TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAM - Pdf 31

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, các hoạt động đầu tư ngày càng
phát triển sôi động ở phạm vi cả trong nước và trên thế giới. Trong đó, hoạt
động đầu tư ra nước ngoài nổi lên như một xu thế chung của các quốc gia,
nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tận dụng
nguồn tài nguyên và nhân lực ở nước tiếp nhận, tránh hàng rào bảo hộ và
tận dụng các chính sách ưu đãi của nước sở tại, Việt Nam cũng không nằm
ngoài xu thế đó.
Ngành dầu khí nước ta hôm nay có vị trí trong cộng đồng các quốc
gia khai thác dầu trên thế giới và đứng thứ ba ở khu vực Ðông - Nam Á. Với
lòng yêu nghề và khát vọng tìm dầu, những người làm dầu khí nước ta
không chỉ nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, mà còn vượt qua những
thách thức để tìm kiếm, khai thác nhiều dầu và khí cho Tổ quốc. Nhằm thực
hiện mục tiêu xây dựng PVN ngày càng lớn mạnh, phát triển bền vững, hoàn
thành tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cùng với việc
thúc đẩy các hoạt động điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò gia tăng trữ
lượng tài nguyên dầu khí trên đất liền và thềm lục địa Việt Nam, mở rộng
hoạt động đầu tư tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài, cùng
với đó là phát triển các nghành kinh doanh - dịch vụ liên quan đến dầu khí
được xem là hướng đi chiến lược của Tập đoàn. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu tích cực, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh
nghiệp trong nước vẫn còn tồn tại khá nhiều vướng mắc, khó khăn. Có thể
kể đến một số những khó khăn chính mà các doanh nghiệp phải đối mặt


2


- Tập đoàn Dầu khí ở Việt Nam phát triển như thế nào trong thời gian
qua đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế? Những thành tựu và
hạn chế trong qua trình phát triển ?
- Tại sao Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cần mở rộng hoạt động đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài ?
- Để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cần
tuân theo những quy định nào ? Trình tự thủ tục ra sao?
- Những hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu
khí Việt Nam trong thời gian qua là gì? Hình thức nào là chủ yếu?
- Những khu vực hợp tác chủ yếu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
trong thời gian qua khi đầu tư ra nước ngoài ? Khu vực nào chiếm tỷ trọng
lớn nhất ?
- Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam:
thành tựu, hạn chế ?
- Các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư trực
tiếp Tập đoàn Dầu khí ra nước ngoài?Các phương pháp, công cụ được sử
dụng?
- Một số giải pháp, kiến nghị góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư của
Tập đoàn Dầu khí ra nước ngoài và nâng cao hiệu quả của hoạt động này ?
5. Các phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp tổng hợp, quan sát, nhận xét và
phân tích các số liệu, phương pháp so sánh và dự báo, phương pháp duy vật
biện chứng để đánh giá tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong thời gian từ năm 1999 đến nay và dự
báo xu hướng phát triển đến năm 2025.


4

6. Kết cấu của đề tài

trực tiếp (phân biệt với đầu tư gián tiếp – FII (Indirect Foreign Investment)
như sau “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và
tham gia quản lý hoạt động đầu tư .” (Điều 3.2 Luật Đầu tư )
- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: Theo Luật Đầu Tư Việt Nam 2005
( có hiệu lực từ ngày 1/7/2006): Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà
đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra


6

nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động
đầu tư.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hoàn toàn vì mục đích lợi
nhuận. Nhà đầu tư trực tiếp tham gia quản lý quá trình sử dụng vốn đầu tư,
do đó họ trực tiếp chịu trách nhiệm trước sự thành công hay thất bại trong
quyết định đầu tư của mình. Trong quá trình hợp tác đầu tư, quyền lợi của
các bên tham gia phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, tỷ lệ mỗi bên đầu tư vào dự
án.
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.1.2.1 Đối với nước đi đầu tư:
- Đứng trên góc độ quốc gia:
Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là cách để các quốc gia có
thể mở rộng và nâng cao quan hệ hợp tác về nhiều mặt đối với các quốc gia
khác mà mình sẽ đầu tư.
Mặt khác, khi đầu tư FDI nước đi đầu tư có rất nhiều có lợi về kinh tế
cũng như chính trị.
+ Thứ nhất, quan hệ hợp tác với nước sở tại được tăng cường và vị thế
của nước đi đầu tư được nâng lên trên trường quốc tế.
+ Thứ hai, mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, khi trong nước
sản phẩm đang thừa mà nước sở tại lại thiếu.

giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học – kỹ thuật mới. Các tổ
chức sản xuất trong nước bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại,
lực lượng lao động quen dần với phong cách làm việc công nghiệp cũng như
hình thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi. Và FDI giúp tăng thu
cho ngân sách Nhà nước.


