Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
BÀI TẬP CUỐI KÌ
Đề tài:
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
đến hệ sinh thái đô thị. Các biện
pháp nhằm thích ứng với biến đổi
khí hậu.
GVHD: PGS.TS. Trần Văn Thụy
HVTH: Lê Thị Vân Anh
Lớp
: Cao học Khoa học Môi trường K22
Hà Nội, tháng 7/2015
MỤC LỤC
A. Đặt vấn đề
Trong quá trình tiến hóa và phát triển, con người luôn phải sử dụng các yếu
tố sẵn có trong tự nhiên, vì vậy con người đã tác động trực tiếp vào môi trường.
Các hệ sinh thái tự nhiên hoặc dần chuyển thành hệ sinh thái nhân tạo, hoặc bị tác
động của con người đến mức mất cân bằng và suy thoái. Trong đó, hệ sinh thái đô
thị cũng là một trong những thành phần chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí
hậu, đặc biệt là đối các quốc gia nghèo – kém phát triển. Dân số đô thị tại các quốc
gia này phải chịu rủi ro lớn nhất đối với các tác động của biến đổi khí hậu như bão
thường xuyên, lũ lụt, lở đất và sóng nhiệt. Số người tử vong do các hiện tượng thời
tiết cực đoan tại các quốc gia có thu nhập thấp – trung bình cũng chiếm tỉ lệ lớn
trên tổng số người tử vong trên toàn thế giới; nếu có số liệu chính xác hơn, thì có
của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
-
Gia tăng cường độ các loại tai biến thiên nhiên:cường độ, tần suất
bão,lũ..
IV. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến HST đô thị.
4.1. Hệ sinh thái đô thị là gì?
Khác với các hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái đô thị ngoài hai thành phần
cơ bản là hữu sinh và vô sinh, nó còn có thành phần công nghệ, bao gồm các nhà
máy, cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất...Thành phần công nghệ quyết định và
chi phối dòng năng lượng qua hệ sinh thái.
-5Học viên thực hiện: Lê Thị Vân Anh. Lớp: Cao học KHMT K22
Môi trường đô thị là một thành phần của môi trường xung quanh, nó là kết
quả của hoạt động vật chất của con người trong quá trình tác động tới thiên nhiên.
Môi trường đô thị luôn vận động và phát triển theo qui luật động lực học phức tạp,
và tuân theo các qui luật tự nhiên cũng như qui luật nhân tạo do con người tạo ra.
Tại đây con người quan hệ mật thiết với nhau hơn so với các yếu tố tự nhiên. Tuy
nhiên, dưới sự phát triển và tác động của con người, các yếu tố thuộc về tự nhiên,
thiên nhiên đang dần bị mất đi. Khí hậu thay đổi, thời tiết bất thường cộng với
nhiều nguồn ô nhiễm (nguồn nước, rác thải, khói bụi, tiếng ồn…) gây ra cho con
người những bất lợi về sức khỏe đặc biệt là về yếu tố tinh thần. Vì vậy, ngừoi ta
nghiên cứu quan hệ giữa con người và môi trường sống xung quanh đô thị nhằm
xây dựng giải pháp quy hoạch, vận hành bền vững hệ sinh thái này.
