Thực hành Quan trắc MT: “Đánh giá ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt đến chất lượng nước đoạn mương Đào Nguyên phục vụ sản xuất nông nghiệp”. - Pdf 31

I.

Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây,cùng với sự phát triển của nền công nghiệp nước

ta, tình hình ô nhiễm môi trường cũng đang trong tình trạng báo động nghiêm trọng
đăc biệt là môi trường nước mặt. Chất lượng nguồn nước phụ thuộc vào nhiều yếu
tố trong đó có các yếu tố tự nhiên bao gồm: địa chất, đất, địa hình, thảm thực vật,
quần thể động thực vật hoang dã và khí hậu. Nhưng yếu tố quan trọng hơn gây ra
các vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng nước chính là các hoạt động của con người
như: chặt phá rừng, sự thay đổi loại hình sử dụng đất (quá trình đô thị hóa, công
nghiệp hoá), nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao (sử dụng
nông dược và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp)… Ở nước ta trong
những năm trở lại đây, chất lượng nguồn nước mặt ngày càng bị ô nhiễm.
Việt nam là một quốc gia có nền nông nghiệp hình thành và phát
triển lâu đời. Đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và thực hiện
nhiệm vụ cung cấp lương thực, thực phẩm ngày càng gia tăng của người dân.
Trong phát triển nông nghiệp, nước đóng vai trò quan trọng nhất quyết định
đến năng suất cây trồng và vật nuôi. Đặc biệt các quốc gia nghèo nơi sản
xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế quốc dân thì nước
lại càng có ý nghĩa sống còn. Tuy nhiên, do bùng nổ dân số, khai thác quá
mức các nguồn tài nguyên nước, các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con
người đã gây ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng nguồn nước mặt.
Trong sinh hoạt hằng ngày, nước sạch là một nhu cầu cấp thiết của
sự sống. Thiếu nước sẽ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và phát sinh
nhiều căn bệnh nguy hiểm. Tuy nhiên, lượng nước sạch mà hằng ngày
chúng ta sử dụng thì có khoảng 80% lượng nước sạch này trở thành nước
1


thải và được gọi là nước thải sinh hoạt (nước từ hộ gia đình, bệnh viện,

thuỷ văn và điều kiện phát triển kinh tế xã hội của thị trấn Trâu Quỳ nói chung và
thôn Đào Nguyên nói riêng.
- Phương pháp điều tra thực địa: Thông tin bổ sung về cơ cấu mùa vụ, áp
lực các nguồn thải tác động đến chất lượng nước trên hệ thống kênh mương nghiên,
phỏng vấn nhanh một số người dân sinh sống tại khu vực nghiên cứu.
- Phương pháp lấy mẫu:
Phương pháp lấy mẫu: Tiến hành lấy mẫu ngẫu nhiên tại 3 vị trí. Mẫu nước
được lấy cách mặt nước khoảng 20 cm chứa vào chai nhựa 500ml, dán nhãn và đưa
về phòng thí nghiệm bảo quản trong điều kiện lạnh.
-Tọa độ các điểm lấy mẫu:
+ M1: 21o 00'13.87''N 105 o56'39.84''E độ cao so với mực nước biển: 14 ft
(mẫu tại cuối mương)
+ M2: 21o 00'21.76''N 105 o56''22.86”E độ cao so với mực nước biển: 20ft
(mẫu tại trạm bơm)
+ M3: 21o 00'22.44''N; 105 o56'21.40''E độ cao so với mực nước biển là
21ft(mẫu tại cống thải)
3


Bảng 1: Mô tả và ý nghĩa của các điểm lấy mẫu
KH mẫu

M1

M2

Mô tả

Ý nghĩa điểm lấy mẫu
Đánh giá hiện trạng nước

Nguồn:
Hình 1: Vị trí lấy mẫu tại cánh đồng Đào Nguyên- Trâu Quỳ- Gia LâmHà Nội
• Một số mô tả về hiện trạng khu vực nghiên cứu:
Thủy vực có vai trò vừa là mương cấp nước cho hoạt động sản xuất nông
nghiệp vùa là mương tiếp nhận các nguồn thải từ các hoạt đông của con
người. Chế độ cấp nước tại hệ thống phụ thuộc vào mùa vụ, nhu cầu của cây
trồng, nguồn nước cấp đầu vào từ các hệ thống thủy lợi khác.
Mô tả màu nước:
+ Nước ở gần trạm bơm có màu đen, mùi hôi thối, có váng bọt trên mặt nước
6


+ Càng xa nguồn thải màu nước chuyển dần từ màu đen sang màu xanh đậm sau
đólà màu xanh lơ.
+ Ở gần trạm bơm thấy có cá chết nổi ở gần bờ,có nhiều thực vật ở khu vực trực
tiếp tiếp nhận nứơc thải sinh hoạt.
Ở cuối đoạn mương, nước trong hơn, có màu hơi xanh, không thấy có mùi hôi thối
Tần suất lấy mẫu: 2 tuần 1 lần. Thời gian bắt đầu từ ngày 5/9 đến ngày
19/9/2012
-

Phương pháp phân tích:

Mẫu nước sau khi thu thập và đưa về phòng thí nghiệm thực hiện đo một số
chỉ tiêu đo nhanh: DO, pH, EC.
Mẫu được tiến hành phân tích các chỉ tiêu: Cl -, COD, NH4+, PO43- tại phòng
thực tập bộ môn Công Nghệ môi trường.
- Xác định COD bằng chuẩn độ muối Mohr.
- Xác định Cl- bằng phương pháp chuẩn độ sử dụng muối bac.
- Xác định NO3- bằng phương pháp so màu.

