DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
BHXH
BHYT
CC
CC DC
CP NVLTT
CP NCTT
CP SXC
GĐ
KH
KPCĐ
NL, VL
Phòng KH – VT
Phòng TC – KT
PX
SL
SPDD
SXKD
TH
TK
TNHH
TSCĐ
UBND
Z
: Bảo hiểm xã hội
: Bảo hiểm y tế
: Cơ cấu
: Công cụ dụng cụ
: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận. Khi bắt tay vào sản xuất kinh doanh có
một điều quan trọng mà không một doanh nghiệp nào được phép bỏ qua là phải
tính đến việc các chi phí sẽ được quản lý và sử dụng như thế nào? Các doanh
nghiệp muốn tìm mọi hình thức, biện pháp khác nhau để tăng cường năng lực
cạnh tranh, chiếm giữ và mở rộng thị phần để tạo ra lợi nhuận lớn nhất. Do đó,
mỗi doanh nghiệp muốn tìm cho mình một chiến lược cạnh tranh riêng, trong đó
tiết kiệm chi phí để hạ giá thành là một giải pháp hữu hiệu. Chính vì vậy, việc
quản lý chi phí hiệu quả được coi là một bí quyết để tồn tại và phát triển của
mỗi doanh nghiệp.
Mặt khác, trong điều kiện kinh tế hội nhập, sự liên kết hợp tác đầu tư sâu
rộng và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ làm cho sức cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế ngày càng lớn khiến
trách nhiệm của nhà quản lý ngày càng nặng nề. Yêu cầu của hoạt động quản lý
càng phải chặt chẽ, hợp lý và bố trí có hiệu quả nguồn lực sản xuất để nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh, đặc biệt là quản lý chi phí. Quản lý chi phí là nội
dung quan trọng nhất trong quản lý doanh nghiệp. Trong một nền kinh tế thị
trường, sức cạnh tranh gay gắt đó khiến tất cả các doanh nghiệp đều rất quan
1
tâm đến chi phí sản xuất kinh doanh. Mặt khác, chi phí còn quan trọng hơn vì lý
do sâu sắc, đó là các doanh nghiệp sẽ quyết định mức sản xuất và bán ra của các
sản phẩm tùy theo đơn giá và giá thành của nó.
Một vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý doanh nghiệp là tổ chức quản trị một
cách có hiệu quả các loại chi phí phát sinh bằng nhiều hình thức và biện pháp
khác nhau, đồng thời nắm bắt thông tin đầy đủ chính xác phục vụ cho yêu cầu
quản lý. Cho nên, việc quản lý chi phí làm sao cho tiết kiệm, có hiệu quả được
coi là một trong những điều kiện để tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường, yêu cầu bộ máy quản trị doanh nghiệp cần nắm bắt thông
TNHH Việt Nga.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sử dụng và quản
lý chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty TNHH Việt Nga.
Địa chỉ: Cụm Tân Thành, X.Đa Mai, TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi thời gian:
+ Số liệu được thu thập trong 3 năm: 2010, 2011, 2012 và định hướng phát
triển cho các năm tới của công ty.
+ Đề tài được tiến hành từ ngày 16/1/2013 đến ngày 31/5/2013.
3
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
2.1.1 Tổng quan chung về chi phí
2.1.1.1 Khái niệm chi phí
Chi phí được hiểu là những khoản tiền hoặc chi phí phương tiện bỏ ra để đạt
mục đích nào đó. Mục đích của việc bỏ chi phí là để thu được kết quả. Kết quả
có thể là hiện vật hoặc không hiện vật, có thể là vô hình hoặc hữu hình. Chi phí có
thể chi ra trước, trong và sau quá trình sản xuất kinh doanh. Chi phí được tính cho
một kỳ kế toán, một chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc cho một sản phẩm.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự kết hợp của ba yếu
tố cơ bản, gồm:
• Tư liệu lao động như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, công cụ dụng cụ
và những tài sản cố định khác,…
phí kỳ này nhưng chưa được gọi là chi tiêu (chi phí trả trước). Thông thường có
chi tiêu mới có chi phí. Trường hợp chi tiêu với chi phí trùng nhau thường gắn
với những khoản chi tiêu có giá trị nhỏ hoặc giá trị của khoản chi tiêu được sử
dụng trong ngắn hạn.