Các đặc trưng của hệ sinh thái đô thị
thời tiết xấu. Trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh ĐBSCL bị ngập hầu như toàn
bộ, và có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng
10%. Nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng như đợt xâm
nhập mặn vào năm 2005. Đồng bằng sông Cửu Long sẽ là vùng bị ảnh hưởng
mạnh nhất, nước biển dâng cao hơn sẽ làm cho nhiều vùng đồng bằng nước ngọt
hiện nay trở thành vùng nước lợ, hàng triệu người sẽ có nguy cơ bị mất chỗ ở, từ
đó làm gia tăng sức ép lên sự phát triển của các vùng lân cận. Vì theo dự báo,
trong vài chục năm tới, nước biển sẽ dâng cao làm ngập lụt phần lớn ĐBSCL vốn
đã bị ngập lụt hàng năm, dẫn đến mất nhiều đất nông nghiệp. Sẽ có từ 15.000 –
20.000 km2 đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn. Lưu lượng nước sông Mêkông
giảm từ 2 – 24% trong mùa khô, tăng từ 7- 15% vào mùa lũ. Hạn hán có xu hướng
mở rộng ở hầu hết các vùng, đặc biệt là ở các tỉnh Nam Trung Bộ, dẫn đến gia
tăng hiện tượng hoang mạc hóa. Theo Bộ NN&PTNT, trong 9 triệu ha đất hoang
hóa ở VN (chiếm 28% diện tích cả nước) có 4,3 triệu ha đã và đang bị thoái hóa,
sa mạc hóa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của trên 20 triệu người. Số còn
lại là những đụn cát và bãi cát di động ở các tỉnh ven biển miền Trung; đất khô
theo mùa hoặc vĩnh viễn ở Nam Trung Bộ như: Bình Thuận, Ninh Thuận, Nam
Khánh Hoà); đất bị xói mòn ở Tây Bắc, Tây Nguyên và đất bị nhiễm mặn, nhiễm
phèn ở ĐBSCL đã ảnh hướng xấu đến hoạt động phát triển kinh tế xã hội, xóa đói
giảm nghèo ở khu vực nông thôn.
-7Học viên thực hiện: Lê Thị Vân Anh. Lớp: Cao học KHMT K22
4.2.2. Lũ lụt
Các khu vực đô thị luôn hiện diện một số rủi ro lũ lụt khi mưa lớn xảy ra.
Nhà cửa, đường phố, cơ sở hạ tầng và những khu vực bê tông hóa khác ngăn chặn
nước mưa thấm xuống mặt đất – và do vậy tạo ra nước chảy tràn nhiều hơn. Mưa
lớn và kéo dài lâu ngày tạo ra một lượng rất lớn nước chảy tràn bề mặt, và có thể
dễ dàng làm ngập hệ thống thoát nước. Ngày 2/12, hàng ngàn người Venezuela đã
phải rời bỏ nhà cửa do các trận lở đất và lũ lụt ở khu vực gần thủ đô Caracas khiến
nguồn lực kinh tế-xã hội, chẳng hạn như tiến trình công nghiệp hóa liên tục và lối
sống mới, sẽ tiếp tục kép dòng di cư từ các vùng nông thôn vào các đô thị.
Việt Nam xếp thứ 4 sau Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh nếu tính lượng người lớn
nhất tuyệt đối sống ở các vùng ven biển có cao độ thấp và dễ bị tổn thương, được
xác định là vùng tiếp giáp dọc theo bờ biển có cao độ thấp hơn 10 mét trên mực
nước biển. Khoảng 43 triệu người Việt Nam hoặc hơn 55% dân số cả nước (38%
dân số đô thị Việt Nam) đang sinh sống tại những vùng mực nước biển dâng. Đây
là tỷ lệ phần trăm cao nhất trên toàn thế giới. Theo định hướng quy hoạch tổng thể
phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2020, quy mô đô thị từ mức 30,4
triệu người và diện tích 2.432 km2 năm 2010 sẽ tăng lên 40 triệu người và diện
tích 4.600 km2 (chiếm 45% dân số và 1,4% diện tích cả nước) vào năm 2020.
Những đối tượng công trình chịu tác động của biến đổi khí hậu và nước
biển dâng ở các đô thị gồm nhà ở và các công trình công cộng như trường học,
bệnh viện, nhà hát, các công sở, xí nghiệp, trung tâm thương mại.
Biến đổi khí hậu không chỉ đe dọa các đô thị ven biển mà còn tác động rất
lớn đến những đô thị ở vùng núi - các nhà khoa học cho biết như vậy trong hội
thảo “Ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu và tác động sức khỏe ở Việt Nam”
ngày 11/9 ở Hà Nội. "Các vùng ven biển tập trung nhiều khu đô thị nên nước biển
dâng sẽ tác động rất lớn lên khu vực này”, PGS.TS Trần Việt Liễn, Trung tâm
-9Học viên thực hiện: Lê Thị Vân Anh. Lớp: Cao học KHMT K22
Khoa học Công nghệ Khí tượng Thủy văn & Môi trường, nói: “Lũ quét và sạt lở
đất, đá tăng cũng đe dọa các đô thị vùng núi.
