đề tài Thực trạng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng Á Châu ACB - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới ngày nay đang ngày càng có xu hướng tiến tới hội
nhập.Điều này đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các quốc gia trên thế
giớ và mở rộngcác mối quan hệ kinh tế đối ngoại, trong đó thương mại
quốc tế đóng vai tro quan trọng. Việt Nam với chủ trương phát triển nền
kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên
thế giới cung như tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế thông qua hoạt
động thương mại quốc tế nhằm thu hút đầu tư, khai thông nguồn lục để
phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Như một mắt xích không thể thiếu được trong hoạt động thương
mại quốc tế, hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng ngày càng có
vị trí và vai trò quan trọng, nó được xem là công cụ, là cầu nối trong quan
hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên
thế giới. Trong những năm vừa qua, hoạt động thương mại quốc tế nói
chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng của nước ta đã trải qua
những bước thăng trầm nhưng ngày càng đang hoàn thiện và phát triển.
Trong những năm qua ngân hàng Á Châu vẫn không ngừng đổi
mới và nâng cấp các nghiệp vụ thanh toán của mình để phục vụ tốt hơn
cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu
của khách hàng. Cùng với chính sách kinh tế mở rộng, thông thoáng của
chính phủ, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển. Do đó hình
thức thanh toán và tín dụng quốc tế của ACB ngày càng phát triển và
hoàn thiện hơn.
Xuất phát từ vấn đề trên, nhóm chúng em đã đi sâu vào nghiên
cứu đề tài: “Thực trạng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng
Á Châu_ACB”.
Kết cấu bài tiểu luận gồm 3 phần :
Chương 1 : Cơ sở lý luận về TTQT
Chương 2 : Thực trạng hoạt động TTQT tại ngân hàng TMCP Á Châu
Chương 3 : Các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động TTQT
tại ngân hàng.

các phương án lựa chọn phương thức TTQT, tài trợ xuất nhập khẩu, đảm
bảo an toàn và quyền lợi của cả hai bên mua bán, thông qua đó thúc đẩy
ngoại thương phát triển và mở rộng các quan hệ với các quốc gia trên thế
giới.
2. Đặc điểm của Thanh toán quốc tế
* Thanh toán liên quan tới đồng tiền, địa điểm, phương tiện,
phương thức và thời gian thanh toán
Khi tiến hành hoạt động TTQT, cần phải xác định năm vấn đề quan
trọng, đó là: Đồng tiền, địa điểm, phương tiện, phương thức và thời gian
thanh toán. Lựa chọn đồng tiền nào là một vấn đề quan trọng, vì không
phải bất kỳ đồng tiền của nước nào cũng có khả năng thực hiện TTQT,
mà đồng tiền đó phải “mạnh”, được các nước thừa nhận thực hiện trong
hoạt động TTQT, tiếp đến lựa chọn đồng tiền nào để phù hợp với nội
dung cụ thể của hoạt động TTQT, nhằm mang lại hiệu quả (thanh toán
nhanh, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất, đáp ứng được lợi ích của các
bên....). Do vây, khi ký kết các hợp đồng thương mại, tín dụng, hay các
dịch vụ, các bên đàm phán thường thống nhất về loại ngoại tệ được dùng
trong giao dịch là đồng tiền của nước nhập khẩu, nước xuất khẩu hay
nước thứ ba.
* Thanh toán quốc tế phục vụ chủ yếu cho hoạt động kinh tế đối ngoại
TTQT phục vụ chủ yếu cho hoạt động kinh tế đối ngoại; trong đó
phần lớn phục vụ cho các giao dịch trong lĩnh vực ngoại thương. Thanh
toán là khâu quan trọng của một quá trình sản xuất và lưu thông hàng
hoá, cụ thể khi hoạt động thanh toán diễn ra đồng nghĩa với việc đảm bảo


chắc chắn kết thúc một phần hoặc toàn bộ giá trị của một quá trình trao
đổi hàng hóa, dịch vụ. Nếu công tác TTQT được tổ chức tốt thì giá trị của
hàng hoá trao đổi và dịch vụ thực hiện giữa các chủ thể ở các quốc gia
khác nhau mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy ngoại thương phát

đóng vai trò là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt
động kinh doanh, bổ sung và hỗ trợ các mặt hoạt động nghiệp vụ khác
của ngân hàng nên nó gián tiếp tạo ra lợi nhuận từ các mặt hoạt động
này.Với vai trò là trung gian thanh toán, TTQT góp phần phát triển và
đẩy mạnh hoạt động tín dụng, tài trợ xuất nhập khẩu (XNK), kinh doanh
ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ khác, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của
khách hàng trong và ngoài nước, từ đó tăng qui mô hoạt động và mở rộng
thị phần của ngân hàng.