2.1.1.2 Phân loại chi phí
Phân loại chi phí là việc sắp xếp chi phí thành từng nhóm nhằm giúp cho
việc quản lý chi phí dễ dàng, chặt chẽ và có hiệu quả hơn. Trong thực tế, việc
quản lý chi phí SXKD không chỉ đơn thuần là quản lý số liệu phản ánh tổng hợp
chi phí mà phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt để phân tích toàn bộ chi
phí sản xuất của từng công trình, hạng mục công trình hay theo nơi phát sinh chi
phí. Dưới các góc độ xem xét khác nhau thì chi phí SXKD cũng được phân loại
theo các cách khác nhau để đáp ứng yêu cầu thực tế của công tác quản lý và
5
hạch toán kế toán.
Theo yếu tố chi phí
Theo cách phân loại này người ta dựa vào nội dung kinh tế để sắp xếp những
chi phí có nội dung ban đầu giống nhau vào cùng một nhóm, gồm:
+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu là toàn bộ giá trị các loại nguyên liệu, nhiên
liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị xây dựng,... mà doanh nghiệp đã thực
sự sử dụng cho hoạt động SXKD của mình.
+ Chi phí nhân công là toàn bộ tiền công, tiền lương phải trả cho công nhân viên.
+ Chi phí BHXH, BHYT và KPCĐ theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền
lương và phụ cấp lương phải trả cho công nhân viên.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ gồm toàn bộ chi phí khấu hao phải trích của
TSCĐ sử dụng trong doanh nghiệp.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả về
các dịch vụ mua từ bên ngoài như điện, nước, điện thoại,...phục vụ cho hoạt
thuế, phí và lệ phí,...
Theo chức năng trong sản xuất kinh doanh
Căn cứ vào chức năng trong sản xuất kinh doanh, chi phí được chia thành hai
loại là chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất:
- Chi phí sản xuất: là những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
- Chi phí ngoài sản xuất là những chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất
liên quan đến quản lý sản xuất chung và tiêu thụ, bao gồm:
+ Chi phí bán hàng là những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa dịch vụ như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bao bì, hoa hồng, đại lý,
lương nhân viên bán hàng, khấu hao tài sản cố định, chi phí gắn với bảo hiểm tiêu thụ
hàng hóa và những chi phí liên quan đến khâu dự trữ thành phẩm,...
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các chi phí dùng vào tổ chức quản lý và
phục vụ sản xuất kinh doanh chung cho cả doanh nghiệp như chi phí cán bộ
7
quản lý, chi phí vật liệu, dụng cụ, đồ dùng văn phòng, khấu hao và sửa chữa tài
sản cố định dùng chung cho toàn doanh nghiệp, các loại thuế có tính chất chi
phí như thuế môn bài, thuế nhà đất, các khoản lệ phí, lãi tiền vay chi phí thông
tin liên lạc, giao dịch,...ở tất cả các doanh nghiệp đều có loại chi phí này.
Cùng với cách phân loại này, người ta còn có thể phân thành chi phí sản
phẩm và chi phí thời kỳ.
- Chi phí sản phẩm: là chi phí liên quan đến việc sản xuất hoặc mua các sản
phẩm. Đối với sản phẩm hoa quả chế biến xuất khẩu thì chi phí này bao gồm chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
chung. Chi phí sản phẩm gắn liền với từng đơn vị sản phẩm khi chúng được sản
+ Chi phí biến cấp bậc là loại chi phí không biến động liên tục so với biến
động của mức độ hoạt động. Sự hoạt động phải đạt ở mức độ nào đó mới dẫn
đến sự biến động về chi phí như chi phí về lương cho thợ bảo trì.
