phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính trong nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở huyện vĩnh châu, tỉnh sóc trăng - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

ONG THỊ MŨI LÝ

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH
TRONG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH Ở
HUYỆN VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

2014


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

ONG THỊ MŨI LÝ

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH
TRONG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH Ở
HUYỆN VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
TS. TRƢƠNG HOÀNG MINH

2014

at density of 70.2 PL/m2. The post larvae which has the size from PL8 to PL12 sourced from
central provinces accounted for 70%,. Shrimp was mainly feed by commercial feed. After 86.6
culturing days, shrimp was harvested with high survival rate of 76%, average yield of
productivity was 7,5 ton/ha/crop, final body weight of 72 individuals/kg, and feed conversion
ratio (FCR) of 1.10. In addition, with production cost of 567.25 million VND/ha/crop, gross
income of 1,012.75 million VND/ha/crop, net income was rather high of 442.64 million
VND/ha/crop and benefit ratio was 0.78 times and had 91.50% profits. However, there are
some difficulties existing in this system such as lack of funds, shrimp disease, water pollution.

Key words: White leg shrimp, Lithopenaeus vannamei, technical efficiency, financial
efficiency.
Title: Analyzing efficiency technique and financial of the white leg shrimp intensive
farming system in Vinh Chau district, Soc Trang province.

1


1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích 39.876 km2, trong đó có
954.350 ha diện tích mặt nước. Tôm thẻ chân trắng (TTCT) đang thay thế dần tôm sú là
đối tượng nuôi truyền thống vì TTTC có thời gian nuôi ngắn, có thể nuôi mật độ dày để
đạt năng suất cao, nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích (Tổng cục thủy sản,
2013).
Hiện nay diện tích nuôi TTCT tập trung chủ yếu ở ĐBSCL (chiếm khoảng 94%
diện tích của cả nước) như Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,... Sóc Trăng là một
trong 13 tỉnh vùng ĐBSCL có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản ở cả 03 vùng sinh
thái nước mặn, lợ, ngọt của biển, ven biển và nội địa, có tiềm năng lớn để phát triển
thủy sản trên 03 lĩnh vực nuôi trồng, khai thác và chế biến xuất khẩu thủy sản theo
hướng bền vững (Cổng thông tin điện tử Sóc Trăng, 2011).
Theo Trần Viết Mỹ (2009) TTCT là đối tượng có giá trị kinh tế cao, thị trường

cục NTTS; các tạp chí khoa học chuyên ngành; luận văn cao học và các website có liên
quan đến lĩnh vực nghiên cứu.

2


Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 35 hộ nuôi
TTTC thâm canh tại huyện Vĩnh Châu bằng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn. Nội dung
phỏng vấn bao gồm (1) thông tin chung về nông hộ; (2) các khía cạnh kỹ thuật (diện
tích ao nuôi, mật độ, thời gian nuôi, kích cỡ thu hoạch, năng suất,…), (3) các chỉ tiêu tài
chính (chi phí, thu nhập, lợi nhuận,…) và (4) những thuận lợi và khó khăn tồn tại trong
mô hình.
Các số liệu phỏng vấn được kiểm tra, mã hóa và nhập vào máy tính. Phần mềm
Microsoft Excel và SPSS for windows được sử dụng để nhập và phân tích số liệu thông
qua các phương pháp: (1) Phương pháp thống kê mô tả dùng phân tích định tính cho các
chỉ tiêu để mô tả như: tần suất, %. Phân tích định lượng như: giá trị trung bình, giá trị
lớn nhất, nhỏ nhất và độ lệch chuẩn để mô tả các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá hiệu
quả và (2) Phân tích hồi quy đa biến để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và
lợi nhuận trong mô hình nuôi TTCT. Phương trình hồi quy đa biến có dạng:
Y = A + β1.X1 + β2.X2 + β3X3 + … + βi.Xi
(Với Y: năng suất hay lợi nhuận của mô hình; A: Hằng số; β 1 - i: Hệ số hồi quy; X 1 - i: Biến độc
lập giả định có ảnh hưởng đến năng suất hay lợi nhuận của mô hình).

