hiện đại hóa thể chế kinh tế thị trường và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu kinh tế của
Việt Nam.Tuy nhiên, bức tranh doanh nghiệp FDI không chỉ có gam màu sáng, mà
một số mảng màu tối ngày càng bộc lộ rõ. Những bất cập trong việc quản lý các
doanh nghiệp có vốn FDI cũng như những bằng chứng về những hậu quả xấu của
chúng đối với phát triển kinh tế - xã hội xuất hiện với mật độ nhiều hơn, như gây ô
nhiễm môi trường, công nghệ tiêu tốn nhiêu năng lượng, nguồn vốn đưa ra từ nước
ngoài vào Việt Nam là rất hạn chế, mà chủ yếu là lợi dụng nguồn vốn ở trong Việt
Nam. Sự phát triển thiên về số lượng của doanh nghiệp FDI có nguy cơ gây thiếu hụt
ngoại tệ và rủi ro tỷ giá trong tương lai.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp của một số nền kinh tế khác đang có lợi nhuận
không lớn, thậm chí thua lỗ, và do vậy đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp còn hạn
chế. Chẳng hạn, theo số liệu thống kê của Cục Thuế TP.HCM về kết quả kinh doanh
năm 2009 của doanh nghiệp FDI trên địa bàn, gần 60% số doanh nghiệp báo cáo thua
lỗ (một kết quả không phải là bất thường so với những năm trước nên không thể đổ
lỗi cho hậu quả của khủng khoảng kinh tế thế giới). Sử dụng nhiều tài nguyên thiên
nhiên, năng lượng (đặc biệt là điện năng), nhưng hiệu quả kinh tế và qua đó là đóng
góp cho ngân sách một bộ phận doanh nghiệp FDI là rất hạn chế.


Để giải thích cho vấn đề này, có thể nêu ra một nguyên nhân là vấn đề chuyển
giá và tránh thuế. Đây là một lo ngại đã có từ lâu nhưng dường như đang bộ lộ rõ hơn
trong hoạt động của khu vực FDI. Nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang gây thất

- Về số lượng sản phẩm gia công (sản xuất) thì nhiều, doanh thu gia công không
lớn, do đơn giá gia công ghi trong hợp đồng ký với công ty nước ngoài (công ty mẹ)
rất thấp. Khi cần thiết giao hàng thì công ty có vốn đầu tư nước ngoài ký lại hợp đồng
gia công với các công ty trong nước với đơn giá tương đối cao, nhưng chưa thực hiện
các công đoạn khác.
- Hợp đồng gia công ký với công ty nước ngoài (công ty mẹ) thường quy định
nhiều công đoạn phải thực hiện tại Việt Nam như : bao bì, in, thêu...
-

Căn cứ hợp đồng gia công ký với công ty nước ngoài (công ty mẹ) về số lượng

và định mức do Hải Quan duyệt, công ty nhận gia công làm thủ tục nhập nguyên vật
liệu vào Việt Nam theo quy định tạm nhập tái xuất do Hải Quan theo dõi và quản lý.
Ngoài định mức sản xuất cho một sản phẩm các công ty này còn hưởng thêm định
mức hao hụt nguyên vật liệu trong sản xuất là 3%.

b/- Chi phí
Các công ty kê khai lỗ chủ yếu tập trung vào giá thành sản xuất sản phẩm, tất cả
các khoản chi phí phát sinh trong kỳ điều được hạch toán vào giá thành sản xuất trong
kỳ không phân biệt xem chi phí đó có liên quan và phục vụ sản xuất kinh doanh trong
kỳ hay không. Các khoản chi phí lớn ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh như :
- Chi phí sữa chữa lớn nhưng mang tính chất thường xuyên
- Chi phí nhận nguyên vật liệu nhập khẩu
- Chi phí đầu tư cho những mã hàng mới
- Chi phí công cụ, dụng cụ, phụ tùng thay thế
- Chi phí tiền lương đã trả cho lao động trực tiếp
- Chi phí tiền lãi vay phải trả (nếu có)
- Các khoản chi phí trích trước nhưng thực tế chưa chi
- Các khoản chi phí khác không có quy định trong Luật thuế
- Chi phí xuất khẩu hàng gia công

sách mà chưa có sự quan tâm nhiều đến việc cải cách hành chính thuế ngay từ đầu.
Điều này đã dẫn đến năng lực quản lý hành chính thuế thấp, hiệu quả chưa cao làm
xuất hiện tồn tại trong công tác hành thu.