- Chi phí bất biến (định phí hay chi phí cố định)
Chi phí cố định là những khoản chi phí mà giá trị của nó không thay đổi
theo mức độ hoạt động như chi phí khấu hao TSCĐ; chi thuê mặt bằng,...Do
tổng giá trị không thay đổi nên khi mức độ hoạt động tăng thì phần chi phí bất
biến tính trên một đơn vị mức độ hoạt động sẽ giảm đi. Thông thường trên các
báo cáo tài chính ch phí cố định thường được thể hiện dưới dạng tổng số.
- Chi phí hỗn hợp là chi phí bao gồm cả định phí và biến phí. Ở mức độ hoạt
động cơ bản thì chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của chi phí bất biến, còn
ở mức độ hoạt động vượt mức thì nó thể hiện đặc điểm của chi phí khả biến. Sự
pha trộn giữa phần bất biến và khả biến có thể theo những tỷ lệ nhất định. Chi
phí hỗn hợp rất phổ biến trong các doanh nghiệp, phần định phí phản ánh mức
độ tối thiểu để duy trì phục vụ. Phần biến phí thể hiện mức thực tế sử dụng hoặc
mức sử dụng vượt quá định mức. Ví dụ: chi phí điện thoại có thể xem là một
loại chi phí hỗn hợp trong đó phần bắt buộc được xem là thuê bao, phần khả
biến là chi phí tính trên tổng số thời gian gọi.
Cách phân loại này có vai trò quan trọng và là chìa khóa để các nhà quản lý
ra quyết định đúng đắn bởi có hiểu và nắm được các chi phí này thì nhà quản lý
mới có khả năng phân tích, dự toán hợp lý về từng loại chi phí.
9
Ngoài các phân loại phổ biến nói trên, chi phí còn có thể phân loại theo
quan hệ với quá trình sản xuất (chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp); theo khả
năng kiểm soát (chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được).
2.1.1.3 Đối tượng và phương pháp xác định chi phí
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
- Có kích thước lớn.
- Được đặt mua trước khi sản xuất.
Đặc điểm nổi bật của phương pháp xác định chi phí theo công việc là việc
tính toán, phân bổ chi phí theo từng công việc cụ thể. Kế toán phải cộng dồn chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
mỗi công việc để người quản lý có thể tính được giá thành nhằm xác định lãi lỗ
cho mỗi công việc. Đó chính là việc kiểm soát chi phí. Nếu giá thành quá cao sẽ
dẫn tới lợi nhuận quá thấp hoặc lỗ. Các nhà quản lý điều khiển công việc để
đảm bảo chi phí của nó nằm trong giới hạn kế hoạch cho phép, nếu không phải
tìm hiểu nguyên nhân để xử lý, điều chỉnh kịp thời.
(2) Phương pháp xác định chi phí theo quy trình sản xuất
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất đại trà một
loại sản phẩm và quy trình sản xuất nhiều công đoạn khác nhau. Để áp dụng
phương pháp này sản phẩm có một số đặc điểm sau:
- Có cùng hình thái vật chất và kích thước (sữa, xi măng).
- Có kích thước nhỏ, giá trị không lớn.
- Được đặt mua sau khi sản xuất vì sản phẩm do doanh nghiệp tự nghiên
cứu, sản xuất đại trà mới đưa đi tiêu thụ trên thị trường.
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp thường được tổ chức theo hai quy trình
công nghệ, quy trình sản xuất liên tục và quy trình sản xuất song song.
Với quy trình sản xuất liên tục, phân xưởng là bộ phận sản xuất cơ sở, là
nơi phát sinh chi phí sản xuất đó, hoạt động sản xuất diễn ra liên tục ở các phân
xưởng kế tiếp nhau, sản phẩm vận động từ phân xưởng này sang phân xưởng
khác.
Với quy trình sản xuất song song, đơn vị sản xuất diễn ra trên một điểm nào
11
đó thì được tính ra thành quy trình sản xuất liên tục. Các chi phí sản xuất được
12
phục vụ cho bộ phận khác và chi phí của chúng được tái bộ phận toàn bộ.
