TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM
GIA XÉT GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT
NAM”
NĂM 2015 DÀNH CHO SINH VIÊN
Tên công trình
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI
GIAN LẬN TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
KHỐI KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Thuộc nhóm ngành khoa học: Quản lý- Hành vi tổ chức
Họ và tên sinh viên:
1. Hoàng Thu Hà
Nữ
2. Phạm Tuấn Anh
Nam
3. Nguyễn Hữu Vương
Nam
Dân tộc: Kinh
Lớp: EBBA 5B-5C
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu...................................................................................................
3.1. Quy trình nghiên cứu...............................................................................................
3.3. Biến và thang đo......................................................................................................
3.4. Phương pháp thu thập dữ liệu..................................................................................
3.5. Phương pháp phân tích dữ liệu................................................................................
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.............................................................................................................
4.1 Kết quả thống kê về sự tự tin và hành vi gian lận trong học tập.............................
4.1.1 Kết quả thống kê về sự tự tin trong học tập.........................................................................35
4.1.2 Kết quả thống kê hành vi gian lận trong học tập..................................................................37
4.2 So sánh hành vi gian lận theo các nhóm..................................................................
4.3 Kết quả hồi quy kiểm định mối quan hệ giữa gian lận trong học tập và các nhân
tố tác động..........................................................................................................
4.3.1 Sự tự tin trong học tập có tác động như thế nào đến mức độ gian lận trong học tập.........41
3
4.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng cùng chiều với hành vi gian lận trong học tập..................................46
4.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng ngược chiều với hành vi gian lận trong học tập...............................52
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ SỰ GIAN LẬN TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN.....
5.1. Sự cần thiết phải hạn chế sự gian lận trong học tập của sinh viên.........................
5.2. Một số giải pháp nhằm hạn chế sự gian lận trong học tập của sinh viên...............
5.2.1. Giải pháp từ bản thân sinh viên..........................................................................................56
5.2.2. Giải pháp đối với gia đình...................................................................................................56
5.2.3. Giải pháp đối với nhà trường..............................................................................................57
CHƯƠNG 6: HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN.......................................................................
Chương 7: Phụ lục................................................................................................................................
3.4. Phương pháp thu thập dữ liệu..................................................................................
3.5. Phương pháp phân tích dữ liệu................................................................................
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.............................................................................................................
4.1 Kết quả thống kê về sự tự tin và hành vi gian lận trong học tập.............................
4.1.1 Kết quả thống kê về sự tự tin trong học tập.........................................................................35
4.1.2 Kết quả thống kê hành vi gian lận trong học tập..................................................................37
4.2 So sánh hành vi gian lận theo các nhóm..................................................................
4.3 Kết quả hồi quy kiểm định mối quan hệ giữa gian lận trong học tập và các nhân
tố tác động..........................................................................................................
5
4.3.1 Sự tự tin trong học tập có tác động như thế nào đến mức độ gian lận trong học tập.........41
4.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng cùng chiều với hành vi gian lận trong học tập..................................46
4.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng ngược chiều với hành vi gian lận trong học tập...............................52
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ SỰ GIAN LẬN TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN.....
5.1. Sự cần thiết phải hạn chế sự gian lận trong học tập của sinh viên.........................
5.2. Một số giải pháp nhằm hạn chế sự gian lận trong học tập của sinh viên...............
5.2.1. Giải pháp từ bản thân sinh viên..........................................................................................56
5.2.2. Giải pháp đối với gia đình...................................................................................................56
5.2.3. Giải pháp đối với nhà trường..............................................................................................57
CHƯƠNG 6: HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN.......................................................................
Chương 7: Phụ lục................................................................................................................................
DANH MỤC VIẾT TẮT
các lý do tác động đến việc gian lận trong học tập của họ. Chúng tôi đã xác định
được mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu thực trạng, tần suất của việc gian lận trong học tập của sinh viên
8
khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội.
- Tìm hiểu sự khác biệt về hành vi gian lận giữa các nhóm sinh viên có đặc
điểm nhân khẩu học khác nhau.
- Tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc gian lận trong học tập của sinh
viên khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp để giúp hạn chế tình trạng gian lận trong học tập
của sinh viên khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội
Các câu hỏi nghiên cứu được nhóm nghiên cứu đặt ra như sau:
- Hành vi, tần suất của việc gian lận trong học tập của sinh viên khối kinh
tế trên dịa bàn Hà Nội như thế nào?
- Hành vi gian lận trong học khác nhau giữa các nhóm sinh viên khối ngành
kinh tế có các đặc điểm nhân khẩu học có sự khác biệt gì không?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc gian lận trong học tập của sinh
viên khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội là gì?
- Bằng cách nào có thể hạn chế được tình trạng gian lận trong học tập của
sinh viến khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội?
Quy trình nghiên cứu được chia làm bảy bước. Mẫu nghiên cứu được lấy
từ hai trường Đại học là Kinh Tế Quốc Dân và Đại học Thương Mại. Các câu
hỏi đều áp dụng thang đo 5 điểm Likert. Các chỉ báo của các câu hỏi đều được
nhóm nghiên cứu kiểm tra độ tin cậy bằng cách chạy Thống kê độ tin cậy.
Phương pháp thu thập dữ liệu là phương pháp thuận tiện.
Sau khi phân tích dữ liệu nhóm nghiên cứu đã có một số kết luận như sau:
- Những sinh viên càng tự tin về các môn liên quan đến tính toán thì họ
lận trong học tập.
10
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Hiện nay, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì nhu cầu tìm hiểu tri
thức nhân loại ngày được mở rộng. Học nhiều nhưng không thừa, càng học
rộng, hiểu biết càng nhiều và giúp chúng ta giải quyết công việc tốt hơn, càng
trau dồi kiến thức, tâm chúng ta càng sáng hơn như câu “ngọc bất trác bất thành
khí, nhân bất học bất tri lý”. Việc học như viên ngọc phải rèn giũa thường xuyên
và càng mở rộng phạm vi học tập, không chỉ học tri thức mà còn trau dồi đạo
đức và phải thực hành. Học phải đi đôi với hành, Hồ Chí Minh là người luôn
quan tâm đến việc học đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, nói đi
đôi với làm “Lý luận mà không có thực tiễn thì trở thành lý luận suông, thực tiễn
mà không có lý luận thì trở thành thực tiễn mù quáng”. Người có kinh nghiệm
thì chưa đủ mà cần phải có lý luận đi kèm, người có lý luận thì phải đem ra thực
hành, giữa học và hành phải luôn luôn đồng thuận với nhau. Nói mà không làm
thì không giỏi, làm mà không có lý luận đi kèm thì sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh
nghiệm, công việc sẽ không đi đến nơi. Lênin cũng có câu “Học, học nữa, học
mãi” là việc học không bao giờ ngừng, học một rồi phải học lên hai, hai rồi lên
ba, học đến suốt đời. Việc học không phải lên lớp nghe giảng bài thì mới được
gọi là học, mà việc học được tổ chức mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm, chúng ta
có thể học khi ta đang làm, học trong khi đang vui chơi. Học không kén chọn ai,
ai cũng có thể học, học nhiều hơn nữa. Việc học không có nghĩa là có người
hướng dẫn mà người học có thể tự tổ chức việc học cho mình. Vai trò tự học rất
quan trọng, người học mà không có tính tự học thì học không đến nơi, không
giỏi, còn người học mà có tính tự học thì học nhiều hơn dự tính của mình. Chính
vì vậy việc học tập đã trở nên không thể thiếu đối với mỗi con người đặc biệt là
thông tin liên lạc cá nhân ngày càng tinh xảo, nhỏ gọn, đã tạo điều kiện cho thí
sinh dễ dàng mang vào phòng thi mà khó bị phát hiện. Gần đây, nhờ kỹ thuật
photo màu đã trở nên thông dụng, nhiều thí sinh đã làm giả giấy chứng nhận kết
quả thi tuyển sinh đại học, cao đẳng để tham gia xét tuyển vào cao đẳng, trung
cấp chuyên nghiệp. Tiêu cực phổ biến trong làm luận văn là tình trạng sao chép
luận văn, luận án của người khác. Cá biệt có trường hợp đã bị phát hiện dùng
12
báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ của người khác làm luận văn
của mình.