- TTQT tạo môi trường ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến,
hiện đại trên thế giới trong hoạt động ngân hàng. Thông qua việc tham
gia nối mạng thông tin và ứng dụng công nghệ cao trong xử lý thông tin
giúp cho ngân hàng có thể theo kịp với sự phát triển của thế giới, không
bị lạc hậu và thua kém các ngân hàng nước ngoài.
- Phát triển TTQT tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng quan
hệ với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín trên trường quốc tế
cũng như uy tín đối với khách hàng trong và ngoài nước, từ đó khai thác
được các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức tài chính quốc tế cũng như các
ngân hàng nước ngoài, đáp ứng nhu cầu về vốn trong kinh doanh.
4. Các phương tiện TTQT
4.1 - Hối phiếu:
• Khái niệm: theo Pháp lệnh thương phiếu 1999 của Việt Nam thì “Hối
phiếu là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát
thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào
một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng”.
Việc lưu thông hối phiếu được tiến hành dưới các hình thức sau :
- Chấp nhận hối phiếu: hối phiếu sau khi ký phát phải được xuất trình
cho người trả tiền để người này ký chấp nhận trả tiền, đối với những hối
phiếu có kỳ hạn. Thông thường hối phiếu được gửi tới người trả tiền để

hạn quy định theo luật và phải báo cho người chuyển nhượng trực tiếp để
đòi tiền hoặc có thể đòi tiền bất cứ người nào trong giây chuyền đã ký
hậu chuyển nhượng hối phiếu hoặc đòi người ký phát hối phiếu.
4.2 Séc
Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản, ra lệnh
cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong
séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc một số
tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản.
Một lệnh trả tiền muốn được coi là séc thì trước tiên phải có tiêu đề
SEC ghi trên tờ lệnh đó. Vì séc là lệnh nên khi ngân hàng nhận được séc
phải chấp hành lệnh này vô điều kiện, trừ trường hợp tài khoản phát hành
séc không có tiền hoặc tờ séc không đủ tính chất pháp lý. Số tiền ghi trên
séc phải rõ ràng, phải vừa ghi bằng số và vừa ghi bằng chứ khớp đúng
nhau, có ký hiệu tiền tệ. Trên séc phải ghi địa điểm và ngày tháng lập séc,
tên địa chỉ của người yêu cầu trích tài khoản, tài khoản được trích trả,
ngân hàng trả tiền, tên địa chỉ của người hưởng số tiền trên séc, chữ ký
của người phát hành séc. Nếu là tổ chức thì phải có chữ ký của chủ tài
khoản, kế toán trưởng và dấu của tổ chức đó.
Đặc điểm của séc là có tính chất thời hạn, tức là tờ séc chỉ có giá trị
tiền tệ hoặc thanh toán nếu thời hạn hiệu lực của nó chưa hết đối với séc
thương mại. Thời hạn hiệu lực của tờ séc được ghi rõ trên tờ séc. Thời
hạn dó tuỳ thuộc vào phạm vi không gian mà séc lưu hành và luật pháp
các nước quy định.
4.3. Kỳ phiếu :
Ngược lại với hối phiếu, kỳ phiếu do con nợ viết ra để hứa cam kết trả
tiền cho người hưởng lợi. Với tính thụ động trong thanh toán như trên,
trong thanh toán quốc tế, kỳ phiếu ít thông dụng hơn hối phiếu.
Kỳ phiếu là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập
kỳ phiếu phát ra hứa trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc
theo lệnh của người này trả cho người khác quy định trong kỳ phiếu đó.