8

1.1.2.3. Lợi ích của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các
nước đang phát triển
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho nước đầu tư sử dụng
có hiệu quả nguồn lực "dư thừa" tương đối trong nước, nâng cao tỷ suất đầu
tư, khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia. Khi đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài, các quốc gia này sẽ đem các nguồn lực có lợi thế của mình để tiến
hành đầu tư và có thể sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn khi tiến hành đầu tư
trong nước bởi: trong môi trường mới, nguồn lực mà nhà đầu tư đem đi đầu
tư sẽ được khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn, các nguồn lực được khai thác
tối đa.
Thứ hai, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho nước đầu tư tìm kiếm
và tận dụng được các nguồn lực ở nước ngoài một cách có hiệu quả hơn ở
trong nước, xây dựng được thị trường cung cấp đầu vào ổn định với giá cả
hợp lý. Nguồn lực và khả năng khai thác các nguồn lực này tại mỗi quốc gia
khác nhau là khác nhau. Do vậy, mới dẫn đến tình trạng là có những nơi
"thừa" tương đối và "thiếu" tương đối các nguồn lực. Khi tiến hành sản xuất
kinh doanh, mỗi nhà quản lý đều phải luôn tìm cách tối thiểu chi phí và tối
đa lợi nhuận nên họ cố gắng sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất
và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một giải pháp.
Thứ ba, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mở rộng thị trường xuất khẩu
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một cách để thâm nhập vào thị

1.1.3. Phân loại đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài:


10

Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được thực hiện qua 2 kênh
chủ yếu là : Liên minh sát nhập ( M&A) và Đầu tư mới ( GI ).
1.1.3.1. Liên minh và sát nhập ( M&A ):
Liên minh và sát nhập là hình thức chủ yếu được thực hiện ở những
nước phát triển, chủ đầu tư tiến hành thông qua mua lại, liên minh và sát
nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài.Nguyên tắc cơ bản để tiến hành
sáp nhập và mua lại (M&A) là phải tạo ra được giá trị cho cổ đông, giá trị
của công ty sau khi tiến hành M&A phải lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai
công ty khi còn đứng riêng rẽ. Ngoài ra, những công ty mạnh mua lại công
ty khác nhằm tạo ra một công ty mới với năng lực cạnh tranh cao hơn, đạt
hiệu quả về chi phí, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, hiệu quả vận hành cao
hơn…
Tại điều 107 và điều 108 Luật Doanh Nghiệp Việt Nam đã có định
nghĩa rõ ràng về hình thức đầu tư này:
Hợp nhất doanh nghiệp là: “Hai hay một số công ty cùng loại (gọi là
công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty
hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ vàlợi ích hợp
pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị
hợp nhất”.
Sáp nhập là: “Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp
nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập)
bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang
công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp
nhập”.


nước ngoài tự thành lập, quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh.
 Doanh nghiệp là một pháp nhân của nước nhận đầu tư.
(4) Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh và chuyển giao.
Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước sở
tại với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ
tầng trong một thời gian. Hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
không bồi hoàn hoặc với một giá tượng trưng công trình đó cho nước sở tại.
Các hình thức biến tướng của BOT là BT và BTO.
- BTO là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước sở tại và nhà đầu tư
nước ngoài về việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây
dựng xong nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao cho nước sở tại. Chính phủ
nước sở tại sẽ cùng với nhà đầu tư nước ngoài khai thác công trình đó trong
một khoảng thời gian nhất định để thu hồi vốn và đảm bảo có lãi.
- BT là hình thức văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước sở tại và nhà
đầu tư nước ngoài về xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây
dựng song nhà đầu tư nước n i nhuận hợp lý.
1.2. Động lực đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp
Tháng 2-2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án "Thúc đẩy
đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài". Đây được xem như "bệ phóng" cho các
doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài với quy mô và tầm nhìn mang
tính chiến lược Không chỉ tiếp tục khai thác và phát huy thế mạnh của các
thị trường truyền thống như Lào, Campuchia, các nước trong khu vực, Nga...
mà còn từng bước mở rộng đầu tư sang các nước, thị trường mới như Mỹ La
tinh, Đông Âu, châu Phi...Vậy đâu là động lực cho các doanh nghiệp Việt
Nam đầu tư ra nước ngoài?