- Kiểu 3: Phân bổ các chi phí của một bộ phận hoặc một động cho các sản
phẩm hoặc dịch vụ bao gồm những chi phí đã được phân bổ cho các bộ phận ở
kiểu 1 và kiểu 2.
2.1.2 Quản lý chi phí
2.1.2.1 Khái niệm, chức năng và sự phân cấp trong quản lý
Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng
quản lý nhằm đạt được những kết quả mong muốn của chủ thể. Sự tác động
được thực hiện qua các chức năng của quản lý và được biểu hiện bằng các biện
pháp kinh tế xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác.
Trong thực tế, mọi hoạt động dù lớn hay nhỏ; trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa
hay chính trị xã hội đều cần đến hoạt động quản lý bởi quản lý vừa mang tính
khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Nó là hoạt động phức tạp đặc biệt là quản
lý kinh doanh.
Chức năng quản lý
Trong quá trình quản lý, các nhà quản lý phải thực hiện nhiều chức năng
song có một số chức năng chủ yếu như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra
thực hiện, đánh giá kết quả và quyết định. Trong đó quyết định được coi là chức
năng quan trọng nhất và nó có ở mọi vị trí quản lý, các chức năng khác đều
xoay quanh chức năng này.
* Lập kế hoạch dài hạn và ngắn hạn
Để đạt được mục tiêu chiến lược lâu dài của một tổ chức các nhà quản lý
phải lập các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn để từng bước thực hiện mục tiêu của
mình. Khi lập kế hoạch trước tiên các nhà quản lý phải có kế hoạch dài hạn, tức
một tầm nhìn xa 5 – 10 năm sau mới lập được kế hoạch trung và ngắn hạn. Lập
cũng phải chủ động, linh hoạt nắm bắt các thông tin một cách nhanh nhất, đầy
đủ và chính xác nhất. Từ đó, nhà quản lý có cơ sở kết hợp các nguồn lực, có căn
cứ để phát hiện những lệch lạc, những tồn tại bất hợp lý phát sinh trong quá
trình thực hiện.
14
* Ra quyết định
Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt mà nó có mặt ở các
chức năng nói trên. Trong việc ra quyết định, các nhà quản lý luôn cố gắng tìm
ra phương án tối ưu nhất trong số những phương án khác nhau. Đồng thời, trong
quá trình thực hiện và kiểm tra, người quản lý phải ra quyết định hàng ngày để
cho công việc diễn ra tốt nhất và đạt hiệu quả nhất.
Muốn có được những quyết định đúng đắn thì yêu cầu trước tiên cần có là
thông tin phải chính xác. Thông tin là nền tảng của tất cả các quyết định. Nếu
thông tin không đầy đủ, chính xác sẽ dẫn đến các quyết định sai lầm. Vì vậy cần
thiết phải có kế toán quản trị để phân tích và tổng hợp thông tin một cách dễ
hiểu nhất để phục vụ cho nhà quản lý. Quá trình kế toán cũng là một chu trình
khép kín và có quan hệ chặt chẽ với chức năng quản lý.
CHỨC NĂNG
QUẢN LÝ
QUÁ TRÌNH
KẾ TOÁN
Xác định
Đề ra các chỉ
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và quá trình kế toán
Qua hình 2.2 ta thấy:
Quản lý cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch, dự toán để có
cơ sở đưa ra các mục tiêu, các kế hoạch ngắn và dài hạn,...
Quản lý cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện để có cơ sở kết
hợp tốt nhất các nguồn lực của doanh nghiệp.
Quản lý cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra đánh giá để có cơ sở phát
hiện những lệch lạc, những tồn tại hoặc bất hợp lý nhằm có cơ sở để điều chỉnh
những mục tiêu và kế hoạch ban đầu.
Quản lý cung ứng thông tin cho quá trình ra quyết định. Để ra quyết định
người quản lý phải có sự lựa chọn hợp lý giữa các phương án, các tình huống.
Đây là chức năng cao nhất của quản lý, chức năng xuyên suốt mọi chức năng.
Để có thông tin thích hợp cho việc ra quyết định, KTQT phải phân tích và tổng
hợp thông tin một cách dễ hiểu để cung cấp cho người quản lý.