ngoại thương.
Đến nay, các phương thức thanh toán cơ bản và phổ biền thường được
các NHTM sử dụng là:
5.1. Phương thức chuyển tiền:
Khi có một khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ
mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác ( người thụ
hưởng) ở một địa điểm nhất định thì gọi là chuyển tiền của ngân hàng.
Để thực hiện việc chuyển tiền thì ngân hàng chuyển tiền phải thông
qua đại lý của mình ở nước người thụ hưởng.
Phương thức chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai cách:
- Chuyển tiền bằng điện
- Chuyển tiền bằng thư
Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại
quốc tế. Nó được sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng
như các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước vận
tải, bảo hiểm, bồi thường…
5.2. Phương thức nhờ thu:
Người xuất khẩu sau khi hoàn thành nhiệm vụ xuất chuyển hàng hoá
cho người nhập khẩu thì uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số
tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra.
Các thành phần chủ yếu tham gia phương thức thanh toán này như sau:


- Người xuất khẩu
- Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (đó là ngân
hàng quốc gia của người nhập khẩu)
- Người nhập khẩu
Phương thức nhờ thu được phân ra làm hai loại như sau:
- Nhờ thu phiếu trơn: Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá, lập

hoàn toàn độc lập với hoạt động thương mại đó. Điều đó có nghĩa là khi
thanh toán, ngân hàng chỉ căn cứ vào nội dung thư tín dụng mà thôi.
Các loại thư tín dụng chủ yếu là:
- Thư tín dụng có thể huỷ ngang: Đây là loại thư tín dụng mà sau khi đã
được mở thì việc bổ sung sửa chữa hoặc huỷ bỏ có thể tiến hành một cách
đơn phương.


- Thư tín dụng không thể huỷ ngang: Là loại thư tín dụng sau khi đã được
mở thì việc sữa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ chỉ được ngân hàng tiến hành
theo thoã thuận của tất cả các bên có liên quan. Trong thương mại quốc tế
thư tín dụng này được sử dụng phổ biến nhất.
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận: Là loại thư tín dụng không
thể huỷ bỏ, được một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của
ngân hàng mở thư tín dụng.
- Thư tín dụng chuyển nhượng: Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ,
trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả hoàn toàn hay trả
một phần của thư tín cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng
lợi đầu tiên.
5.4. Phương thức COD & CAD
CAD (Cash against documents ) hay COD ( Cash on delivery) là
phương thức thanh toán trong đó tổ chức nhập khẩu dựa trên cơ sở hợp
đồng ngọai thương sẽ yêu cầu ngân hàng bên xuất khẩu mở một tài khoản
tín thác (Trust account) để thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu xuất
trình đầy đủ chứng từ theo thỏa thuận.
* Ngân hàng kiểm tra chứng từ , đối chiếu với bản ghi nhớ ,nếu phù hợp
thì thanh toán cho nhà xuất khẩu.
* Ngân hàng chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu và quyết toán tài
khoản tín thác.
II/ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT

I. Giới thiệu ngân hàng ACB
Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) được thành lập theo giấy phép số
0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp ngày 24-04-1993 và
giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
cấp ngày 13-05-1993,ngày 04-06-1993 ACB chính thức đi vào hoạt
động.Giấy phép hoạt động được cấp cho thời gian hoạt động là 50 năm
với vốn điều lệ bạn đầu là 20 tỷ Việt Nam đồng,tính đến ngày 27/11/2009
vốn điều lệ của ACB là 7.814.137.550.000 đồng (Bảy nghìn tám trăm
mười bốn tỷ một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm năm mươi nghìn
đồng).
Hiện nay, các hoạt động chính của Ngân hàng ACB và các công ty con là
huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm,
tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi; tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư; nhận
vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước; cho vay ngắn, trung và
dài hạn; chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá; đầu tư vào chứng
khoán và các tổ chức kinh tế; làm dịch vụ thanh toán giữa các khách
hàng; kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc; thanh toán quốc tế; sản xuất vàng
miếng; môi giới và tư vấn đầu từ chứng khoán; lưu ký, tư vấn tài chính
doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành; cung cấp các dịch vụ về đầu tư, các
dịch vụ về quản lý nợ, các dịch vụ về quản lý quĩ đầu tư và khai thác tài
sản, thuê mua và cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác.
Sau hơn 15 năm hoạt động, mạng lưới kênh phân phối của Ngân hàng
ACB trải rộng khắp trên toàn quốc với 246 chi nhánh và phòng giao dịch
tại những vùng kinh tế phát triển như:

Tại TP Hồ Chí Minh: 1 Sở giao dịch, 30 chi nhánh và 91 phòng
giao dịch

Tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hưng Yên,
Bắc Ninh, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc): 13 chi nhánh và 49 phòng giao dịch

giám đốc).
II. Thực trạng hoạt động TTQT tại ngân hàng ACB
1. Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây của Ngân
hàng TMCP Á Châu:
- Kết quả hoạt động năm 2009:
Về quy mô hoạt động, tổng tài sản của tập đoàn đến cuối năm 2009
tăng 19.914 tỷ đồng (+23,3%) so với đầu năm, đạt 105.306 tỷ đồng. Vốn
chủ sở hữu cũng tăng khá so với đầu năm, từ 6.258 tỷ đồng lên 7.766 tỷ
đồng; trong đó, vốn điều lệ tăng 3.726 tỷ đồng từ các nguồn: chuyển đổi
trái phiếu phát hành đợt 1 năm 2007 (550 tỷ đồng), thặng dư vốn cổ phần
(1.704 tỷ đồng), chia cổ tức bằng cổ phiếu 55% (1.447 tỷ đồng), và cổ
phiếu thưởng cho cán bộ công nhân viên (25 tỷ đồng).
Về hoạt động sử dụng vốn, do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ
quan (mà chủ yếu là thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt của nhà nước
và kiểm soát chất lượng tín dụng trong điều kiện kinh tế đang gặp khó
khăn), tổng dư nợ cho vay khách hàng của tập đoàn cuối năm 2009 là
34.833 tỷ đồng, chỉ tăng được 3.022 tỷ đồng, tương đương 9,5% so với
đầu năm. Chính vì vậy, vị thế hoạt động tín dụng của ACB so toàn ngành
vẫn giữ nguyên so với năm trước, ở mức xấp xỉ 3%.
Về kết quả kinh doanh, số liệu kiểm toán cho thấy, trong bối cảnh đầy
khó khăn của năm 2009, lợi nhuận đạt được của ngân hàng thực sự là một
điểm sáng. Lợi nhuận trước thuế cả năm 2009 của tập đoàn đạt 2.561 tỷ,
tăng 434 tỷ đồng so với 2008, vượt 61 tỷ đồng so với kế hoạch, trong đó
phần lợi nhuận đóng góp của các công ty con và công ty liên kết là 319 tỷ
đồng, chiếm 12,5%.


Tổng hợp tình hình hoạt động của tập đoàn trong năm 2008 được tóm tắt
qua bảng số liệu dưới đây:
Bảng 1.1: Tổng hợp tình hình hoạt động năm 2009 của ACB

Về tăng trưởng qui mô, mặc dù các chỉ tiêu tổng tài sản, tổng dư
nợ tín dụng và huy động tiền gửi khách hàng của ACB mới đạt lần lượt
99%; 96% và 84% kế hoạch đề ra nhưng tốc độ tăng trưởng huy động
tiền gửi khách hàng và cho vay của ACB đều cao hơn tốc độ tăng trưởng
của ngành. Huy động tiền gửi khách hàng của Tập đoàn năm 2010 tăng
trưởng 45% bằng 1,6 lần của ngành (27%) và dư nợ cho vay khách hàng
tăng trưởng 79%, bằng 2 lần của ngành (38%)
Bảng 1.2:Mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch chính
của tập đoàn năm 2010
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Thực hiện 2010 Kế hoạch 2010
% so kế hoạch
Thực hiện 2009 % tăng trưởng so 2009
Lợi nhuận trước thuế
2.700 2.838 105,1%
2.561 10,8%
Tổng tài sản
170.000
167.881
98,8%
105.306
59,4%
Tổng dư nợ tín dụng
65.000
62.358
95,9%
34.833
79,0%
Huy động khách hàng 130.000

nhuận, doanh thu được chia và thu nhập hợp pháp về nước (đối với các
nhà đầu tư nước ngoài) ... dịch vụ chuyển tiền ra nước ngoài tại ACB sẽ
đáp ứng tốt nhất các nhu cầu này.
Chuyển tiền đi Trung Quốc và người thụ hưởng nhận tiền ngay trong
ngày, dịch vụ chuyển tiền bằng điện ghi có trong ngày của ACB sẽ đáp
ứng tốt nhất nhu cầu này.
Bảng: Giá trị TTQT dười hình T/T nhập của ngân hàng giai đoạn
2008_2010
2008 2009 2010 Chênh lệch 2008/2009 Chênh lệch 2009/2010
Chênh lệch 2008/2010
T/T nhập T/T nhập T/T nhập
SL Giá trị
SL Giá trị
SL Giá trị
Tuyệt đối %
Tuyệt đối %
Tuyệt đối %
48
350.000
82
601.697
152 15.469.720 251.697
71% 14.868.031 2471%
15.119.728 4320%
Qua biểu ta thấy số lượng và giá trị bằng hình thức chuyển tiền qua
các năm đều tăng và cao nhất là năm 2010 (đạt 15.469.720 USD) tăng
2471% so với năm 2009, và tăng 4320% so với năm 2008. Nguyên nhân
do các doanh nghiệp nhập khẩu với hình thức nhỏ lẻ ngày càng tăng. Vì
vậy ngân hàng với thủ tục đơn giản,nhanh chóng và phí dịch vụ tương đối
thấp đã thu hút được các doanh nghiệp nhập khẩu này.