Một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập đó chính là sự
tự tin. Theo Bandura sự tự tin là năng lực của một người đạt được mong muốn
hay tránh những kết quả không mong muốn. Cố gắng phấn đấu để đạt được kết
quả mình mong muốn là tốt vì chúng ta sẽ ham học hỏi hơn, có gì chưa biết sẽ
phải hỏi ngay không ngần ngại tham gia các khóa học để nâng cao vốn hiểu biết.
Nhưng theo Bandura, sự tự tin cũng chính là năng lực để một người tránh những
kết quả không mong muốn. Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng một người tự
tin sẽ làm mọi cách để tránh kết quả không tốt kể cả việc gian lận. Chính vì điều
đó chúng ta thấy được những sinh viên tuy trên lớp bình thường đều rất tự tin
tham gia lớp học nhưng khi kiểm tra họ lại gian lận.
Đặc biệt là tỉ lệ người gian lận trong học tập lại chiếm nhiều ở sinh viên
khối ngành kinh tế, những nhà quản trị tương lai của đất nước. Sở dĩ họ hay gian
lận vì họ luôn đặt mục tiêu cho bản thân và cố gắng làm đủ mọi cách để đạt
được mục tiêu của mình kể cả việc phải làm nhưng hành động xấu như quay
cóp, giở phao. Gian lận không có nghĩa là họ không học, họ thường luôn cố
gắng tiếp thu và chăm chỉ nhưng cũng luôn lo sợ mình có những kết quả xấu nên
để chắc chắn họ đành phải gian lận.
Gian lận tuy không phải là chủ đề nghiên cứu quá mới nhưng nghiên cứu
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc gian lận trong học tập của sinh
viên khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội là gì?
- Bằng cách nào có thể hạn chế được tình trạng gian lận trong học tập của
sinh viến khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội?
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng
- Sự gian lận trong học tập của sinh viên trên khối ngành kinh tế trên địa
bàn Hà Nội
14
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung
Nghiên cứu về hành vi gian lận và các nhân tố ảnh hưởng tới việc gian lận
trong học tập hay cụ thể hơn là trong học tập
Phạm vi nghiên cứu về không gian
Các trường đại học có đào tạo ngành kinh tế trên địa bàn Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian
Dữ liệu thứ cấp được lấy trong khoảng 5 năm trở lại đây
Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong 2 năm: 2014 - 2015
1.4 Cấu trúc báo cáo
Báo cáo của bài nghiên cứu được chia làm 6 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Một số giải pháp nhằm hạn chế sự gian lận trong học tập
Chương 6: Hạn chế nghiến cứu và kết luận
định nghĩa này gần với định nghĩa về gian lận trong học tập mà nhóm chứng tôi
hướng tới nhất
16
2.2 Tác hại của gian lận trong học tập
Gian lận có thể đem lại cho bạn lợi ích ngắn hạn nhưng lại có thể đem đến
những hậu quả dài hạn. Đối với bản thân sinh viên, “gian lận trong học được coi
là một sự vi phạm quy định hoặc điều kiện để hoàn bài tập và bài thi” (Cized,
1990). Nếu bị phát hiện đạo văn hay gian lận khi làm bài kiểm tra, người học sẽ
bị hủy kết quả thi, đình chỉ thi trong 2 năm và đình chỉ học. Nếu như hành vi
gian lận không bị phát hiện và xử lý, nó sẽ lặp lại nhiều lần và làm cho người
thực hiện những hành vi đó cảm thấy gian lận là điều bình thường. Trong một
nghiên cứu của Bjorklund and Wenestam (1999) đã chỉ ra rằng sinh viên không
còn hành xử theo quy tắc đạo đức được cho là đúng khi thực hiện các hành vi
gian lận. Từ việc có thói quen gian lận trong khi đi học, khi đi làm hay trong
cuộc sống sinh viên cũng sẽ gian lận, quanh co, làm mọi cách để đạt được mục
đích. Khi đi học có thể bạn chỉ bị đình chỉ học nhưng trong cuộc sống có thể là
vi phạm pháp luật và chịu hình phạt của pháp luật. Ngoài ra, những sinh viên
gian lận sẽ không học thật, có kiến thức thật, tự bản thân bạn đã tạo ra một lỗ
hổng tron kiến thức cho mình. Khi làm bài sai hay không làm được bài thầy cô
giáo sẽ chỉ cho bạn, điều này làm bạn ghi nhớ lâu hơn là đối phó bằng cách gian
lận để có điểm cao. Như thầy Nguyễn Quốc Bình (Hiệu trưởng trường THPT
Việt Đức- Hà Nội) trả lời trong một bài phỏng vấn “ Các em bây giờ học để thi
đỗ Đại học chứ không phải tìm kiếm, làm giàu kiến thức cho bản thân mình”.