Quản lý còn góp phần cải tiến công tác quản lý trong doanh nghiệp, đặc biệt
hoàn thiện công tác quản lý tài chính và công tác kế toán.
2.1.2.2 Quản lý chi phí
Khái niệm quản lý chi phí
Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Muốn vậy,
doanh nghiệp cần phải tìm cách tăng doanh thu, giảm chi phí. Để tăng doanh
thu doanh nghiệp phải tăng sản lượng sản phẩm bán ra hay tăng đơn giá bán sản
phẩm bình quân. Còn khi muốn giảm chi phí thì một trong những biện pháp
được doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất là quản lý chi phí.
Quản lý chi phí là quá trình tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng việc
sử dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa ra những quyết định về các chi phí
ngắn hạn cũng như chi phí dài hạn của doanh nghiệp.
Quản lý chi phí chặt chẽ, hiệu quả có ý nghĩa rất lớn đối với sự tăng trưởng,
phát triển của các doanh nghiệp.
16
17
nghiệp mình với các doanh nghiệp cùng ngành. Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy
bén, bộ phận quản lý chi phí có thể chỉ ra những mặt mạnh cũng như những
thiếu sót của doanh nghiệp.
Mặt khác, bộ phận quản lý còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược chỉ tiêu
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng
khía cạnh cụ thể các yếu tố chi phí có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của
doanh nghiệp.
Có thể nói, bộ phận quản lý chi phí – Bộ não của doanh nghiệp có nhiệm vụ rộng
hơn và phức tạp hơn rất nhiều so với bộ phận kế toán, thống kê trong doanh nghiệp.
Mục đích, yêu cầu của quản lý chi phí
Mục đích:
Mục đích chung của quản lý chi phí là tổ chức, xác định và sử dụng có hiệu
quả các yếu tố chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo chi phí sử
dụng tiết kiệm, hợp lý và đem lại lợi ích cao nhất trên một đồng chi phí bỏ ra.
Mục đích cụ thể: mục đích cụ thể của quản lý chi phí là cụ thể hóa từng mục
tiêu quản lý chi phí. Cụ thể là:
- Đáp ứng nhu cầu các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp về chủng loại, số
lượng, chất lượng với giá cả hợp lý và kịp thời.
- Giảm thiểu lượng dự trữ, tồn đọng các yếu tố sản xuất. Do đó, việc lập và
thực hiện chi phí phải căn cứ vào khối lượng công việc trong kỳ sản xuất và
định mức kinh tế – kỹ thuật để xác định mức dự trữ từng yếu tố sản xuất hợp lý,
đúng thời điểm, giảm thời gian chờ đợi và những trở ngại cho sản xuất.
- Tạo điều kiện cho mọi hoạt động sản xuất phối hợp chặt chẽ, thống nhất
với nhau, phát huy tổng hợp khả năng sản xuất của doanh nghiệp để đảm bảo
chất lượng đầu ra.
Yêu cầu của quản lý chi phí:
* Thu thập số liệu thứ cấp:
- Thu thập từ các trang web, tài liệu, sách báo
- Thu thập từ các phòng hành chính tổng hợp, phòng kế hoạch, phòng tài vụ
của Công ty bao gồm bảng kết quả kinh doanh, bảng tổng hợp tất cả các loại chi
19
phí của Công ty TNHH Việt Nga.
* Thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp nhân viên lập dự toán tại
phòng KH –VT và phòng TC –KT của Công ty.
2.2.2 Phương pháp phân tích
* Phương pháp mô tả
Phương pháp dùng để mô tả những vấn đề liên quan đến đề tài. Từ các số
liệu thu thập được đưa ra các khoản mục có tính chất tương đồng vào các bản
biểu để mô tả từng vấn đề về quản lý chi phí của Công ty.
* Phương pháp so sánh
Phương pháp này dùng để so sánh các yếu tố định lượng cũng như các yếu tố
định tính. Các yếu tố định lượng đựơc so sánh với nhau thông qua những chỉ tiêu
tuyệt đối hoặc tương đối. Các yếu tố định tính không so sánh được bằng con số cụ
thể, chúng được đánh giá thông qua các quan điểm của người phân tích.