4.2.3. Nhiệt độ tăng và sóng nhiệt
Hầu hết các thành phố ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh và khu vực
Caribbean sẽ chịu ảnh hưởng nhiều sóng nhiệt. Thậm chí, ngay cả gia tăng nhỏ
trong nhiệt độ trung bình có thể dẫn đến sự thay đổi lớn của tần suất xuất hiện các
hiện tượng cực đoan (Kovats và Aktar 2008). Với các thành phố lớn và mật độ
cao, nhiệt độ tại các “đảo nhiệt” có thể cao hơn vài độ so với các khu vực lân cận;
nhiệt đô thị) và ô nhiễm không khí có thể lớn hơn tổng tác động của hai hiện tượng
này (Patz và Balbus, 2003). Tính dễ bị tổn thương là khác nhau đối với những tác
động sức khỏe liên quan đến khí hậu và ô nhiễm không khí trong đô thị. Những
yếu tố địa phương như khí hậu, địa hình, cường độ đảo nhiệt, thu nhập, khả năng
tiếp cận các dịch vụ y tế và tỷ lệ người cao tuổi, là những yếu tố quan trọng trong
việc xác định mối quan hệ nhiệt độ - tử vong của dân số. (Curriero et al., 2002).
Biến đổi khí hậu đã hiện hữu tại các đô thị Việt Nam khi nền nhiệt độ ở đô
thị cao hơn trung bình so với những khu vực xung quanh. Theo TS Michael
Waibel, Đại học Hamburg, CHLB Đức, sự gia tăng đô thị diễn ra hiện nay tại khu
vực nam TP Hồ Chí Minh hoặc các khu đô thị mới CIPUTRA hoặc Splendona của
Hà Nội đã phủ kín bề mặt các khu vực có giá trị thu nước. Điều này làm giảm khả
năng thẩm thấu nước của đô thị trong trường hợp có mưa lớn, khiến cho các khu
đô thị hiện hữu và khu mới được quy hoạch tăng khả năng ngập lụt.“Quá trình đô
thị hóa trong những năm qua rất nhanh, thiếu kiểm soát, có nơi tự phát”, bà Đỗ Tú
Lan nói: ”Tình trạng ngập lụt hiện nay ở đô thị là do quy hoạch chưa chặt chẽ”.16
khu kinh tế ven biển, là những nơi đột phá phát triển kinh tế, cũng sẽ gặp rủi ro bởi
biến đổi khí hậu. TS Michael Waibel cho rằng mất đi các thực thể nước và mảng
xanh cũng như tăng môi trường xây dựng khiến cho Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
ngày càng phải chịu ảnh hưởng từ “hiệu ứng đảo nhiệt đô thị”. Hiện tượng này dễ
nhận thấy tại các khu vực nội thành xây dựng dày đặc. Thậm chí hiện nay nhiệt độ
ở các khu vực này cao hơn từ 8 đến 10 độ C nhiệt độ trung bình so với các khu
vực xunh quanh.
- 11
11Học viên thực hiện: Lê Thị Vân Anh. Lớp: Cao học KHMT K22
4.2.4. Mưa acid phá hủy các công trình – kiến trúc đô thị
Các hạt acid khi rơi xuống nhà cửa và các bức tượng điêu khắc sẽ ăn mòn
chúng Hà Nội và các thành phố lớn là nơi lưu giữ khá nhiều di tích lịch sử, các
gồm cả các bệnh của động vật, bệnh có ổ dịch tự nhiên, bệnh từ nơi khác đến. Mực
nước biển dâng, gia tăng nhiệt độ môi trường, thay đổi lượng mưa… là các yếu tố
thuận lợi cho sự phát triển của một số loài muỗi truyền bệnh (sốt rét, sốt xuất
huyết…).
