Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lúa bền vững tại huyện xuân trường, tỉnh nam định - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
..................***&***..................

PHẠM THỊ HƯƠNG THANH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT LÚA BỀN VỮNG
TẠI HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành

: KHOA HỌC ĐẤT

Mã ngành

: 60.62.15

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. NGUYỄN NHƯ HÀ

HÀ NỘI – 2012


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để
bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.


Phạm Thị Hương Thanh

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng

v
vii

1

ĐẶT VẤN ĐỀ


4

2.2

Khái niệm về loại hình sử dụng đất và đánh giá đất theo FAO

8

2.4

Nghiên cứu về loại hình sử dụng đất bền vững ở Việt Nam

2.4.1

Kết quả nghiên cứu về loại hình sử dụng đất bền vững ở Việt

22

Nam

22

3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

27

3.1

4.1.1

Điều kiện tự nhiên

31

4.1.2

Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Xuân Trường

34

4.1.3

Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

37

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

iii


4.2

Đánh giá hiệu quả sử dụng của đất trồng lúa tại huyện Xuân
Trường

41



55

57

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới việc giảm hợp lý chi phí sản
xuất của các kiểu sử dụng đất lúa tại huyện Xuân Trường, tỉnh
Nam Định

4.4

Đề xuất các giải pháp đảm bảo cho việc phát triển bền vững các
kiểu sử dụng đất lúa có hiệu quả kinh tế cao phục vụ sản xuất

4.4.1

59

74

Xác định các kiểu sử dụng đất lúa bền vững có hiệu quả kinh tế
cao tại huyện Xuân Trường, Nam Định

74

4.4.2

Xác định các giải pháp nhằm tăng tổng giá trị sản phẩm cho LUT lúa

75


82

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

iv


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ

:

Bình quân

BT7

:

Bắc thơm số 7

BTNMT

:

Bộ Tài nguyên và Môi trường

BVTV

:


Chi phí trung gian

CPVC

:

Chi phí vật chất

DVP

:

Dịch vụ phí

ĐVT

:

Đơn vị tính

FAO

:

Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới

GS. TSKH

:


Hiệu quả đồng vốn

KT - XH

:

Kinh tế - Xã hội

LĐGĐ

:

Lao động gia đình

LĐt

:

Lao động thuê ngoài

LE

:

Đánh giá đất

LMU

:

Nam định 5

NSTB

:

Năng suất trung bình

PGS. TS

:

Phó giáo sư, tiến sĩ

KSDĐ

:

Kiểu sử dụng đất

TAB

:

Tám ấp bẹ

TB

:


Tổng thu

TTCN

:

Tiểu thủ công nghiệp

UNEP

:

Chương trình môi trường liên hợp quốc

XDCB

:

Xây dựng cơ bản

VAC

:

Vườn – ao – chuồng

VQ14

:


4.2

Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Xuân Truờng năm
2011

4.3

38

Kết quả sản xuất vụ Đông trên đất 2 lúa 5 năm qua (2007 –
2011)

4.5

37

Diện tích, năng suất, sản lượng và cơ cấu giống lúa huyện Xuân
Trường giai đoạn 2007 - 2011

4.4

7

40

Các loại hình và kiểu sử dụng đất lúa chính của huyện Xuân
Trường

41



49

Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV của các kiểu sử
dụng đất lúa tại các tiểu vùng

4.12

47

53

Đánh giá hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất lúa theo
các tiểu vùng