3.
3.1.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Những thông tin chung về nông hộ

Bảng 1: Thông tin chung về nông hộ

Số lao động thuê mướn (người/hộ)

0,49±0,61

2

0

Số năm kinh nghiệm (năm)

3,94±1,21

4

2

Nội dung
Tuổi của chủ hộ NTTS (tuổi)

Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 45 tuổi, mô hình nuôi TTCT đa phần có độ tuổi
trung niên với kinh nghiệm trung bình là 3,94 năm, kinh nghiệm lâu năm trong nuôi tôm
sú là lợi thế của người nuôi khi bắt đầu chuyển sang nuôi TTCT, vì họ đã thành thạo
trong việc chăm sóc tôm, phòng ngừa dịch bệnh ở tôm, chế độ thay nước và khẩu phần
ăn hợp lý nên hiệu quả đạt được của mô hình sẽ khả quan hơn so với những hộ ít kinh
nghiệm.
Vì tính chất của công việc nên phần lớn việc quản lý các ao tôm do nam giới phụ
trách quản lý (91,40%), nữ giới chỉ chiếm phần nhỏ (8,60%), kết quả nghiên cứu này
phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và ctv., (2006), tỉ lệ Nam quyết định
trong hoạt động NTTS chiếm 75,70% .
Số lao động trung bình trong gia đình là 3 người/hộ, trong đó số lao động tham


1,2±0,5

3

0,5

Số lượng ao nuôi của hộ NTTS (ao/hộ)

3,1±0,7

5

1

Diện tích bình quân/ao (ha/ao)

0,4±0,1

0,5

0,3

Độ sâu mực nước ao nuôi (m)

1,4±0,1

1,5

1,2

thời vụ và thời tiết thuận lợi. Thời gian nuôi là 86 ngày/vụ, tương ứng với kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2011) là 81,8 ngày/vụ. Thời
gian nuôi ngắn hay dài sẽ biểu hiện được mức hiệu quả sản xuất của mô hình, vì khi
thời gian nuôi ngắn hơn thời điểm thu hoạch thì sản lượng thu hoạch thấp hay mất trắng
vì kích cỡ nhỏ hoặc quá nhỏ nên mức độ hiệu quả của mô hình thấp, không hiệu quả và
ngược lại. Số vụ nuôi trung bình của hộ NTTS là 2,3 vụ/năm (dao động từ 2-3 vụ/năm).
Kích cỡ thu hoạch bình quân của TTCT là 79 con/kg. Năng suất nuôi trung bình
là 7,5 tấn/ha/vụ. Kết quả này thấp hơn nhiều so với năng suất trung bình nuôi TTCT ở
Bến Tre (9,6 tấn/ha/vụ) theo Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2011). Tuy
nhiên, năng suất còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mật độ thả, tỷ lệ sống và điều kiện
tự nhiên của mỗi vùng. Với tỷ lệ sống 76,05% gần bằng với nghiên cứu của Nguyễn
Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2011) tỷ lệ sống của TTCT là 79,5%, tỷ lệ sống phụ
thuộc khá nhiều vào chất lượng con giống và môi trường nuôi.
Bảng 3: Các thông tin về kỹ thuật trong nuôi TTCT
Giá trị

Giá trị lớn
nhất

Giá trị nhỏ
nhất

2,3±0,5

3

2

8-12



1,2±0,2

1,31

0,82

Thời gian nuôi (số ngày/vụ)

87±15,7

95

50

Kích cỡ thu hoạch (con/kg)

79±7,3

250

40

Tỉ lệ sống (%)

76,0±15,0

85,1

37,1


Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng

 Cơ cấu chi phí trong mô hình nuôi
Trong tổng chi phí đầu tư nuôi TTCT thì chi phí cố định chỉ chiếm tỷ 2,5 %/tổng
chi phí (14,2 tr.đồng/ha/vụ), thấp hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và
Huỳnh Văn Hiền (2011) là 15,4 tr.đồng/ha/vụ. Trong đó chi phí khấu hao đào ao, chi
phí khấu hao cho hệ thống quạt khí và xây cống, hệ thống cấp nước chiếm tỷ lệ cao nhất
(Hình 1).