Gian lận trong học tập sẽ giúp bạn có một bảng điểm đẹp nhưng sau khi kết thúc
môn học bạn phải đi làm và vận dụng kiến thức thì bạn trở nên lúng túng và phải
học lại từ đầu vì không có kiến thức cơ bản. Nghiêm trọng hơn là có một số
người sử dụng tấm bằng không xứng đáng đó để xin được công việc, điều hành
nay. Một số nghiên cứu từ xưa cho thấy 66% sinh viên đại học có ít nhất một
hành động gian lận, như đạo văn hoặc sao chép công việc của người khác
(Bowers, 1964). Tuy nhiên, tỷ lệ gian lận cao hơn hẳn tại các trường đại học và
một số các nhà nghiên cứu tuyên bố họ đã coi hành vi gian lận như một dịch
bệnh (Davis et al., 1992).
Theo như nghiên cứu của Whitley (1998) sau khi xem xét 46 nghiên cứu
điều tra tỷ lệ gian lận, ông đã phát hiện phần trăm học sinh thừa nhận gian lận
dao động từ 9% đến 95% trên mẫu khác nhau, với mức trung bình là 70,4%.
18
Vấn đề tăng để gian lận ở sinh viên đại học được coi là một thách thức lớn đối
với các quản trị viên, sinh viên và sử dụng lao động. Ví dụ, với điểm số tăng cao
do gian lận, nhà quản trị lao động có thể có quyết định sai trong việc thuê nhân
viên như thuê nhân viên không có vốn kiến thức chuyên ngàng hay còn tồi tệ
hơn là sinh viên với các giá trị đạo đức lỏng lẻo.
Nghiên cứu cho thấy rằng gian lận có tính chất lâu dài. Davis và
Ludvigson (1995) phát hiện ra rằng 70% sinh viên đại học người thừa nhận họ
đã bắt đầu gian lận như vậy từ khi trong trường trung học. Một số nghiên cứu
trước cũng tìm thấy một mối quan hệ mạnh mẽ giữa gian lận tại đại học và gian
lận trong tương lai. Sinh viên như vậy có nhiều khả năng sẽ ăn trộm hàng trong
tiệm (Beck và Ajzen, 1991), gian lận về thuế thu nhập (Fass, 1990), và tham gia
vào hành vi phi đạo đức nơi làm việc (Sims, 1993). Các mối quan hệ sau này
giữa gian lận trong trường đại học và hành vi phi đạo đức nơi làm việc đã tập
trung sự quan tâm nghiên cứu về gian lận sinh viên kinh doanh.