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

55

vii


4.13

Tổng hợp đánh giá khả năng sử dụng bền vững của các kiểu sử
dụng đất lúa

4.14

Các kiểu sử dụng đất lúa có triển vọng bền vững tại huyện



1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quý, là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông
nghiệp. Đây là lĩnh vực sản xuất tuy có xu hướng đóng góp cho nền kinh tế
quốc dân sẽ ngày càng giảm cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, nhưng luôn có một vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thay thế
trong đảm bảo an ninh lương thực.
Đối với sản xuất lương thực ở Việt nam, đất trồng lúa có một vị trí đặc
biệt vì lúa là cây lương thực chủ yếu. Đất lúa được hình thành qua hàng nghìn
năm ở những vị trí bằng phẳng ít bị tác động của điều kiện tự nhiên bất thuận
lại thường ở những nơi thuận tiện cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Có thể nói đất trồng lúa là loại đất canh tác tốt và có nhiều thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp ở mỗi vùng sinh thái và không dễ gì có được.
Xuân Trường là huyện trọng điểm lúa của tỉnh Nam Định, nằm trong
vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng. Diện tích tự nhiên 11.491 ha trong đó
đất nông nghiệp chiếm 68%. Dân số khoảng 16,6 vạn với trên 80% dân số
sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp. Nông dân huyện Xuân Trường cần cù,
chịu khó, có truyền thống thâm canh lúa, tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học
kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất nên năng suất, sản lượng cây trồng đều có sự
tăng trưởng và duy trì ở mức cao trong khu vực.
Tuy nhiên việc sử dụng đất trồng lúa ở Việt nam nói chung, ở Xuân
Trường nói riêng đang có yếu tố bất ổn, liên quan đến hiệu quả kinh tế chưa
cao của loại hình sử dụng đất này. Trên thực tế người trồng lúa không phấn
khởi sản xuất, thậm chí mong muốn chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng các
cây khác. Vì vậy, đánh giá và chọn lựa loại hình sử dụng đất lúa có hiệu quả
kinh tế cao đồng thời đáp ứng các tiêu chí bền vững khác và phù hợp với điều
kiện cụ thể ở địa phương phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp hiệu
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

phí sản xuất của từng kiểu sử dụng đất lúa tại địa phương.
-

Các giải pháp đề xuất và định hướng phát triển loại hình sử dụng đất

trồng lúa phải phù hợp với thực tế của địa phương.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Bổ sung kết quả về phương pháp đánh giá các loại hình sử dụng đất và là
cơ sở thực tiễn để đánh giá đất đai theo FAO cho vùng sản xuất lúa thâm canh.
Xác định, định hướng cho việc nghiên cứu và xây dựng các mô hình
luân canh cây trồng trên đất lúa phù hợp với điều kiện sinh thái nhằm nâng
cao hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần xây dựng định hướng các loại hình sử dụng đất trồng lúa
có hiệu quả để phục vụ cho công tác đánh giá đất, quy hoạch và quản lý sử
dụng đất lâu bền cho sản xuất nông nghiệp của huyện Xuân Trường tỉnh
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

2


Nam Định.
Là cơ sở định hướng chuyển đổi cơ cấu mùa vụ để đảm bảo năng suất
và hệ số an toàn, né tránh thiên tai và tạo điều kiện tăng vụ mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho người nông dân.