III/ Đề xuất phương án và các giải pháp tình huống
A/ Xây dựng phương án
1- Phương án 1
- Quản lý nhà nước về lĩnh vực thuế đối với các công ty có vốn đầu tư nước
ngoài trực tiếp (FDI). Bộ Tài chính đã ban hành hai thông tư để điều tiết ở lĩnh vực
này cụ thể như sau :
+ Thông tư số 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 về việc hướng dẫn thực
hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ
liên kết.
+ Quyết định số 37/QĐ-BTC ngày 04/01/2006 về việc đính chính Thông tư số
117/2005/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc
xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.
+ Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 về việc hướng dẫn thực hiện
việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên
kết.
- Căn cứ vào mục II, Phần B của Thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005
và điều 5, Phần B của Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 thì việc xác
định giá thị trường của một sản phẩm có các phương pháp như sau :
+ Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập;
+ Phương pháp giá bán lại;
+ Phương pháp giá vốn cộng lãi;
+ Phương pháp so sánh lợi nhuận;
+ Phương pháp tách lợi nhuận.
- Tùy theo mỗi phương pháp cụ thể, giá thị trường của sản phẩm có thể được
tính trực tiếp ra đơn giá sản phẩm hoặc gián tiếp thông qua tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc

việc ban hành chế độ kế tóan doanh nghiệp. Các hành vi như mở sổ kế toán không
đầy đủ, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế chưa chính xác. Phân bổ các khoản chưa đúng
với thực tế, thì số liệu kế toán không chính xác.
- Tại khoản 5, Điều 6, Chương II, Nghị định của Chính phủ số 24/2007/NĐ-CP
ngày 14/02/2007 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập doanh
nghiệp:


Điều 6. Không tính vào chi phí hợp lý các khoản sau:
1............
...........
5. Các khoản chi không liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế như: chi
về đầu tư xây dựng cơ bản; chi ủng hộ các địa phương; chi ủng hộ các đoàn thể, tổ
chức xã hội nằm ngoài cơ sở kinh doanh; chi từ thiện và các khoản chi khác không
liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế.

B/ Đánh giá, lựa chọn phương án
1/. Đánh giá phương án
 Phương án 1
+ Đối với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, hầu hết các công ty này là công
ty con, chi nhánh của các tập đoàn công ty mẹ tại nước ngoài. Các tập đoàn công ty
mẹ ở nước ngoài ký hợp đồng sản xuất kinh doanh và dịch vụ với các công ty các
nước với đơn giá gia công, dịch vụ rất cao, sau đó các tập đoàn công ty mẹ giao các
hợp đồng này cho các công ty con thành lập tại Việt Nam thực hiện sản xuất gia
công, dịch vụ và xuất thẳng cho các công ty mà công ty mẹ đã ký hợp đồng. Nhưng
thực tế không thu được tiền do công ty đã nhận hàng, mà thu tiền theo d8o7n giá gia
công của công ty mẹ giao mà giá này rất thấp.
+ Giá mua nguyên vật liệu, hàng hóa dịch vụ của công ty mẹ ở nước ngoài có
hiện tượng cao hơn so với các công ty độc lập khác trên thị trường, dẫn đến chi phí
cao. Một số chi phí thuê dịch vụ quản lý, hổ trợ kỹ thuật...do nước ngoài cung cấp

đến sản xuất, kinh doanh và tạo ra doanh thu bán ra trong kỳ.

2/. Lựa chọn phương án tối ưu
Đa số các công ty đều hạch toán không chính xác, mở sổ sách kế toán không đầy
đủ và đúng quy định. Phân bổ các khoản chi phí chưa chính xác dẫn đến việc kê khai
và không phát sinh nghĩa vụ nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp, nên lựa chọn phương
án 2 là tốt nhất vì các hành vi vi phạm đã được ghi rõ trong các văn bản quy phạm
pháp Luật và có tài liệu sổ sách của công ty làm cơ sở tính toán là hợp lý.
Các văn bản quy phạm pháp Luật :
- Các hành vi hạch toán không đúng, không trung thực các yếu tố liên quan đến
việc xác định số tiền thuế phải nộp đã vi phạm Khoản 2, Điều 26, Chương II, Nghị
định Chính phủ số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.