Đặc biệt hơn, nhiều nhà nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên kinh doanh có
hành vi gian lận nhiều hơn với những ngành khác. Sinh viên kinh doanh luôn ở
gần đầu của bảng xếp hạng của các sinh viên có nhiều khả năng để ăn gian, có lẽ
vì họ có một tâm lý "bottom line" (Riley, 2004). Hàm ý là điểm kết thúc (điểm
al. (1994) thấy rằng sinh viên trẻ gian lận thường xuyên hơn so với tuổi trở lên
(không truyền thống) sinh viên. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây hơn như
Premeaux (2005), báo cáo rằng những sinh viên đang làm việc toàn thời gian và
sinh viên đã lập gia đình có nhiều khả năng để gian lận. Những những phát hiện
mới nhất đã được hợp lý hóa bởi Klein et al. (2007) là "phản ứng tại nơi làm
việc của 'sinh viên' tạo nên môi trường phải thực hiên nó bằng mọi giá''. Sims
(1995) phát hiện ra rằng sự khác biệt giữa giảng viên và sinh viên trong nhận
thức gian lận thu hẹp khi học sinh trở thành người cao niên, dẫn đến kết luận
rằng học sinh nhận thức gian lận gần phi đạo đức tốt hơn là những sinh viên đã
tốt nghiệp. Crown và Spiller (1998) đã xem xét 14 nghiên cứu về các yếu tố
20
quyết định nhân khẩu học của gian lận đại học và nhận thấy rằng sinh viên có
điểm trung bình thấp hơn thường gian lận nhiều hơn. Do đó, Các nghiên cứu
hiện nay tiếp tục nghiên cứu và xem xét các yếu tố nhân khẩu học như yếu tố
quyết định gian lận trong nhận thức của sinh viên kinh doanh. Rất ít nghiên cứu
đã khảo sát được lựa chọn chính là một yếu tố dự báo gian lận. Chapman et al.
(2004) nhận thấy rằng sinh viên tiếp thị có nhiều khả năng để gian lận so với
chuyên ngành kinh doanh khác.
Về yếu tố tình huống, Houston (1976) thấy rằng sinh viên xuất hiện việc
gian lận thường xuyên hơn trong các lớp học đông đúc lớn, nơi mà giáo viên
hướng dẫn sử dụng các bài kiểm tra trắc nghiệm. Trong một phân tích về các
tiền đề của gian lận, Whitley (1998) thấy rằng giảm giám sát, kiểm tra và tăng
tầm quan trọng gặp khó khăn, sắp xếp chỗ ngồi gần và chấm điểm đều là yếu tố
quyết định tình huống quan trọng của việc gian lận.
Chapman et al. (2004) phát hiện ra cá nhân và biến tâm lý là quan trọng
nhất, nhưng lại được nghiên cứu ít nhất dù đây là yếu tố quyết định gian lận đại
học. Rettinger và Jordan (2005) báo cáo rằng định hướng cấp cao hơn đã tích
Những người tự tin ràng mình gian lận tốt hơn những người khác cũng sẽ gian
lận nhiều hơn
Từ các nghiên cứu trên nhóm nghiên cứu đã có thể đưa ra:
H1: Sinh viên có ý thức học tập thấp thường hay gian lận
H2: Sinh viên không làm chủ được kiến thức thường hay gian lận
H3: Sinh viên cảm nhận áp lực học tập càng cao càng hay gian lận
H4: Sinh viên muốn có bảng điểm đẹp thường hay gian lận
H5: Sinh viên càng coi trọng giá trị của việc học và sự công bằng trong học
tập thì càng ít gian lận
22
Hình 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi gian lận
Ýthức học tập
H1 (+)
Không làm chủ kiến thức
Cảm nhận về áp lực học tập
H2 (+)
H3 (+)
Hành vi gian lận
H4 (+)
Mong muốn có bảng điểm đẹp
H5 (-)
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự phát triển
24
S người (85.5%) tiếp theo là từ trường Thương mại 36 người (14.1%) và
chỉ có 0.4% sinh viên đến từ các trường khác.
Bảng 3.2a: Năm học của sinh viên được khảo sát
Năm học
Năm 1
Năm 2
Năm 3
Năm 4
Số lượng sinh viên
78
70
103
5
Phần trăm sinh viên
30.5%
27.3
40.2
2
Hình 3.2b. Năm học của sinh viên được khảo sát
Số sinh viên được hỏi chủ yếu là năm 3 (103 người), năm 1 (78 người) và
năm 2 (70 người) còn năm 4 hầu như không có, chỉ có khoảng 5 sinh viên trả lời