TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
NGUYỄN THỊ GẤM
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH ƯƠNG
CUA GIỐNG TRONG BỂ LÓT BẠT Ở HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH
CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THUỶ SẢN
2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
NGUYỄN THỊ GẤM
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH ƯƠNG
CUA GIỐNG TRONG BỂ LÓT BẠT Ở HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH
CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THUỶ SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. LÊ QUỐC VIỆT
model in Nam Can District, Ca Mau Province
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 8–12/2014, thông qua việc phỏng vấn trực tiếp
35 hộ ương cua từ giai đoạn megalop lên cua giống tại xã Hàm Rồng, huyện Năm Căn,
tỉnh Cà Mau. Kết quả phân tích cho thấy các nông hộ ương cua trong bể đất lót bạt với
diện tích bể ương trung bình 9,6 m2/bể, độ sâu mực nước 0,3 m và giá thể 100% là lưới.
Cua được ương với mật độ trung bình 256,7 con/m2, cho ăn bằng thức ăn ruốc sống
chiếm 40% số hộ ương và 60% cho ăn kết hợp giữa ruốc sống và thức ăn viên. Tỷ lệ sống
đạt trung bình 84,9%, năng suất 237,4 con/m2 và sản lượng đạt 986.000 con/hộ/năm. Mô
hình ương có chi phí đầu tư trung bình 18,76 triệu đồng/đợt và lợi nhuận 5,12 triệu
đồng/đợt (121,11 triệu đồng/hộ/năm), tương ứng với tỷ suất lợi nhuận là 0,3. Trong đó,
có 94,3% hộ có lợi nhuận và 5,7% số hộ lỗ. Ngoài ra, nghiên cứu đã xác định được 5 yếu
tố ảnh hưởng đến hiệu quả của mô hình nuôi gồm: (i) diện tích bể ương; (ii) Giá con
giống; (iii) mật độ ương; (iv) tỷ lệ sống và (v) giá bán.
Từ khóa: Cua biển, Scylla paramamosain, bể lót bạt, hiệu quả kinh tế, megalop
1 GIỚI THIỆU
Trong những năm qua ngành thủy sản nước ta đã khẳng định những lợi thế và vị trí của
mình trong nền kinh tế quốc dân, với diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2013 là 1.037.000
ha, sản lượng 3,21 triệu tấn và đạt giá trị khoảng 176,5 nghìn tỷ đồng (Tổng cục Thống
kê, 2013). Nghề nuôi trồng thủy sản lợ không ngừng phát triển đặc biệt trong lĩnh vực
nuôi giáp xác như: tôm, cua, ghẹ. Trong đó cua biển (Scylla paramamosain) là loài quen
1
thuộc với người nuôi thủy sản và là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế cao.
Nghề nuôi cua biển đang phát triển rộng rãi với nhiều hình thức khác nhau, điều này đã và
đang gây ra áp lực rất lớn về nguồn cua giống hiện nay còn lệ thuộc rất nhiều vào tự
nhiên. Do đó ương cua giống là vấn đề quan trọng cần được quan tâm và phát triển.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm về nuôi trồng và xuất khẩu
thủy sản của cả nước. Năm 2013, ĐBSCL đã đạt sản lượng 2,2 triệu tấn thủy sản trên diện
nguồn giống megalop, mật độ, số đợt ương, nguồn thức ăn, chăm sóc quản lý, tỷ lệ sống
và năng suất đạt được.
Các thông tin có liên quan đến hiệu quả kinh tế của mô hình như: tổng chi phí và tổng
thu nhập từ mô hình để xác định hiệu quả đồng vốn đầu tư cho mô hình. Bên cạnh đó, xác
định đầu vào và đầu ra của sản phẩm; từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn trong
trong ương cua từ giai đoạn megalop đến cua giống.
Các số liệu phỏng vấn được được thể hiện qua thống kê mô tả, tần suất xuất hiện, giá
trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định trung bình, phân tích tương quan hồi quy đa biến
và đơn biến thông qua phần mềm Microsoft Excel và SPSS 16.0 for window.
2
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các thông tin chung, kỹ thuật và hiệu quả tài chính của các hộ được khảo sát
3.1.1 Thông tin chung
Kết quả khảo sát cho thấy, nghề ương cua giống mới được phát triển trong những năm
gần đây, các hộ có kinh nghiệm dao động từ 1 – 6 năm, trung bình 3,1 năm (Bảng 1).