V. Các biện pháp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu
5.1. Xây dựng và thực hiện các chính sách thích ứng
Phần lớn chính quyền đô thị tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình
không xem xét một cách nghiêm túc vấn đề thích ứng. Ví dụ tại Trung Quốc, Chi
lê, Argentina và Mêxico, chính quyền trung ương cũng bắt đầu quan tâm đến khả
năng thích ứng nhưng chưa có sự tham gia rộng rãi của các bộ ngành và các cấp
chính quyền (Satterthwaite, Huq, Pelling et al.,2007). Có khả năng là có một sự
nhầm lẫm đáng kể giữa các chính trị gia địa phương và công chức về biến đổi khí
hậu và cách thức ứng phó. Ngay cả các thành phố tại các quốc gia có thu nhập cao
với nhận thức cao về BĐKH – mà đã có những cố gắng đáng kể để giảm thiểu
phát thải – cũng không có hành động đáng kể nào để thích ứng (Ligeti, Penney and
Wieditz, 2007). Tất nhiên, sự thiếu quan tâm tới vấn đề thích ứng khó có thể được
cải thiện bởi thiếu dữ liệu liên quan đến tác động trực tiếp và gián tiếp của biến đổi
khí hậu ở mỗi khu vực đô thị.
Điều then chốt trong hầu hết các trường hợp thích ứng với biến đổi khí hậu
là những chính quyền đô thị có thẩm quyền, có khả năng, có trách nhiệm hiểu
phương thức kết hợp các biện pháp thích ứng vào hầu hết các mặt công tác và
chức năng nhiệm vụ của các phòng ban.. Nhiều biện pháp cần thiết có khi chỉ là sự
điều chỉnh rất nhỏ từ các biện pháp hiện có - ví dụ như điều chỉnh quy chuẩn xây
dựng, quy định phân chia đất đai, quản lý sử dụng đất và các tiêu chuẩn cho cơ sở
- 14
14Học viên thực hiện: Lê Thị Vân Anh. Lớp: Cao học KHMT K22
hạ tầng - nhưng tổng của tất cả các điều chỉnh nhỏ theo thời gian có thể xây dựng
diệp hóa và nhả ra khí Oxygen (O 2) - rất hữu ích đối với sức khỏe con người và
giảm thiểu khí "nhà kính" (gây biến đổi khí hậu). Vì vậy so với vùng đất trống
không trồng cây, thì nhiệt độ không khí ở vùng cây xanh ban ngày thấp hơn từ 130C, hàm lượng oxy trong không khí lớn hơn tới 20% và hàm lượng CO 2 ít hơn.
Trong quá trình lục diệp hóa cây xanh sẽ hấp thụ bức xạ mặt trời, hấp thụ nhiệt
nên có tác dụng làm giảm sự chói chang trong những ngày nắng nóng, giảm phản
xạ bức xạ mặt trời lên công trình, làm giảm nhiệt độ không khí dưới vùng cây
xanh và có thể làm tăng độ ẩm không khí từ 2% - 5%, tăng độ ẩm không khí cũng
là có lợi đối với ngày khô nóng (gió Lào).
Theo tài liệu nghiên cứu của Nhật Bản:
+ Trung bình 1 ha rừng hay vườn cây rậm rạp có thể hấp thụ 1000kg CO 2 và
thải ra 730kg O2 mỗi ngày. Trung bình 1 ha thảm cỏ thể hấp thụ 360kg CO 2 và thải
ra 240kg O2 mỗi ngày.
+ Trung bình 1 người lớn mỗi ngày đêm hô hấp 0,75kg O2 và thải ra 0,9kg
CO2. Do đó mỗi người dân đô thị cần có diện tích khoảng 10m 2 cây xanh hoặc 25
m2 thảm cỏ để bảo đảm chất lượng không khí tốt cho cuộc sống của con người.
- Cây xanh có khả năng hấp thụ tiếng ồn. Khả năng hấp thụ tiếng ồn của cây
xanh phụ thuộc vào dải cây xanh rậm rạp hay thưa thớt, rộng hay hẹp, cao hay
thấp. Các hàng cây rậm rạp có thể hấp thụ và làm giảm tiếng ồn khoảng 2 d.