13

ty mẹ trong nước. Tiếp thu và học hỏi là những kỹ năng quan trọng của tư
duy giúp cho quá trình quản lý doanh nghiệp trở nên đồng bộ hơn, chất
lượng nguồn nhân lực được nâng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn dẫn đến
tăng cường sức mạnh cho toàn bộ doanh nghiệp, tạo ra sức cạnh tranh mạnh
mẽ trên thị trường.
1.2.4. Đầu tư ra nước ngoài tạo ra khả năng cho doanh nghiệp thực hiện
”chuyển giá”
Tăng chi phí và giảm doanh thu đến mức lợi nhuận âm là phương thức
để nhiều doanh nghiệp giảm thiểu mức thuế đóng góp cho toàn bộ hệ thống
công ty đóng ở các nước khác nhau. Nhờ đó mà tối đa hóa lợi nhuận thu
được. Hiện nay nhiều công ty VN mở công ty con của mình tại Singapore để
thực hiện mục tiêu ”chuyển giá”, vì Singapore có môi trường kinh doanh tốt
với hệ thống thuế thấp.
1.2.5. Đầu tư ra nước ngoài giúp các công ty phát triển vốn vô hình của
mình
Nguồn lực trong doanh nghiệp bao gồm nguồn lực hữu hình và vô
hình.Nếu như sự hữu hình làm nên một sản phẩm thì những yếu tố vô hình
lại làm nên sức sống của sản phẩm đó trong lòng người tiêu dùng.Thương
hiệu, công nghệ, bí quyết công nghệ….của doanh nghiệp chính là nguồn vốn
vô hình đó. Khi doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài cũng có nghĩa là mang
theo những yếu tố vô hình ra thi thố với bạn bè thế giới. Việc mở rộng thị
trường, tăng cường giao lưu, hợp tác giữa các bên chính là làm cho thương
hiệu, công nghệ và bí quyết của mình được thế giới biết đến và công nhận
Ví dụ: thương hiệu cà phê Trung Nguyên, Phở 24, bệnh viện Châm cứu…
1.2.6. Đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp có điều kiện phân tán rủi
ro kinh doanh


15


- Luật Đầu tư năm 2005.
- Luật của nước tiếp nhận đầu tư.
- Nghị định 108/2006/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 22/09/2006
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Đầu Tư.
1.3.2. Điều kiện đầu tư ra nước ngoài
Theo quy định tại điều 76 Luật Đầu tư Để được đầu tư ra nước ngoài
theo hình thức đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư phải có các điều kiện sau đây:
- Có dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam.
- Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà
nước đối với các trường hợp sử dụng vốn nhà nước để đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài.
- Được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
1.3.3. Cơ quan thụ lý
Nhà đầu tư làm thủ tục đầu tư tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cụ thể tại
Cục Đầu tư Nước ngoài- Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Như vậy Nhà đầu tư được chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực
hiện hoạt động đầu tư sau khi đáp ứng các điều kiện sau (Điều 23 Nghị định
số 78/2006/NĐ-CP):
- Đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài;
- Dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước tiếp
nhận đầu tư chấp thuận theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.


17

Mọi giao dịch chuyển ngoại tệ từ Việt Nam ra nước ngoài và vào Việt
Nam liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải thực hiện thông qua
một tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài bằng ngoại tệ được mở tại một tổ
chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối và cung ứng ngoại hối.

có tiềm lực và uy tín lớn.
1.4.2 PTTEP
PTTEP là công ty đầu tiên và duy nhất của Thái Lan hoạt động trong
lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí (E&P) với nhiệm vụ chính là thăm dò,
phát triển và khai thác các nguồn dầu khí từ các mỏ trên bờ và ngoài khơi tại
Thái Lan và các nước khác. PTTEP đã mở rộng hoạt động kinh doanh chủ
yếu về thăm dò và khai thác dầu khí (E&P) khi ra đời một kế hoạch đầu tư
vào E&P độc đáo như chế biến khí hóa lỏng tự nhiên bằng tàu nổi (FLNG),
một cách để tăng thêm giá trị cao nhất cho các dự án mà PTTEP đang thực
hiện.
PTTEP cũng đang đầu tư vào thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt
Nam tại Khu B & 48/95, Block 52/97, Lô Lô 9-2 và 16-1.
Hiện nay, PTTEP có 40 dự án dầu khí ở Thái Lan, Malaysia,
Myanmar, Indonesia, Campuchia, Oman, Iran, Bahrain, Algérie, Ai Cập,
New Zealand và Australia.
PTTEP cùng với Unocal Thái Lan và Moeco Thái Lan đã đầu tư vào
dự án thăm dò dầu khí ở ngoài khơi phía Tây - Nam của Việt Nam từ năm
2000.
Nói chung , các công ty lần đầu đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếmthăm dò khai thác dầu khí thường chọn phương án giảm thiểu rủi ro bằng