Những người tham gia thực hiện mô hình này có độ tuổi trung bình là 42 tuổi và có trình
độ học vấn rất khác nhau, với trình độ học vấn ở cấp 2 đạt cao nhất (51,4%), thấp nhất là
mù chữ và đại học cùng chiếm tỷ lệ 2,9% (Hình 1). Bên cạnh đó, phần lớn các hộ có được
thông tin về kỹ thuật ương chủ yếu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau (77,1%); 48,6 % hộ
ương cua giống sử dụng kinh nghiệm từ bản thân và 22,9% số hộ học hỏi kỹ thuật thông
qua tham gia tập huấn khuyến ngư, radio, ti vi.
100
Mù chữ
2,9%
77,1
Học hỏi từ nông Kinh nghiệm
dân khác
bản thân
(n=27)
(n=17)
Nguồn thông tin kỹ thuật
(Sử dụng thống kê nhiều lựa chọn)
Hình 1: Tỷ lệ (%) trình độ học vấn và nguồn thông tin về kỹ thuật ương
Bảng 1: Các thông tin chung về nông hộ
Thông tin chung
Đơn vị tính
Tuổi của chủ hộ
Số năm kinh nghiệm
Tổng số người
Số người tham gia ương cua
Tổng diện tích ương
Tổng số bể
Số đợt ương
Sản lượng cua từng đợt ương
Tổng sản lượng cua
Tuổi
Năm
Người/hộ
Người/hộ
m2/hộ
Bể/hộ
Đợt/năm
Con/hộ/đợt
4 tháng trong năm với khoảng 10 đợt ương, số đợt ương cao nhất là 26 đợt/năm, qua đó
3
cho thấy nghề ương cua giống đã được người ương cua xem như một nghề quan trọng và
đem lại nguồn thu nhập cho gia đình. Sản lượng cua giống trung bình mỗi đợt của các
nông hộ là 41.600 con/hộ/đợt. Tuy sản lượng cua mỗi đợt không cao nhưng do ương
nhiều đợt/năm nên sản lượng cả năm đạt rất cao khoảng 986.000 con/hộ/năm, hộ ương ít
nhất cũng đạt sản lượng 54.000 con/hộ/năm và có hộ ương nhiều nhất sản lượng lên đến
2.880.000 con/hộ/năm.
3.1.2 Các khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi được khảo sát
Bảng 2 cho thấy, diện tích bể ương giữa các hộ không đồng đều, trung bình 9,6 m2/bể
(6 – 16 m2). Trung bình mức nước trong bể ương 0,3 m và độ mặn dao động từ 15– 28%.
Theo Vũ Ngọc Úc (2006) cho rằng, ở độ mặn 20-25 o/oo là tối ưu đối với cua giống, vì thế
độ mặn này cũng tương đối phù hợp. Thời gian ương trung bình là 11,8 ngày/đợt (9 – 17
ngày), số ngày ương dao động rất lớn là do nhu cầu của người mua (cua tiêu, cua dưa hay
cua me), nếu là cua tiêu thì thời gian ương ngắn, cua dưa, cua me thì thời gian tương đối
dài hơn.
Bảng 2: Một số khía cạnh kỹ thuật của mô hình ương cua giống
Các chỉ tiêu
Đơn vị tính
Trung bình
Khoảng biến động
Hình dạng bể
Chữ nhật
2
Diện tích bể ương
m /bể
9,6±2,6
6-16
Mực nước ương thường xuyên m
0,2±0,03
0,15-0,3
Thay nước
Ngày/lần
2,5±0,6
1-3
Tỷ lệ thay nước
%/lần
97,1±4,7
80-100
Tỷ lệ sống
%
84,9±7,1
70-95
2
Năng suất
Con/m /đợt
237,4±81,0
100- 417
Cỡ cua thu hoạch
Cua tiêu (Cua 2); cua dưa (Cua 3) và cua me (Cua 4)
Nguồn giống megalop được các hộ mua từ trại ương trong tỉnh Cà mau, với kích cỡ
trung bình 147,5 con/g (120 – 200 con/g). Mật độ ương trung bình là 256,7 con/m2, mật
độ ương thấp nhất 111 con/m2 và mật độ ương cao nhất 429 con/m2. Nhìn chung, mật độ
ương megalop tại vùng khảo sát tương đối thấp so với mật độ ương tại các trại sản xuất
giống ở Cà Mau, mật độ ương cua con trung bình 2316,67 con/m2 (Trần Ngọc Hải và
Nguyễn Thanh Phương, 2009), điều này có thể do ở trại sản xuất giống ương cua có các
kỹ thuật viên tham gia nên trình độ kỹ thuật được đảm bảo. Bên cạnh đó, mức nước ương