2.2.3 Phương pháp chuyên môn kế toán
Cung cấp thông tin thể hiện ở chỗ kế toán thu nhận và cung cấp thông tin về
toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh
của đơn vị. Chức năng kiểm tra: thể hiện ở chỗ thông qua việc ghi chép, tính
toán, phản ánh kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ tình hình và
kết quả hoạt động của đơn vị.
2.2.4 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
Ngoài việc thu thập số liệu thứ cấp tôi còn tiến hành phỏng vấn một số
cán bộ công nhân viên trong Công ty, đồng thời tham khảo một số ý kiến của
dây truyền sản xuất hộp carton sóng. Sản phẩm của Công ty đa dạng hơn, thu
nhập của doanh nghiệp tăng, cũng đồng nghĩa với việc tăng thu nhập cho người
lao động, tạo thêm việc làm cho lao động địa phương. Công ty đã khẳng định
hướng đầu tư đúng và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
21
Không ngừng đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường đến năm
2005 công ty đã mạnh dạn đầu tư xưởng chế biến nông sản thực phẩm xuất khẩu. Số
lao động của công ty từ 60 người tăng lên 170 người, nếu vào vụ và yêu cầu thời
gian giao hàng của khách hàng thì số lao động còn có thể tiếp tục tăng.
Bắt tay vào công việc, Việt Nga đã sớm nhận thấy việc xây dựng được vùng
nguyên liệu không chỉ giúp ổn định đầu vào mà còn đảm bảo các yêu cầu về
nâng cao chất lượng sản phẩm. Để thực hiện được điều đó, Công ty đã tham gia
ký kết tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ giống, kỹ thuật cho nhiều hộ nông dân tại các
xã vùng nguyên liệu. Nhờ vậy, trong những năm gần đây, Công ty đã xây dựng
được vùng nguyên liệu ổn định liên tục tại hai huyện Lạng Giang và Tân Yên
với diện tích 50 đến 100 ha/vụ, trở thành đơn vị đứng đầu của tỉnh Bắc Giang
về trồng cà chua bi, đảm bảo một lượng lớn hàng xuất khẩu thường xuyên.
Bằng chiến lược đúng đắn, Công ty đã khẳng định được vị trí của mình trong
ngành chế biến nông sản thực phẩm xuất khẩu tại Việt Nam nói chung và Bắc
Giang nói riêng, thương hiệu Việt Nga với những sản phẩm nông sản như: dưa
chuột bao tử, cà chua dầm dấm mang những hương vị đặc trưng khác nhau ngày
một chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu của các nước. Năm 2008, sản phẩm của
Công ty TNHH Việt Nga đã được Hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam cấp
Giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm tiêu chuẩn ISO 9001:2000 phiên bản
2000 và chứng chỉ tiêu chuẩn quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo HACCP.
Với những thành công đã đạt được, Ban lãnh đạo công ty thấy rằng để tồn
tại và phát triển việc đảm bảo chất lượng và vùng nguyên liệu ổn định là điều
Phòng Kế
hoạch –
Nông vụ
Phòng Tài
chính –
Kế toán
Phòng
kỹ thuật
KCS
Phân
xưởng sản
xuất
Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH Việt Nga
- Giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất và chịu trách nhiệm trước
công ty về hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời chịu trách nhiệm trước
pháp luật về ngành nghề kinh doanh và những quy định khác của Nhà nước.
23
- Phó giám đốc là người tham mưu cho giám đốc và trực tiếp chỉ đạo kỹ
thuật trong quá trình sản xuất. Hiện nay tại nhà máy có hai phó giám đốc, một
bên phụ trách chuyên môn kỹ thuật và một bên điều hành quản lý sản xuất.
- Phòng Tổ chức – Hành chính: tham mưu cho giám đốc về công tác cán bộ
và bố trí lao động trong từng phòng ban và phân xưởng.