- Các hành vi hạch toán các khoản chi phí phát sinh trong kỳ chưa chính xác đã
vi phạm khoản 5, Điều 6, Chương II, Nghị định của Chính phủ số 24/2007/NĐ-CP
ngày 14/02/2007 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập doanh
nghiệp:
- Các hành vi mở sổ sách kế toán không đầy đủ, không ghi chép đầy đủ các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh đã vi phạm Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài
chính ngày 20/03/2006 về việc ban hành chế độ kế tóan doanh nghiệp.
 Kết quả thanh tra
 Từ tháng 10/2009 đến 30/04/2010 đã thanh tra được 11 đơn vị tổng số truy thu
và phạt, điều chỉnh giảm lỗ :
• Truy thu & phạt :

7.453.655.882 đồng

• Điều chỉnh giảm lỗ : 266.709.140.873 đồng

chi phí phát sinh trong kỳ đảm bảo yếu tố doanh nào chi phí đó.
+ Kiểm tra chi phí nhận nguyên vật liệu nhập khẩu phải phân bổ lại cho số
lượng vật tư thực tế đưa vào sản xuất trong kỳ và chuyển cho kỳ sau.

V/ Kết luận – Kiến nghị
1/. Kết luận
- Cho đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngòai (FDI) đã được nhìn nhận như là
một trong những trụ cột tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI được thể
hiện rất rõ qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng như bổ sung
nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn
nhân lực và tạo việc làm...Ngòai ra, FDI cũng đóng góp tích cực vào nguồn thu ngân
sách và thúc đẩy Việt nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhờ có sự
đóng góp quan trọng của FDI mà Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao trong nhiều năm liền và được biết đến là quốc gia phát triển năng động, đồi mới,
thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế.
- Bên cạnh những đóng góp tích cực, FDI cũng đã và đang tạo ranhiều vấn đề
ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của tăng trưởng và chất lượng cuộc sống của
người dân. Gần đây, xuất hiện hàng lọat các vấn đề gây bức xúc dư luận xã hội, trong
đó nổi bật là chất lượng xử dụng FDI thấp, thiếu tính bền vững, ô nhiễm môi trường
trầm trọng và các dự án đầu tư vào chưa đúng mục tiêu phát triển kinh tế của Việt
Nam là hiện đại hóa, công nghiệp hóa để gia nhập vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam
thực hiện Luật Đầu tư trực tiếp nước ngòai từ tháng 12/1987 trong bối cảnh phát triển


kinh tế - xã hội còn rất thấp. Hạ tầng cơ sở nghèo nàn, khoa học công nghệ lạc hậu,
nguồn nhân lực phần lớn chưa được đào tạo.
- Liên kết giữa khu vực FDI với các công ty trong nước còn rất ít, chưa hình
thành được các ngành công nghiệp phụ trợ, liên kết sản xuất theo chuỗi cung ứng
hàng hóa. Thông thường công nghiệp có thể tạo ra giá trị gia tăng của sản phẩm.
Nguyên nhân của những hạn chế trên, về khách quan, do điều kiện phát triển còn