đối thấp do nguồn cấp nước đầu vào tại tram bơm Như Quỳnh đã bị đóng.

8


Đào Nguyên và Cửu Việt là hai tổ dân phố thuộc thị trấn Trâu Quỳ. Đây là
nơi tập trung dân cư đông đúc, dân chủ yếu làm nghề tự do, buôn bán nhỏ, không
có các khu công nghiệp hay làng nghề...Đây lại là khu vực có vị trí thuận lợi, gần
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nên ngoài dân cư sống ở đây còn có một
phần lớn sinh viên với số lượng ngày càng tăng qua các năm. Do vậy nhu cầu sử
dụng nước cho mục đích sinh hoạt cao và thải lượng của nước thải sinh họat là
khá cao. Nước thải sinh hoạt của hai tổ dân phố này một phần lớn được đổ ra
mương thoát nước thải chung của cả khu (mương chạy song song với đường liên
thôn của thị trấn Trâu Quỳ, giáp trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội), một phần
đổ ra khu vực nghiên cứu là mương Đào Nguyên – đoạn mương cấp nước cho
hoạt động sản xuất nông nghiệp của cánh đồng Đào Nguyên và tiêu nước thải
canh tác lúa.

Bảng 2: Thống kê nguồn áp lực của đoạn mương:
Dân

STT

Khu vực

1

Cửu Việt

2000

cư Đào Nguyên và Cửu Việt ảnh hưởng tới chất lượng nước mương Đào
Nguyên
Vận

Vận tốc(m/s)

STT Ngày

Sáng

Trưa

Chiều

tốc lưu

lượng

dòng Lưu

trung bình thải(10-5 m3/s)

trung

ngày (m/s)

ngày(10-

tối



6/9/2012

0.0825

0.0842 0.0894

0.0854

3

7/9/2012

0.0792

0.0829 0.0879

0.0833

463

485

514

488

4

8/9/2012


490

6

10/9/2012 0.0806

0.0851 0.0874

0.0844

471

498

511

494

7

11/9/2012 0.0816

0.0841

478

490

509

thời tiết và nhu cầu sử dụng của người dân. Trong thời gian quan trắc, lưu lượng
nước thải khá ổn định.
10

bình


2. Hiện trạng chất lượng môi trường
2.1 Điều kiện tự nhiên
Khu vực nghiên cứu là khu vực thuộc cánh đồng Đào Nguyên - thị trấn Trâu
Quỳ- huyện Gia Lâm- TP Hà Nội với diện tích khoảng 15 ha, có hệ thống thủy lợi
Bắc Hưng Hải bao quanh. Đây là khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng, mang
những đặc điểm chung của khu vực sản xuất lúa đồng bằng châu thổ sông Hồng:
Đất phù sa trung tính ít chua, có thành phần cơ giới và độ phì nhiêu ở mức trung
bình.
Điều kiện thời tiết, khí hậu, chế độ thủy văn: Trâu Quỳ nằm trọn trong vùng
khí hậu đặc trưng của vùng Đông Bắc Bộ, nhiệt đới gió mùa và cận nhiệt đới, gió
mùa Đông Á ảnh hưởng chủ đạo đến khí hậu của vùng. Nhiệt độ trung bình của
vùng khoảng 23.5 - 24.5oC. Lượng mưa cũng chia làm hai mùa chính là mùa mưa
và mùa khô, do có hệ thống cống, kênh mương đầy đủ, cộng thêm việc gần các
nhánh sông nên lượng mưa chỉ ảnh hưởng chủ yếu vào mùa mưa.
Trong khoảng thời gian nghiên cứu vào tháng 9, tháng cuối của mùa mưa
nên hầu như không có mưa trong khoảng thời gian nghiên cứu. Do vậy, không xét
tới việc ảnh hưởng của nước mưa tới nước trong khu vực nghiên cứu.
2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Trâu Quỳ là một thị trấn của huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội. Trâu Quỳ
nằm dọc theo quốc lộ 5 cách trung tâm Hà Nội 12km. Thị trấn Trâu Quỳ có 734,57
ha diện tích tự nhiên và 21.772 nhân khẩu.