tăng, nhưng trị giá T/T xuất năm 2010 là 643.421 USD giảm 70% so với
năm 2009, và trị giá T/T xuất năm 2008 là 339.000 USD thấp hơn năm
2009 là 440%. Nguyên nhân làm cho trị giá T/T xuất năm 2009 tăng cao
là do trị giá hợp đồng của các doanh nghiệp xuất khẩu dưới hình thức T/T
xuất nhiều, do các nhà xuất khẩu mở rộng thị trường, và nhu cầu của
người dân ở các thị trường đó chưa thắt chặt chi tiêu như năm 2010.
2.2.2.Tín dụng Chứng từ:
ACB bảo lãnh phát hành L/C cho khách hàng và thực hiện thanh toán cho
nước ngoài khi nhận bộ chứng từ giao hàng hợp lệ. ACB có thể chuyển
L/C đến đối tác của khách hàng với thời gian và chi phí tiết kiệm nhất.
ACB sẽ là ngân hàng xác nhận (nếu có yêu cầu) và thông báo L/C đến
khách hàng nhanh nhất với chi phí hiệu quả nhất.
Sau khi khách hàng xuất khẩu hàng hóa, bộ chứng từ sẽ được ACB hỗ trợ
kiểm tra, hướng dẫn sửa chữa, chiết khấu (nếu có nhu cầu) và gửi đi nước
ngoài yêu cầu thanh toán
Bảng: kết quả hoạt động thanh toán quốc tế dưới hình thức tín dụng L/C
của ngân hàng ACB giai đoạn 2008_2010.
2008 2009 2010
L/C xuất
L/C nhập L/C xuất
L/C nhập L/C xuất
L/C nhập
SL Giá trị
SL Giá trị
SL Giá trị
SL Giá trị
SL Giá trị
SL Giá trị
13
1.253.000 0

giai đoạn này vẫn bằng 0 (do không có doanh nghiệp xuất nhập khẩu nào
sử dụng phương thức nhờ thu) nguyên nhân do các doanh nghiệp chưa
hiểu rõ về phương thức nhờ thu, và nghĩ rằng sử ụng phương thức L/C là
tốt hơn, an toàn hơn mặc dù sử dụng hình thức L/C thủ tục sẽ phức tạp
hơn và phí trả cho ngân hàng cao hơn.
2.2.4. Tình hình thu phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán quốc tế
Bảng: Doanh số thu phí dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng Á
Châu giai đoạn 2008_2010
Năm
phí
2008 2009 2010 Chênh
lệch
2008/2009 Chênh lệch
2008/2010 Chênh lệch
2009/2010
Tuyệt đối %
Tuyệt đối %
Tuyệt đối
%
Tổng phí(ĐVT: VNĐ) 34.628.395 252.472.787 221.744.019
217.844.392 629 187.115.624 540 -30.728.768 -12
Qua bảng trên ta thấy tình hính thu phí qua các năm có sự biến động, như
đã phản ánh ở trên năm 2010 là năm có nhiều biến động không chi riêng
ngân hàng Á Châu mà còn đối với các ngân hàng khác, nên tổng thu phí
của năm 2010 thấp hơn năm 2009, tuy nhiên so với năm 2008 tăng hơn
540%. Điều này cũng đã nói lên hoạt động thanh toán quốc tế ở ngân
hàng ngày càng thu hút được nhiều khách hàng, đặc biệt là đối với các
doanh nghiệp xuất khẩu, các du học sinh…Nhưng vẫn còn hạn chế đối
với các doing nghiệp suất khẩu do thủ tục còn phức tạp, mang lại lợi ích
cho khách hàng ít hơn so với một số ngân hàng khác. Vì vậy đây cũng là

đánh giá chất lượng hoạt động, dịch vụ của Ngân hàng còn nhiều hạn chế,
chưa hữu hiệu để có thể khen thưởng và kỷ luật kịp thời.
Nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu kinh doanh. Rủi ro
con người, rủi ro đạo đức mà ACB phải đối mặt đang tăng.


CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
HOẠT ĐỘNG TTQT TẠI NGÂN HÀNG
1. Một số giải pháp phát triển dịch vụ TTQT:
- Tăng cường hơn nữa quan hệ với các ngân hàng đại lý:
Xây dựng hệ thống phân loại và chính sách quan hệ đại lý phù
hợp để nâng cao uy tín, tạo điều kiện tốt nhất cho việc thực hiện các giao
dịch tại ngân hàng. Đồng thời khai thác hệ thống thanh toán của ngân
hàng đại lý để phục vụ cho nhu cầu thanh toán của chi nhánh Hà Nội.
Ngoài ra, tăng cường quan hệ với các ngân hàng đại lý còn giúp chi
nhánh học hỏi được kinh nghiệm quản lý của ngân hàng nước ngoài.
Chính vai trò hết sức quan trọng của hệ thống ngân hàng đại lý nên trong
thời gian tới, ACB-Chi nhánh Hà Nội cần thực hiện một số giải pháp như:

Thứ nhất, chi nhánh cần tiếp tục duy trì và củng cố mối quan hệ với
các ngân hàng đại lý đã thiết lập từ trước để giữ vững uy tín của mình
trên thị trường ngân hàng-tài chính quốc tế

Thứ hai, chi nhánh cần mở rộng mối quan hệ đại lý với các ngân
hàng mới trên nhiều quốc gia khác nhau để đáp ứng nhu cầu thanh toán
của khách hàng, đặc biệt ở những nước mà Việt Nam có quan hệ thương
mại lớn như: Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Đông Âu...

Thứ ba, chi nhánh cần tăng cường gắn kết công tác quan hệ đại lý
với quan hệ khách hàng.

hình thức cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu trong giai đoạn thực hiện kí kết
hợp đồng ngoại thương, để tránh những rủi ro cho hoạt động kinh doanh
của nhà nhập khẩu và đảm bảo uy tín cho chi nhánh, chi nhánh cần thực
hiên cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu theo hạn mức nhất định. Đồng thời
cũng cần qui định lại tỷ lệ kí quỹ do thời gian từ lúc mở L/C đến khi thực
hiện thanh toán là khá dài, nhà nhập khẩu bị ứ đọng vốn, nếu chi nhánh
yêu cầu tỷ lệ kí quỹ cao thì gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của
nhà nhập khẩu
- Đối với các L/C xuất khẩu, chi nhánh sẽ tiến hành giúp nhà xuất
khẩu thu hồi vốn nhanh chóng và cũng thực hiện ở các giai đoạn: cấp tín
dụng cho nhà xuất khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại mà khách hàng
đã kí hoặc căn cứ vào L/C đã được thông báo, chi nhánh cáp tín dụng để
nhà xuất khẩu thực hiện sản xuất hàng hoá xuất khẩu, chiết khấu bộ
chứng từ hoàn hảo và chiết khấu hối phiếu. Căn cứ vào bộ chứng từ hoàn
hảo, chi nhánh thực hiện chiết khấu bộ chứng từ, giúp cho nhà xuất khẩu
có thể quay vòng vốn nhanh. Chi nhánh cũng có thể thực hiện cấp tín
dụng cho khách hàng bằng cách chiết khấu các hối phiếu chưa đến hạn
thanh toán; thục hiện ứng trước tiền hàng ( thực chất đây là nghiệp vụ mà
ngân hàng cho vay dựa trên tài sản đảm bảo là bộ chứng từ hoàn
hảo,nghiệp vụ này gần giống với nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hoàn
hảo).Viêc tài trợ qua nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hoàn hảo, nghiệp
vụ chiết khấu hối phiếu và nghiệp vụ ứng trước tiền hàng không những
đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà còn giúp cho nhà xuất khẩu quay
vòng vốn nhanh hơn và tạo đông lực cho nhà xuất khẩu thiết lập bộ
chứng từ hoàn hảo.
- Tăng cường nguồn ngoại tệ phục vụ hoạt động TTQT:
Bên cạnh đó, cùng với sự khôi phục lại nền kinh tế của các nước Châu Á
sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, thị trường
Châu Á đang dần chiếm lại niềm tin đối với các đối tác phương Tây, hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng sẽ có cơ hội tăng trưởng, nhu