Chi phí
xây nhà phục
vụ sản xuất
6%

Xây cống,
hệ thống cấp
Máy bơm
nước
9%
15 %

Hệ thống
quạt khí
25 %

Ghe xuồng
phuc vụ sản
xuất
5%

giống
15 %

Hình 2: Cơ cấu chi phí biến đổi của mô hình nuôi
 Hiệu quả tài chính trong mô hình
Tổng chi phí trong mô hình khá cao 567,2 tr.đ/ha/vụ tương đương với kết quả
của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2011) là 560,7 tr.đ/ha/vụ. Tổng thu nhập
từ TTCT là 1.012,75 tr.đ/ha/vụ và lợi nhuận đạt (442,6 tr.đ/ha/vụ), kết quả này cao hơn
so với nghiên cứu của Trần Ngọc Tùng (2010), tổng thu nhập bình quân của hộ nuôi
TTCT là 324,02 tr.đ/ha/vụ. Giá thành nuôi TTCT trung bình là 66.300 đồng/kg cao hơn
nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2011) 59.600 đồng/kg. Tỷ
suất lợi nhuận bình quân là 0,78 lần, tỷ suất này thấp hơn và có sự khác biệt so với
nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2011), tỷ suất lợi nhuận trong
mô hình nuôi nuôi TTCT 1,0 lần. Phần lớn các hộ nuôi TTCT đều đạt lợi nhuận cao, chỉ
có 8,5% hộ nuôi bị thua lỗ.
Trong nuôi tôm, ngoài việc nuôi tôm thành công đạt năng suất cao thì giá cả
cũng ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận của mô hình nuôi. TTCT có giá trị kinh tế cao,
giá bán biến động từ 56.000 đến 180.000 đồng/kg, tùy thuộc vào kích cỡ tôm thu hoạch,
và biến động giá thị trường (kích cỡ càng lớn thì giá bán càng lớn). Trong những năm
gần đây, giá bán của tôm sú cao hơn TTCT (do kích cỡ tôm sú lớn hơn TTCT) nhưng so
về mặt năng suất, thời gian nuôi và cạnh tranh trên thị trường nên người nuôi vẫn ưu
tiên chuyển từ nuôi tôm sú sang nuôi TTCT.
Bảng 4: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Nội dung
Tổng chi phí (tr.đ/ha/vụ)

Giá trị

Giá trị lớn nhất Giá trị nhỏ nhất


442,64±230,05

1.150

-35

Tỉ suất lợi nhuận (lần)

0,78±0,25

0,9

-0,4

Tỉ lệ số hộ có lời (%)

91,50

Tổng thu nhập (tr.đ/ha/vụ)

7


 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Với Y là Lợi nhuận nuôi tôm (tr.đ/ha/vụ), có 5 yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận
của mô hình nuôi TTCT là: X1: Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) ; X2: Giá bán tôm trung
bình (1000đ/kg); X3: Giá con giống (đồng/con); X4: Chi phí thuốc và hóa chất
(tr.đ/ha/vụ); X5: Chi phí điện (tr.đ/ha/vụ), được trình bày qua phương trình (2):
Y = -63,15 - 7,78X1 + 8,96X2 + 0,87X3 - 0,65X4 - 0,55X5
(Với R = 0,69; R2 = 0,65; R2hiệu chỉnh = 0,58; Sig. = 0,00)