trung bình ở các trại sản xuất giống là 0,42 m (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương,
Biến động
Trung bình
Biến động
Cua tiêu
Cua dưa
Cua me
37,4±24,1
52,3±20,0
10,3±20,4
0-80
20-100
0-70
501,7±45,3
621,3±63,7
721,8±120,7
450-600
500-750
570-900
3.1.4 Hiệu quả tài chính của mô hình ương megalop lên cua giống
Tổng chi phí ương từ giai đoạn megalop đến cua giống trung bình 10,88 triệu
đồng/100m2/đợt, trong đó chủ yếu là chi phí biến đổi (10,60 triệu đồng/100m2/đợt), chi
phí cố định rất thấp (0,28 triệu đồng/100m2/đợt). Tổng doanh thu trung bình 13,92 triệu
đồng/100m2/đợt, lợi nhuận bình quân 3,04 triệu đồng/100m2/đợt và tỷ suất lợi nhuận là
0,3 (1 đồng chi phí bỏ ra sẽ đem về trung bình 0,3 đồng lợi nhuận). Do mỗi năm ương
nhiều đợt nên dù mỗi đợt nông hộ chỉ có lời trung bình 5,12 triệu đồng/đợt thì lợi nhuận
443,14±296,16
9,16±5,88
433,98±290,97
564,25±372,65
121,11±125,51
-
Kết quả này cho thấy mô hình ương cua giống tại đại bàn khảo sát là tương đối hiệu
quả, vì lợi nhuận cả năm cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu khảo sát các trại sản xuất
giống tôm sú ở Cà Mau, lợi nhuận trung bình 18 triệu đồng/trại/đợt, với 3-4 đợt/trại/năm
(Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2006).
5
Kết quả Hình 2 cho thấy, các
Nhiên
Thức ăn
khoản chi chi phí thực hiện mô hình
Vận
liệu
1,3%
này, chi phí con giống chiếm tỷ lệ cao
chuyển
Khấu hao
1,0%
nhất (92,9%); kế đến là chi phí khác công trình
0,7%
chiếm 2,1% (chi phí khác bao gồm:
Khấu hao
94,3
5,44±5,17
5,7
0,16±0,04
Khoảng biến động
0,001-23,97
0,13-0,19
Tỷ lệ số hộ có lời khi tham gia mô hình ương cua là rất cao (94,3%) với mức lời
trung bình 5,44 triệu đồng/hộ/đợt, hộ lời ít nhất là 0,001 triệu đồng/hộ/đợt và hộ lời cao
nhất lên đến 23,97 triệu đồng/hộ/đợt. Điều này cho thấy có sự chênh lệch rất lớn về lợi
nhuận giữa các hộ, bởi vì quy mô có sự chênh lệch lớn nên từ đó dẫn đến lợi nhuận trung
bình trên đợt giữa các hộ ương cũng chênh lệch cao. Bên cạnh hộ có lời cũng có hộ ương
bị lỗ, tỷ lệ các hộ lỗ vốn chỉ chiếm 5,7% và mức lỗ trung bình 0,16 triệu đồng/hộ/đợt,
mức lỗ này tương đối thấp nên rủi ro của nghề ương cua giống là không cao. Hầu hết các
hộ lỗ đều là do tỉ lệ hao hụt cua giống cao và chi phí mua megalop cao trong khi giá bán
thì lại thấp.
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của mô hình nuôi
3.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của mô hình
Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận (Y:
Triệu đồng/100m2/đợt) của mô hình ương cua giống và được thể hiện theo phương trình:
Y= -17,64 + 0,36X1 – 0,03X2 + 0,02X3 + 0,18X4 + 0,01X5; (R=0,89; R2=0,81; R2 hiệu
chỉnh =0,74 và Sig=0,00). Trong đó: X1 là Diện tích bể ương (m2/bể); X2: Giá con giống
(đồng/con); X3: Mật độ ương (con/m2); X4: Tỷ lệ sống (%) và X5: Giá bán (đồng/con).
Phương trình tương quan thể hiện, diện tích bể ương có mối tương quan thuận với lợi
nhuận, khi diện tích ương tăng lên 1m2/bể thì lợi nhuận tăng 0,36 triệu đồng/100m2/đợt
(giả sử các yếu tố khác không đổi). Giá con giống tương quan nghịch với lợi nhuận, khi
giá con giống tăng lên 1 đồng/con thì lợi nhuận giảm 0,03 triệu đồng/100m2/đợt (giả sử
0,001 lần.