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

3


4


ăn thiên về các thực phẩm có giá trị cao hơn như các sản phẩm chăn nuôi, rau,
quả. Với mức tiêu thụ tối thiểu hàng năm 145 kg gạo sẽ cung cấp 1.454
kcal/ngày, tức 63% nhu cầu hàng ngày. Viện Dinh dưỡng Việt Nam đã đánh giá
nhu cầu năng lượng của người Việt Nam ở mức tối thiểu phải là 2.100 kcal. Ở
những nước phát triển, lương thực cơ bản cung cấp nhiều nhất là 60% nhu cầu
năng lượng cho con người. Ở Việt Nam, đảm bảo mỗi năm sản xuất trong nước
cung cấp 150 kg gạo/người là hợp lý và khả thi.
Nước ta được coi là an toàn lương thực nếu đạt được 3 mục tiêu sau:
Đủ lương thực để cung cấp; Ổn định việc cung cấp lương thực; Đảm bảo cho
mọi người có khả năng mua lương thực. Trong lương thực quan trọng nhất là
sản lượng thóc tối thiểu phải đạt 32 triệu tấn. Sản lượng thóc liên quan đến
các vấn đề như diện tích đất trồng lúa, khả năng tăng vụ, khả năng thâm canh
tăng năng suất, khả năng cải tạo bộ giống lúa. Đất nước ta hoàn toàn có thể
đảm bảo an toàn lương thực nếu có một chiến lược sử dụng bền vững tài
nguyên đất [18].
2.1.2. Sản xuất lúa với an ninh lương thực
Trong hai thập niên vừa qua, quá trình đô thị hóa và phát triển công
nghiệp diễn ra mạnh mẽ đã khiến đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể. Theo
thống kê, diện tích đất canh tác lúa của cả nước đến cuối năm 2007 chỉ còn
4,1 triệu ha, giảm 362.000 ha so với năm 2005. Dự báo, đến năm 2025, nước
ta có thể phải lấy 10 - 15% diện tích đất nông nghiệp và các loại đất khác để
phát triển công nghiệp. Theo đó, diện tích lúa năm 2010 còn khoảng 4 triệu
ha, năm 2015 khoảng 3,8 triệu ha, đến năm 2020 chỉ còn khoảng 3,6 triệu ha
và giữ ổn định sau năm 2020 là 3,5 triệu ha, trong đó diện tích chuyên trồng
lúa nước là 3,1 triệu ha.
Bài học từ Philippines cho thấy, để đổi lấy các khu công nghiệp, nước

bảo an ninh lương thực trong mọi tình huống theo Nghị quyết của Đảng và
chủ trương của Chính phủ thì chúng ta phải giữ ổn định một diện tích trồng
lúa nhất định. Theo dự tính về chiến lược an ninh lương thực thì chúng ta phải
có tối thiểu từ 3,7 – 3,8 triệu ha đất lúa để sản xuất 40 triệu tấn thóc mỗi năm
để cung cấp cho dân số tăng nhanh.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

6


Bảng 2.1. Dự kiến cân đối cung, cầu lúa gạo của Việt Nam đến 2020
STT

Chỉ tiêu

2010

2015

2020

88,5

93,6

98,6

1

Dân số (triệu người)


5

Sản lượng thóc cả năm (triệu tấn)

36,5

37,2

38,5

6

Nhu cầu (triệu tấn thóc)

31,1

32,1

35,2

- Thóc giống

1,1

1,0

1,0

- Chăn nuôi và hao hụt


+3,3

3,5

3,3

2,1

- Để ăn và dự trữ quốc gia
- Trong đó, riêng để ăn
7

Cân đối thóc

8

Dự kiến xuất khẩu (triệu tấn gạo)

Nguồn: [29], [30]

Trần Duy Quý cho biết: “Trong thời gian qua chúng ta làm chưa tốt
trong việc chuyển đổi đất nông nghiệp. Lẽ ra phải đưa các khu công nghiệp lên
vùng trung du, miền núi. Chúng ta đã mất rất nhiều đất “bờ xôi ruộng mật”, tình
trạng đáng báo động. Chính phủ, Quốc hội đã quyết định là không thể mở rộng
khu công nghiệp trên đất lúa được nữa và chúng ta phải giữ 3,8 triệu đến 4,2
triệu ha lúa để nuôi 100 triệu dân vào năm 2020. Nếu chúng ta giữ được 3,8 triệu
ha trồng lúa, trồng 2 hoặc 3 vụ, năng suất hiện nay là 5,2 tấn/ha/vụ, có thể đẩy
lên 7,5 tấn/ha/vụ là chạm trần với các giống lúa thuần hoặc cao hơn với các
giống lúa lai, thì chúng ta có thể đảm bảo được lương thực cho nhân dân trong

thể hiểu theo nghĩa rộng là các loại hình sử dụng đất chính.
Loại hình sử dụng đất chính: Là sự phân nhỏ của sử dụng đất trong khu
vực hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa trên cơ sở của sản xuất các cây
trồng hàng năm, lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu giải trí nghỉ ngơi, động vật
hoang dã hoặc/và của công nghệ được dùng đến như tưới nước, cải thiện đồng
cỏ. Tuy nhiên nếu chỉ xem xét việc sử dụng đất qua các loại hình sử dụng đất
chính thì chưa đủ. Vì những loại cây trồng hay những giống cây khác nhau sẽ
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