- Cây xanh có tác dụng sát trùng, diệt các vi trùng, vi khuẩn độc hại, vệ sinh
môi trường, hấp thụ các khí độc hại, như là các loại cây sau (xếp thứ tự từ cây có
tác dụng sát trùng cao đến thấp): các loại cây thông, sồi đỏ, sồi đen, trắc bá diệp,
linh sam, trăn, dâu da, v.v…
b. Giảm thiểu úng ngập và ô nhiễm môi trường đất, nước
- Cây xanh có khả năng lưu giữ một phần nước mưa trên cây, giữ cho mặt đất
xốp cùng với hệ rễ cây đâm sâu xuống đất giúp cho nước mưa thẩm thấu nhanh
xuống đất, làm giảm tình trạng úng ngập trong đô thị. Cũng nhờ tính năng này mà
ở vùng trung du và miền núi, rừng cây xanh có tác dụng điều hòa nước mưa, làm
giảm xói lở đất, giảm lũ tràn, lũ ống, lũ quét.
- 16
16Học viên thực hiện: Lê Thị Vân Anh. Lớp: Cao học KHMT K22
Các đô thị ven biển phải chuẩn bị các biện pháp từ xa, như trồng rừng ngập
mặn để chắn sóng, nước biển dâng và giảm xói lở bờ biển, phát triển các dải cây
xanh dọc theo bờ biển để cản gió bão, dành dải đất dự trữ để đắp đê khi cần thiết
và để xây dựng các đường ống thoát nước cũng như trạm bơm chống úng ngập khi
cần.
5.2.2. Xây dựng đô thị sinh thái
Đô thị sinh thái là đô thị có chất lượng môi trường sống cao, có quan hệ hài
hòa với thiên nhiên, có mật độ xây dựng hợp lý, có công trình và hạ tầng kỹ thuật
đảm bảo yêu cầu sinh thái, có cảnh quan kiến trúc đẹp đẽ, có nền công nghiệp hoạt
động hiệu quả về mặt sinh thái, có áp dụng thành công các giải pháp về năng
lượng và giao thông. Do phải có nhiều đặc điểm như trên nên việc tiếp cận đô thị
sinh thái không phải là điều đơn giản, thường chỉ thực hiện hạn chế đối với một số
lượng nhất định các hệ thống sinh thái có tại địa phương. Điều này đòi hỏi thay
đổi cả phương pháp sản xuất công nghiệp, thay đổi hành vi và tâm lý người tiêu
dùng, đồng thời phải thiết lập các công cụ để thực hiện các giải pháp đã được
nghiên cứu kỹ trên cơ sở nền kinh tế sinh thái và tư duy hệ thống.
- 18
18Học viên thực hiện: Lê Thị Vân Anh. Lớp: Cao học KHMT K22
Tại nhiều nước trên thế giới, người ta đã cố gắng thực hiện để tiếp cận
những điểm dân cư đô thị sinh thái tương tự như tiểu khu sinh thái Herlen ở Hà
Lan, thành phố sinh thái Adelaide với tiểu khu sinh thái Chritie Walk ở Oxtralia,
thành phố Malmae ở Thụy Điển và tiểu khu Simbiotic ở Nhật Bản. Những mô
hình đô thị sinh thái nói trên đã được nhiều chuyên gia sinh thái quan tâm, rút kinh
nghiệm, bởi thực tế chưa có thể kết luận được giải pháp nào là khả thi trong một
khu vực rộng lớn và có ưu điểm vượt trội.
đa chức năng đã được sinh thái hóa. Lại nữa, việc thực hiện bước đầu phương án
quy hoạch chung thành phố Thiên Tân, một trung tâm kinh tế công nghệ mới ở
vùng Bắc Trung Quốc là một ví dụ điển hình về cách tiếp cận đô thị sinh thái.