19

con đường liên doanh, liên danh, liên kết với các công ty khác hoặc mua các
mỏ đang khai thác.
Rủi ro khó đánh giá nhất là rủi ro địa chất, rủi ro an ninh, chính trị và
rủi ro thị trường nên các công ty thường rất thận trọng, không phiêu lưu
trong quyết định của mình. Đối với một đơn vị sản xuất- kinh doanh thì tiêu
chí quan trọng nhất là đầu tư phải có lãi.
Cuối cùng để đánh giá hoạt động đầu tư trong lĩnh vực thượng nguồn

1.5.4. Tốc độ tăng của nguồn vốn đầu tư
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp qua các năm và được tính theo công
thức sau:
(tổng số vốn đầu tư năm nay- tổng số vốn đầu tư năm trước) * 100%
Tổng số vốn đầu tư năm trước

1.5.5. Doanh thu tăng thêm / vốn đầu tư
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động đầu tư, một đồng vốn
bỏ ra thu được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hoạt
động đầu tư càng hiệu quả. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Doanh thu tăng thêm của năm đang xem xét so với năm trước
Vốn đầu tư của năm đang xem xét
1.5.7. Lợi nhuận tăng thêm / vốn đầu tư


21

Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động đầu tư, một đồng vốn
bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lợi Nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn thì hoạt
động đầu tư càng hiệu quả. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Lợi nhuận tăng thêm của năm đang xem xét so với năm trước
Vốn đầu tư của năm đang xem xét

1.6. Sự cần thiết phải tiến hành hoạt động tìm kiếm và khai thác dầu khí
ra nước ngoài
Dầu khí là ngành công nghiệp lâu đời và phát triển của thế giới,
nhưng là một ngành công nghiệp trẻ của Việt Nam.Có thể nói ngành dầu khí
trên thế giới đang sử dụng những công nghệ hiện đại nhất trong tất cả các
lĩnh vực và đang là ngành dẫn đầu trong phát triển và ứng dụng các công



23

Việt Nam) tại Quyết định số 924/QĐ-TTg ngày 18-6-2010. Tên giao dịch
quốc tế là VIETNAM OIL AND GAS GROUP; gọi tắt là Petrovietnam, viết
tắt là PVN.
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là một tập đoàn kinh tế mạnh của Việt
Nam, được biết nhiều trong khu vực và trên thế giới.
 Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Tại Quyết định số 190/QĐ-TTg ngày 29-01-2011, Thủ tướng Chính
phủ Việt Nam phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam. PVN có các chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau:
a) Tiến hành các hoạt động dầu khí và ký kết các hợp đồng dầu khí với tổ
chức, cá nhân; tiến hành các hoạt động dầu khí theo quy định của Luật Dầu
khí; tổ chức quản lý, giám sát công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế
biên dầu khí trên cơ sở hợp đồng với các nhà thầu dầu khí, với công ty con
và với các tổ chức, cá nhân khác.
b) Trực tiếp sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của
pháp luật. Các quan hệ kinh tế phát sinh giữa PVN và các doanh nghiệp
khác trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam được thể hiện bằng hợp
đồng kinh tế.
c) Đầu tư vào công ty con, công ty liên kết; chi phối công ty con theo quy
định của pháp luật và điều lệ này.
d) Thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại
công ty con và công ty liên kết.
đ) Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh trong
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
e) Thực hiện những công việc khác mà Nhà nước trực tiếp giao cho PVN
và theo các quy định tại Điều lệ này.

Trích đoạn Nhận thức về vai trò của hoạt động đầu tư ra nướcngoài của các doanh nghiệp Việt Nam Quan điểm chung về ĐTRNN của chính phủ Việt Nam Quan điểm ĐTRNN về dầu khí của Chính phủ Việt Nam Thuận lợi và khó khăn của hoạt động ĐTRNN trong lĩnh vực dầu khí trong giai đoạn hiện nay Về phía Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status