8


đòi hỏi điều kiện đất đai khác nhau. Đôi khi việc sử dụng phân bón không hợp lý
còn làm giảm độ phì đất hoặc chưa ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của việc sử
dụng đất đó. Để trả lời được những vấn đề trên, cần phải có những mô tả chi tiết
hơn trong việc sử dụng đất, vì vậy có khái niệm “Loại hình sử dụng đất” (LUT).
Loại hình sử dụng sử dụng đất (Land Use Type – LUT) được phân chia
nhỏ từ các loại hình sử dụng đất chính. Nó là loại hình đặc biệt của sử dụng
đất được mô tả chi tiết và rõ ràng theo các thuộc tính nhất định như: quy trình
sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai (sức kéo trong làm đất, đầu tư vật tư
kỹ thuật...) và các đặc tính về kinh tế kỹ thuật xã hội (định hướng thị trường,
vốn đầu tư, thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai) [20].
Không phải tất cả các thuộc tính trên đều được đề cập đến như nhau
trong các dự án đánh giá đất, việc lựa chọn các thuộc tính và mức độ mô tả
chi tiết phụ thuộc vào tình hình sử dụng đất của địa phương cũng như cấp độ,
yêu cầu chi tiết và mục tiêu của mỗi dự án đánh giá đất khác nhau.
b. Khái niệm về kiểu sử dụng đất
Các kiểu sử dụng được phân chia ra từ các LUT, nó thể hiện sự hiện
diện của các loại cây trồng theo cơ cấu mùa vụ, hay là cách chi tiết nhất thể
hiện sự hiện diện của các loại cây trồng. Hiểu một cách khác thì kiểu sử

Lúa xuân – Lúa mùa – Su hào
Lạc xuân – Khoai lang – Lúa mùa
Lúa xuân – Khoai lang – Ngô
Lúa xuân – Rau các loại – Cà chua

1 lúa – 2 màu

Lúa xuân – Hành tỏi – Cà chua
Lúa xuân – Rau các loại – Bắp cải
Lúa xuân – Rau các loại – Su hào
Đậu tương – Lúa mùa – Ngô đông
Lạc xuân – Lúa mùa sớm – Đậu tương

1 lúa – 3 màu

Lúa – 3 vụ rau

Lúa – Cá

Lúa – Cá nước ngọt

Nguồn: [3], [5], [7], [16]
2.3. Vấn đề sử dụng đất bền vững
2.3.1. Sự cần thiết phải sử dụng đất bền vững
Đất đai mà chúng ta có được hôm nay không chỉ là “tài nguyên thiên
nhiên cho không con người” như C.Mác đã nói, mà còn là thành quả của
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

10



11


Việt Nam hiện có 16,7 triệu ha bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều, 9 triệu
ha đất có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa
mạc hóa, 1,9 triệu ha đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh. Ngoài ra tình trạng ô
nhiễm do chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất,
dịch vụ và chất độc hóa học để lại sau chiến tranh cũng đáng báo động. Hoạt
động canh tác và đời sống còn bị đe dọa bởi tình trạng ngập úng, ngập lũ, lũ
quét, đất trượt, sạt lở đất, thoái hóa lý, hóa học đất...
Lịch sử đã chứng minh sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên
đất tốt mới có hiệu quả. Tuy nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần
thiết cho canh tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng
vạn năm. Vì vậy, mỗi khi sử dụng đất đang sản xuất nông nghiệp cho các
mục đích khác cần cân nhắc kỹ để không rơi vào tình trạng chạy theo lợi ích
trước mắt [27].
2.3.2. Khái niệm về sử dụng đất bền vững
Sử dụng đất bền vững là khái niệm động và tổng hợp, liên quan đến
các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, hiện tại và tương lai. Sử
dụng đất bền vững là giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm
chi phí sản xuất bằng cách sử dụng thông qua các nguồn tài nguyên bên
trong và áp dụng hệ thống quản lý phù hợp. Sử dụng đất bền vững trong
nông nghiệp liên quan trực tiếp đến hệ thống canh tác cụ thể nhằm duy trì
và nâng cao thu nhập, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy
phát triển nông thôn.
Sự phát triển đột phá của khoa học kỹ thuật trong những thập kỷ gần
đây, nền văn minh hiện đại của nhân loại đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan
môi trường. Sự cạn kiệt của nguồn năng lượng, sự bùng nổ của dân số càng
làm sâu sắc thêm sự mất cân đối giữa nhu cầu ngày càng cao của xã hội và

nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên
thiên nhiên và chất lượng môi trường sống cho các thế hệ sau. Nền tảng của
nông nghiệp bền vững là chế độ đa canh cây trồng với lợi thế cơ bản là: Tăng
sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại của sâu bệnh và cỏ
dại, giảm nguy cơ rủi ro...[25]. Theo FAO (1990) [24] nền nông nghiệp bền
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

13


vững bao gồm quản lý hiệu quả tài nguyên cho đất nông nghiệp (đất đai, lao
động...) để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người đồng thời giữ gìn và cải
thiện thiên nhiên môi trường. Thực tế là các hệ thống sử dụng đất với nhập
lượng thấp, dựa trên sự khai thác độ phì của đất, thường không bền vững. Quản
lý của tài nguyên đất bền vững có nghĩa là sự duy trì sức sản xuất cao trên mỗi
đơn vị diện tích trên một cơ sở liên tục, với sự tăng cường chất lượng đất, và
cải thiện các đặc trưng của môi trường (Lal và Miller, 1993).
Theo chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn Việt Nam đến năm
2010 [1], quan điểm sử dụng đất nông - lâm nghiệp là:
- Tận dụng triệt để thuận lợi các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh
về khoa học kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có
tỷ xuất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu ra các
nước trên thế giới.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa
dạng hóa cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp
với sinh thái và bảo vệ môi trường.
- Phát triển nông lâm nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ
sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa
dạng hóa của nền kinh tế quốc dân.
- Phát triển nông nghiệp toàn diện gắn liền với việc xóa đói giảm nghèo,

- Chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị
trường, trước hết là đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đồng thời sản phẩm nông nghiệp phải đa dạng, có hàm lượng công nghệ cao.
- Giá cả nông sản hợp lý, có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
- Khối lượng nông sản phải có quy mô đủ lớn theo yêu cầu thị trường, cụ
thể là theo từng yêu cầu của nhà phân phối và của nhà xuất khẩu nông sản.
- Thời gian cung ứng nông sản phải đáp ứng yêu cầu khắt khe của nhà
phân phối, nhất là của nhà nhập khẩu nông sản từ Việt Nam.
-

Gần đây xuất hiện khuynh hướng "nông học hữu cơ", chủ trương dùng

máy cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, phân xanh,
phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

15


loại hoá chất để phòng trừ sâu bệnh [13],[20].
Ở Việt Nam đã hình thành nền văn minh lúa nước từ hàng ngàn năm
nay, có thể coi đó là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng,
thích hợp trong điều kiện thiên nhiên nước ta. Thực chất của nông nghiệp bền
vững là phải thực hiện được khâu cơ bản là giữ độ phì nhiêu của đất được lâu
bền. Vì độ phì nhiêu đất là tổng hoà các yếu tố vật lý, hoá học và sinh học để
tạo môi trường sống thuận lợi nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển [13].
Tóm lại: trong sản xuất nông lâm nghiệp việc sử dụng đất đai bền vững
phải đảm bảo trên cơ sở sản xuất ổn định, chất lượng đất không bị xấu đi cùng
với quá trình sử dụng và cho thế hệ mai sau, không làm thay đổi môi trường
sinh thái. Sử dụng đất bền vững không chỉ thuần túy về mặt tự nhiên mà còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status