nữa chính sách thương mại, nhằm phát triển theo hướng khuyến khích
xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu nhằm của thiện cán cân thanh
toán quốc tế.
- Đẩy mạnh phát triển quan hệ thương mại với các nước trong khu
vực và trên thế giới: tiếp tục khai duy trì và mở rộng thị trường truyền
thống với các nước Đông Âu; đồng thời khai thác và mở rộng thị trường
các nước lớn, tiềm năng như: Nhật Bản, Hoa Kì, Trung Quốc, EU,
ASEAN…
- Hướng xuất khẩu từ sản phẩm thô sang những sản phẩm qua chế
biến: phát triển công nghệ chế biến, mở rộng liên doanh với nước ngoài
để nâng cao năng lực ngành công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu.
- Cần khai thác hiệu quả tiềm năng về tài nguyên, sức lao động,
thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu cho phù hợp với nhu cầu thị trường thế
giới, xác định mặt hàng chủ lực để đầu tư thích hợp, cùng với đó là việc
mở rộng mặt hàng và thị trường mới, phát triển các thương hiệu Việt.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ ngoại thương vững vàng về
chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức TTQT.
Ngoài ra, cần có sự phối hợp giữa các Bộ, ban, ngành tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu
theo một chu trình khép kín, cái cách thủ tục hành chính, tiết kiệm thời
gian và chi phí.
2.2.Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt nam


2.2.1. Ngân hàng Nhà nước cần có những biện pháp hoàn thiện và phát
triển thị trường mua bán ngoại tệ liên ngân hàng:
- Thứ nhất, cần gia nhập thêm các thành viên cho thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng. Hội sở chính của các NHTM là thành viên của thị
trường cần gia nhập thêm các chi nhánh có doanh số hoạt động kinh
doanh ngoại tệ lớn, doanh số TTQT lớn vì các chi nhánh này cũng cần

và chất lượng thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay. Do đó, để
nâng cao chất lượng hoạt động thông tin phục vụ ngân hàng cần có những
giải pháp đồng bộ như:
- Cần có thêm các cơ chế khuyến khích và bắt buộc đối với các tổ
chức tín dụng phải thường xuyên cung cấp các thông tin về tình hình dư
nợ của các doanh nghiệp tại tổ chức tin dụng.


- Trung tâm thông tin NHNN cần hỗ trợ các NHTM trong việc tìm
hiểu thị trường và khách hàng nước ngoài, vừa giúp các NHTM hạn chế
rủi ro trong kinh doanh, vừa tăng thêm thu nhập thông qua việc bán thông
tin.
- Trung tâm cần trang bị cơ sở vật chất hiện đại, đội ngũ cán bộ
nhân viên giỏi để thu nhập và xử lý thông tin một cách nhanh chóng và
đạt hiệu quả cao.
2.3. Kiến nghị đối với Ngân hàng Á Châu ACB:
ngân hàng nên thực hiện mở rộng mạng lưới quan hệ đại lý với các
ngân hàng đại lý trên thế giới tạo điều kiện cho hoạt động TTQT và hoạt
động TTQT bằng phương thức tín dụng chứng từ. Chủ động đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác với các ngân hàng lớn, có uy tín trên
thế giới, rà soát và củng cố mạng lưới ngân hàng đại lý hiện có, phát triển
thêm quan hệ đại lý với các ngân hàng ở các nước mà hoạt động ngoại
thương của Việt Nam bắt đầu có quan hệ như thị trường Bắc Mĩ, Châu
Âu, Châu Phi…để mở rộng kinh doanh quốc tế, hỗ trợ kinh doanh xuất
nhập khẩu, đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài
ra, Ngân hàng cần tìm hiểu những chính sách kinh tế, những hiệp định
ngoại thương, dự án phát triển để thiết lập trước hệ thống ngân hàng đại
lý, phục vụ cho các hiệp đinh và các dự án đó khi triển khai thực hiện.
Bên cạnh đó, cần kiểm soát chặt chẽ hơn nữa hoạt động của các ngân
hàng đại lý, nếu đại lý nào không có giao dịch phát sinh trong thời gian



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status