• Phải có sự phân tích, đánh giá cẩn thận những tác động lan tỏa, bóp méo
các hành vi kinh tế do cải cách thuế có khả năng gây nên.
• Phải tôn trọng tính ổn định tương đối của hệ thống thuế, tránh sự thay
đổi quá nhanh và nhiều làm cho các nhà quản lý thuế và người nộp thuế rơi vào tình
trạng lúng túng trong thi hành, gây nên sự hòai nghi của các nhà đầu tư, làm phương
hại đến lợi ích của người nộp thuế, tăng trưởng kinh tế và lợi ích quốc gia.
• Quá trình cải cách hệ thống thuế, phải gắn chặt với vấn đề cải cách quan
hệ tài khóa giữa các cấp chính quyền, có như vậy thì mới tạo ra được sự quan tâm,
trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương đối với việc triển khai thực hiện hệ
thống thuế mới.
• Cuối cùng để có hiệu quả và thành công, cải cách chính sách thuế phải đi
đôi với các biện pháp cải cách vế thể chế, về cơ cấu trên tòan bộ nền kinh tế. Đặc
biệtlà phải coi trọng việc cải cách thể chế trong những lĩnh vực hổ trợ cho việc cải
cách hệ thống thuế như : hệ thống kế tóan, kiểm tóan, hê thống các Luật có liên
quanđến hệ thống thuế.
+ Các giải pháp nhằm khắc phục hiện tượng thất thu thuế;
• Hòan thiện phương thức quản lý thu thuế
• Áp dụng với hiệu suất tối đa các thành tựu của công nghệ thông tin vào
việc quản lý thu thuế, nối mạng vi tính trên tòan quốc gia nhằm thực hiện tốt việc
kiểm tra đối chiếu hóa đơn chứng từ đầu vào, đầu ra.
• Hòan thiện quy trình quản lý thu thuế theo hướng đơn giản, khoa học,
hiệu quả đáp ứng được nhu cầu quản lý.
• Nâng cao trình độ nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thuế
• Khen thưởng thích đáng, kỷ luật nghiêm minh trong công tác hành thu
và chấp hành chính sách pháp Luật thuế.
• Việc thanh tóan qua ngân hàng và tin học hóa công tác tài chính – kế


tóan của công ty có thể được xem là một trong những điều kiện bắt buộc khi thực
hiện tính thuế.

Phân theo bản chất đầu tư như :
• Đầu tư phương tiện hoạt động
• Mua lại và sáp nhập
Phân theo tính chất dòng vốn như :
• Vốn chứng khoán
• Vốn tái đầu tư
• Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
Phân theo động cơ của nhà đầu tư
• Vốn tìm tài nguyên
• Vốn tìm kiếm hiệu quả
• Vốn tìm kiếm thị trường
+ Vai trò quản lý nhà nước trong thời gian tới phải đi liền với việc thực thi
nghiêm túc, chính xác các quy định của pháp luật, đồng thời tăng cường kiểm tra,
giám sát các hoạt động đầu tư nước ngoài nói chung và các dự án FDI nói riêng.
+ Vai trò của quản lý nhà nước phải điều phối, kiểm soát, hướng dẫn trên toàn
quốc của các bộ, ngành chức năng phải có các quy hoạch cụ thể, kết hợp hài hòa giữa
lợi ích của địa phương với lợi ích tổng thể của quốc gia. Các Bộ, ngành phải quan
tâm đầy đủ, đúng mức đến việc thẩm định năng lực tài chính, kỹ thuật cũng như
những tác động về môi trường, kinh tế - xã hội lâu dài của các dự án có quy mô lớn,
có tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
+ Vai trò Quản lý nhà nước cần có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành trong
việc cấp phép và quản lý các dự án FDI. Để phát huy hiệu quả việc phân cấp đầu tư
thì điều kiện cần là làm tốt công tác xây dựng và quản lý quy hoạch, đặc biệt là quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch lãnh thổ, vùng, quy hoạch
ngành, lĩnh vực, sản phẩm... bảo đảm các quy hoạch này gắn chặt với nhau. Ngoài ra,
việc nâng cao trình độ cán bộ quản lý FDI cũng không thể thiếu. Phân cấp đầu tư chỉ


có thể thực hiện tốt trên cơ sở đội ngũ cán bộ có trình độ cao, có phẩm chất đạo đức
tốt.

Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 20/03/2006 về việc

ban hành chế độ kế tóan doanh nghiệp;
- Nghị định Chính phủ số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.
- Nghị định của Chính phủ số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/02/2007 của Chính
Phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Thông tư số 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 về việc hướng dẫn thực
hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ
liên kết.
- Quyết định số 37/QĐ-BTC ngày 04/01/2006 về việc đính chính Thông tư số
117/2005/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc
xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.
- Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 về việc hướng dẫn thực hiện
việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên
kết.
- Báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2001-2010 và phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2011- 2020 của Thanh tra Chính Phủ




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status