Người ta đã đầu tư lớn vào kết cấu hạ tầng, xây dựng nhiều cầu vượt để đảm bảo
hoạt động hiệu quả tại các nút giao thông, thực tế là đã gỡ ra nhiều nguy cơ gây
tắc nghẽn giao thông đô thị trong thời gian trước đây. Trong phương án quy hoạch
mới này cảnh quan không những không bị xâm hại mà còn được cải thiện hơn
nhiều. Một ưu điểm thấy rõ là độ sạch bầu khí quyển đô thị không kém gì vùng
núi.
Tại Liên bang Nga người ta cũng đã nhận thức được việc tiếp cận đô thị
sinh thái là bức thiết. Hiện nay môi trường đô thị tại đây chưa đạt các chuẩn mực
về vệ sinh môi trường, chứ chưa nói đến sẵn sàng thiết kế và xây dựng các đô thị
sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu của cư dân đô thị. Từ việc nghiên cứu khoa học,
đầu tư cho công nghiệp, xây dựng cảnh quan bền vững, kết cấu hạ tầng sinh thái,
tiết kiệm năng lượng cho đến kiến thức về sinh thái còn chậm so với các nước
công nghiệp phát triển khác. Trước mắt, họ đang tập trung nỗ lực để giải quyết
hàng loạt vấn đề: 1. Kết hợp các nhân tố xã hội, kinh tế và sinh thái để phát triển
đô thị theo hướng tiếp cận đô thị sinh thái; 2. Xây dựng kết cấu hạ tầng chất lượng
cao cho đô thị nhằm đáp ứng yêu cầu hiện nay về môi trường sống; 3. Thỏa mãn
các nhu cầu về môi trường kiến trúc cảnh quan đô thị cho dân cư, đồng thời không
phá vỡ cân bằng sinh thái; 4. Nghiên cứu và áp dụng các biện pháp nhằm sinh thái
hóa mọi lĩnh vực hoạt động như công nghiệp, năng lượng, giao thông, tiêu thụ
nước, sản xuất và tận dụng chất thải; 5. Sinh thái hóa nhu cầu của dân cư và gây
- 20
20Học viên thực hiện: Lê Thị Vân Anh. Lớp: Cao học KHMT K22
thói quen tuân thủ các nguyên tắc thẩm mỹ sinh thái cho những người tham gia
thiết kế và xây dựng đô thị sinh thái.
Ý đồ tiếp cận đô thị sinh thái chỉ có thể có kết quả khi quần chúng nhận
cấp 10 (năm 2020) đối với các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Nam. Từng bước
thực hiện bốn nhân tố chính là vấn đề buôn bán lượng khí thải, hợp tác kỹ thuật,
giảm phá rừng, ứng phó với BĐKH nhằm đạt được những mục tiêu dài hạn để góp
phần vào mục tiêu chung của toàn cầu. Dù còn nhiều thách thức nhưng đến nay
những chương trình, kế hoạch đã được triển khai, nhất là công tác thông tin, truyền
thông nâng cao nhận thức cộng đồng và đã tạo được nhiều giống cây trồng mới
thích nghi với sự BĐKH. Cùng với sự quan tâm và hợp tác của các tổ chức quốc
tế, các quốc gia trong khu vực và thế giới, Việt Nam sẽ ứng phó và thích ứng
thành công với BĐKH, hạn chế thiên tai, phát triển bền vững.
- 22
22Học viên thực hiện: Lê Thị Vân Anh. Lớp: Cao học KHMT K22
C. KẾT LUẬN
Thiên nhiên đã ban tặng cho con người những ngọn núi hùng vĩ, những
dòng sông êm ả và những cánh rừng bát ngát, một hệ động thực vật vô cùng phong
phú và đa dạng phải trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài…tất cả tạo nên một
hành tinh xanh. Thế nhưng do sự khai thác sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, cùng với sự phát triển và tham vọng của loài người đã gây ảnh hưởng
nặng nề đến toàn cầu nói chung và hệ sinh thái đô thị nói riêng, một loạt những
hiện tượng thiên tai xảy ra như mưa acid, bão lũ, cháy rừng, hạn hán đã ảnh hưởng
đến hệ sinh thái đô thị không chỉ trên thế giới mà còn ở cả
Nam.
vậy hiện
SửViệt
dụng
năngBởi
lượng
gió