0%
Gần hệ thống sông Có kinh nghiệm
ngòi và kinh thủy
lợi

Thời gian nuôi
ngắn

Thị trường tiêu thụ Nguồn lao động
rộng
sẳn có từ gia đình

Hình 3: Thuận lợi của mô hình nuôi TTCT
8


Khó Khăn
Bên cạnh những thuận lợi trên, qua khảo sát các hộ nuôi cũng gặp không ít khó
khăn. Dịch bệnh là nỗi lo lắng và thách thức rất lớn mà người nuôi tôm phải đối mặt
(100%). Điển hình như hoại tử gan tụy, đục cơ, đầu vàng,… nguồn nước bị ô nhiễm
(59%) do chất thải sinh hoạt và đặc biệt là chất thải từ các ao nuôi tôm mang theo mầm
bệnh, vì thế ao lắng là điều cần thiết cho các hộ nuôi. Nghề nuôi tôm mang về lợi nhuận
cao nhưng kéo theo đó chi phí cũng tăng cao, chính vì vậy các hộ lại thiếu vốn (45%) để
phục vụ sản xuất. Thời tiết diển biến thất thường (34%). Do vùng nuôi nằm xa với nhà ở
nên hộ nuôi khó khăn trong việt quản lý (12%), phải tốn chi phí cho việc xây nhà ở
phục vụ sản xuất, tốn chi phí đi lại. Ngoài ra một số hộ nuôi chưa có điện đủ để phục vụ
sản xuất (3%) nên kéo điện từ hộ gia đình khác nên làm tăng chi phí điện so với các hộ
khác và giá thức ăn cao (3%).
120%
100%

Để tiếp tục gia tăng diện tích nuôi thì cần đưa ra một số biện pháp giải quyết
chất thải từ ao nuôi công nghiệp để hạn chế ô nhiễm nguồn nước để từ đó hạn chế được

9


rủi ro và thường xuyên mở các lớp tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật để xử lí kịp thời
khi phát hiện dịch bệnh.
Mật độ nuôi thích hợp là từ 65-75 con/m2 sẽ tiện lợi cho việc quản lí và hạn chế
dịch bệnh, cải tiến phương thức quản lý thức ăn để giảm hệ số tiêu tốn thức ăn. Số vụ
nuôi trong năm nhỏ hơn 3 (vụ/năm) để không làm giảm chất lượng đất, để có thời gian
xử lí và cải tạo ao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cổng thôn tin điện tử Sóc Trăng, 2011. Sóc Trăng: Hơn 1.550 tỷ đồng đầu tư cho các dự án
thuộc chương trình nuôi trồng thủy sản. cập nhật ngày 09/08/2011.
Lâm Văn Tùng, Phạm Công Kinh, Trương Hoàng Minh và Trần Ngọc Hải, 2012. Hiệu quả kỹ
thuật, tài chính và phương thức liện kết của các cơ sở nuôi tôm sú (Penaeus Monodon)
thâm canh ở tỉnh Bến Tre và tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí khoa học, Đại Học Cần Thơ.
Lê Xuân Sinh, Đỗ Minh Chung, Phan Thị Ngọc Khuyên và Từ Thanh Truyền, 2006. Tác động
về mặt xã hội của hoạt động nuôi trồng thủy sản mặn lợ, ven biển Đồng bằng sông Cửu
Long. Tạp chí khoa học, quyển 2, Đại học Cần Thơ.
Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền, 2011. So sánh hiệu quả đầu tư nuôi thâm canh tôm sú
và tôm chân trắng ở Bến Tre. Tạp chí thương mại thủy sản số 155, Khoa thủy sản, Đại
học Cần Thơ.
Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004. Giáo trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi giáp
xác. Tủ sách Đại Học Cần Thơ.
Tổng cục thủy sản, 2013. Báo cáo đánh giá về hiện trạng nuôi tôm nước lợ tại Việt Nam,
8/2013.
Trần Ngọc Tùng, 2010. So sánh hiệu quả nuôi tôm thẻ chân trắng và nuôi tôm sú công nghiệp
tại huyện Vĩnh Châu-Long Phú tỉnh Sóc Trăng. Luận văn tốt nghiệp cao học ngành Kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status