3.2.3 Tác động từng yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của mô hình ương
Diện tích bể ương: Kết quả Bảng 6 cho ta thấy không có sự khác biệt về tỉ lệ sống
giữa 3 nhóm diện tích bể ương khác nhau, tương tự đối với năng suất, lợi nhuận và tỷ suất
lợi nhuận. Tuy nhiên ta thấy khi diện tích bể ương từ 6-8 m2/bể thì lợi nhuận trung bình
khá cao 3,57 triệu đồng/100m2/hộ với năng suất trung bình 259 con/m2. Khi diện tích
ương >8-10 m2/bể cho tỉ suất lợi nhuận là cao nhất (0,4). Bên cạnh đó ta thấy năng suất
trung bình đạt thấp nhất (215 con/m2) khi diện tích ương lớn hơn 10 m2/bể.
Giá con giống: Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p370-390 đồng/con thì lợi nhuận mang lại cao hơn có ý nghĩa so với giá con
giống từ >390-500 đồng/con. Tương tự, tỷ suất lợi nhuận cũng có sự khác biệt thống kê
giữa nhóm giá >390-500 đồng/con so với 2 nhóm giá còn lại.
Mật độ ương: khi ương với các mật độ khác nhau dao động từ 111 – 429 con/m2, thì
năng suất đạt được sai khác nhau có ý nghĩa thống kê (p=251-300 cho nâng
suất trung bình 246,5 con/m2 mật độ tăng lên trên 300 con/m2 thì năng suất cũng tăng
theo, cụ thể ở nhóm mật độ ≥300-429 con/m2 cho năng suất cao nhất (331,3
con/m2/đợt).Tuy nhiên, tỷ lệ sống, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận giữa 3 nhóm mật độ
khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
7
Tỷ lệ sống: Kết quả khảo sát cũng cho thấy tỷ lệ sống chưa ảnh hưởng lớn và sai khác
không có ý nghĩa đối với năng suất đạt được. Nguyên nhân, có thể do ở những hộ ương
với mật độ cao và có tỷ lệ sống thấp. Khi ương cua có tỷ sống trên 85%, thì lợi nhuận
(4,58 triệu đồng/100m2/đợt) và tỷ suất lợi nhuận (0,5) cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so
với 2 nhóm mật độ còn lại (Bảng 7).
Khi xét riêng về giá bán cua giống thì lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận sai khác nhau
giống
>370-390 (n=12)
4,14± 3,37b
0,4±0,3b
(đồng/con)
>390-500 (n=13)
1,83±1,66a
0,2±0,1a
Mật độ
111-250 (n=14) 86,4±7,4a 169,3±45,6a
2,21±1,64a
0,3±0,2a
ương
>=250-300 (n=12) 84,2±5,6a 246,5±44,9b
3,23±2,70a
0,3±0,3a
(con/m2)
≥300-429 (n=9) 83,6±8,4a 331,3±59,7c
4,09±3,52a
0,3±0,2a
Tỷ lệ sống
70-
mua giá cao.
8
Thương lái
55,2%
37,4%
Cua
tiêu
44,8%
Nông dân mua trực tiếp
54,7%
Nguồn Megalop
từ trại sản xuất
giống
52,3%
Hộ ương
(100%)
Cua
dưa
Thương lái
20,0
Dịch bệnh
48,5
Thị trường tiêu thụ
37,2
Nguồn vốn
28,5
Nguồn lao động
25,7
Thuận lợi Rất thuận lợi
20,0
14,3
42,7
25,8
28,6
25,7
37,2
25,6
28,6
11,4
22,8
25,7
40,0
11,5
15,7
28,6
Đơn vị tính: %
Bất lợi
-
Mô hình ương có chi phí đầu tư trung bình 18,76 triệu đồng/đợt và lợi nhuận 5,12
triệu đồng/đợt (121,11 triệu đồng/hộ/năm), tương ứng với tỷ suất lợi nhuận là 0,3.
Trong đó, có 94,3% hộ có lợi nhuận và 5,7% số hộ lỗ.
-
Có 5 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của mô hình nuôi gồm: (i) diện tích bể ương;
(ii) Giá con giống; (iii) mật độ ương; (iv) tỷ lệ sống và (v) giá bán.
4.2 Đề xuất
-
Cần năng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân để nguồn nước ương cua
không bị ô nhiễm nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình ương.
-
Tăng cường liên kết trong sản xuất, thành lập các hợp tác hay hội ương cua giống
nhằm hỗ trợ lẫn nhau và phát triển kỹ thuật sản xuất giống để đảm bảo nguồn
megalop phục vụ cho nghề ương và đầu ra sản phẩm nhằm nâng cao giá bán, giúp
cho lợi nhuận tăng lên.
-
Có chính sách hỗ trợ vốn và thường xuyên mở các lớp tập huấn về kỹ thuật sản
xuất cua giống, giúp các nông hộ sản xuất kém hiệu quả đảm bảo nguồn vốn để
sản xuất và nâng cao kỹ thuật.