11

lượng(m3/s)

0.06
0.01

0.03

0.005 0.05 0.04
0.01

Vận tốc(m/s)

8

0.009 0.085 0

Nhiệt độ(oC)

28.7

28.5

M3

Lưu

28.3

Trung bình
M1 M2 M3

7.89

8.15 8.03

7.81

8.11 7.88

7.85 5.5 - 9
0.94

DO (mg/l)
Cl-(mg/l)
PO43-(mg/l)

4.71
28.4
2.5

1.04
49.7
9.3

1.06
56.8
15.1

3.29 1.94
28.4 42.6
2.7 9.7


83
11.9
72

7
7
13.6 11.6
280 220

5
≥4
60.4 600
15.5 0.3
72.7
0.5
5
11.2 10
156 30

1.49
46.1
9.5
40.1

Qua bảng trên có thể rút ra một số nhận xét:
Giữa vận tốc và lưu lượng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau. Lưu lượng
dòng chảy ở mẫu 1 là cao nhất do diện tích mặt cắt lớn nhất.
Nhiệt độ trong thời gian quan trắc khá ổn định, nhiệt độ trung bình từ 28.4 –
28.6oC.

mục đích tưới tiêu thủy lợi, giới hạn cho phép của thông số DO là ≥ 4 mg/l. Qua
so sánh cho thấy hầu hết nước trên đoạn mương đã bị ô nhiễm do các chất hữu cơ
dễ bị phân hủy bởi vi sinh vật, lượng oxy hòa tan trong nước đã bị tiêu thụ bớt nên
giá trị DO thấp hơn so với DO bão hòa tại điều kiện đó.
Qua phân tích, ta thấy hàm lượng các chất hữu cơ thể hiện thông qua giá
trị COD vượt quá tiêu chuân cho phép. Cụ thể là:
Lần 1: Mẫu 1 vượt 12 lần, mẫu 2 vượt 9.3 lần,mẫu 3 vượt 8 lần.
14


Lần 2: Mẫu 1 vượt 6.7 lần, mẫu 2 vượt 5.3 lần, mẫu 3 vượt 2.4 lần.
Từ kết quả trên, ta thấy được mức độ ô nhiễm chất hữu cơ trong đoạn
mương nghiên cứu là khá cao. Tại điểm quan trắc ở cống thải cao gấp nhiều lần so
với tiêu chuẩn cho phép. Ngoài ra tại các điểm quan trắc khác hàm lương COD
cung khá cao so với tiêu chuẩn cho phép nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng
của nguồn thải sinh hoạt bên cạnh đó còn có thể do lượng dư thuốc bảo vệ thực
vật và phân bón trong việc canh tác lúa làm cho hàm lượng COD khá cao trong
mẫu nước phân tích.
Hàm lượng COD trong mẫu nước rất cao, giá trị COD tại cả 3 vị trí đều
vượt tiêu chuẩn nhiều lần. Giá trị COD cao nhất tại điểm M1(cống thải), cao gấp
trên 9 lần so với tiêu chuẩn cho phép.
NH4+; PO43-là các thông số chỉ thị cho hiên tượng phú dưỡng của nguồn
nước. Đây là những yếu tố dinh dưỡng trong nước tưới có tác dụng tích cực đối
với cây trồng. Qua kết quả phân tích ta thấy cả hai thông số đều cho kết quả cao
hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
Nguyên nhân là do quá trình phân huỷ các chất hữu cơ tạo ra amoniac
(NH4+), nitrit (NO2-) và nitrat (NO3-). Do đó các hợp chất này thường được xem
là những chất chỉ thị dùng để nhận biết mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước.
Ngoài ra, việc sử dụng rộng rãi các loại phân bón cũng làm cho hàm lượng
nitrat trong nước mương tăng cao.

mương không đủ để pha loãng nồng độ các chất bẩn trong mương. Hơn nữa, do
khả năng lưu thông kém, có nhiều thủy thực vật quanh bờ lại tiếp nhận nguồn
nước thải sinh hoạt liên tục làm lượng oxy hòa tan trong nước giảm theo thời gian.
Hình 3: Diễn biến thông số COD theo thời gian

Qua hình trên ta thấy, giá trị thông số COD giảm dần theo thời gian tại tất cả các vị
trí quan trắc.
Hình 4: Diễn biến các thông số dinh dưỡng theo thời gian
17


PO43-

NH4+

Giá trị các thông số dinh dưỡng PO43-, NH4+ tăng dần theo thời gian ở tất
cả các điểm quan trắc. Nguyên nhân là do vào thời điểm quan trắc mực nước
trong mương thấp, nước xả từ ruộng lúa ra mương mang theo các chất dinh dưỡng
dư thừa từ phân bón, một phần có nguồn gốc từ nước thải sinh hoạt làm cho nồng
độ các chất dinh dưỡng tăng lên.
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Áp lực chính tác động đến chất lượng nước trên hệ thống mương thủy lợi
cấp cho cánh đồng Đào Nguyên là nước thải sinh hoạt từ một bộ phận khu
dân cư thôn Cửu Việt và Đào Nguyên. Ngoài ra, có một phần nhỏ từ
nguồn nước thải đồng ruộng.
Hầu hết các thông số quan trắc đều vượt tiêu chuẩn cho phép về nước tưới
tiêu cấp cho đồng ruộng( theo QCVN 08:2008/BTNMT).

18


20


Nước tại khu vực trạm bơm

Rác thải đổ ra mương

Có thực vật ven bờ

Nước ở cuối đoạn mương

21






22


23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status