BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
NGUYỄN MINH TUÂN
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG XỬ LÝ RƠM RẠ BẰNG
CHẾ PHẨM SINH HỌC FITO-BIOMIXRR VÀ EMINA
LÀM PHÂN BÓN CHO GIỐNG LÚA LT2 VỤ MÙA 2013
TẠI YÊN KHÁNH - NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
NGUYỄN MINH TUÂN
Page i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Vũ Quang Sáng, người
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng
như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo; Khoa Nông học, đặc biệt là các
thầy cô trong Bộ môn Sinh lý thực vật (Học viện Nông nghiệp Việt Nam).
Chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ Ninh Bình,
Trung tâm Ứng dụng Khoa học và Công nghệ Ninh Bình, bạn bè, đồng
nghiệp, gia đình và người thân đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Tuân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
i
LỜI CẢM ƠN
Mục tiêu của đề tài
3
3.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
5
1.1.
Nguồn gốc, phân loại cây lúa
5
1.2.
Giá trị của lúa gạo
6
1.3.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
16
Vai trò của vi sinh vật hữu hiệu trong chế tạo phân hữu cơ
17
1.6.1. Các vi sinh vật phân giải hydratcacbon
17
1.6.2. Sự phân giải hợp chất các bon nhờ vi sinh vật
17
1.7.
Một số nghiên cứu về xử lý rơm rạ thành phân hữu cơ bằng bằng
phương pháp sinh học ở trong và ngoài nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
18
Page iii
1.7.1. Một số nghiên cứu ở trên thế giới
18
29
2.1.1. Nguồn gốc và đặc điểm của giống lúa LT2
29
2.1.2. Vật liệu nghiên cứu
29
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu.
29
2.2.
Nội dung nghiên cứu
29
2.3.
Phương pháp nghiên cứu
30
2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
30
Ninh Bình.
3.2.
39
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất lúa giống LT2 vụ mùa năm 2013 tại
huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
42
Page iv
3.2.1. Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến thời gian sinh trưởng
của giống lúa LT2 vụ mùa 2013
43
3.2.2. Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây.
45
3.2.3. Ảnh hưởng phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến động thái đẻ nhánh của
giống lúa LT2
47
2. Kiến nghị
64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
66
PHỤ LỤC
70
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC BẢNG
STT
3.1:
Tên bảng
Trang
Sự biến đổi nhiệt độ đống ủ rơm rạ khi bổ sung chế phẩm FitoBiomix RR ở các liều lượng khác nhau
3.2:
37
46
3.7:
Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến động thái đẻ nhánh.
48
3.8:
Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến chỉ số diện tích
lá LAI.
3.9:
51
Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến khả năng tích
lũy chất khô DM
54
3.10: Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến khả năng
chống chịu sâu bệnh của giống lúa LT2
56
3.11: Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến các yếu tố cấu
thành năng suất của giống lúa LT2 vụ mùa 2013
Động thái đẻ nhánh cây lúa
49
3.3
Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ rơm rạ đến LAI
51
3.4
Khả năng tích lũy chất khô DM
54
3.5
Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của phân hữu cơ sử lý từ rơm rạ đến
năng suất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
60
Page vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tuần sau cấy
LAI
Chỉ số diện tích lá
DM
Khối lượng chất khô tích lũy
NXB
Nhà xuất bản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chính ở các nước châu Á,
chiếm khoảng 92% sản lượng lúa gạo trên toàn thế giới (IRRI, 2002). Nhu
cầu lương thực ngày càng tăng nên sản xuất lúa gạo phải tăng để đáp ứng
được nhu cầu lương thực. Vì vậy, để tăng sản lượng lương thực phải đi theo
hướng tăng năng suất trên đơn vị sản xuất. Bên cạnh đó, tăng năng suất lúa là
chìa khóa để cải thiện đời sống cho người nông dân và đóng góp cho sự phát
triển kinh tế, giảm đói nghèo (Dawe, 2000). Có nhiều biện pháp làm tăng
năng suất lúa song quan trọng là giống tốt và các biện pháp kỹ thuật phù hợp,
tiên tiến. Trong đó phân bón là biện pháp kỹ thuật quan trọng làm tăng năng
nuôi làm sức kéo giảm, do đó rơm sử dụng làm thức ăn cho trâu, bò cũng
giảm theo. Nghề trồng nấm trên địa bàn tỉnh tuy đã phát triển nhưng cũng chỉ
sử dụng một lượng rơm rạ nhất định để trồng nấm sò, nấm mỡ ... Mặt khác,
việc dùng rơm rạ làm chất đốt đã dần được thay thế bằng khí ga, điện. Do vậy
nguồn rơm rạ sau khi thu hoạch dư thừa được nhiều nông dân xử lý bằng biện
pháp đốt cháy ngay tại đồng ruộng hoặc thả xuống dòng chảy gây ô nhiễm
cảnh quan môi trường, phá huỷ các công trình công cộng, đặc biệt gây mất
cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, đây cũng là một trong những nguyên nhân
gây biến đổi khí hậu, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con
người. Theo các nhà khoa học, việc đốt rơm rạ đã phá vỡ sự cân bằng tự
nhiên, một lượng chất hữu cơ rất lớn đã bị đốt thành tro bụi, không được tái
tạo độ phì nhiêu cho đất, khói bụi khi đốt rơm rạ làm ô nhiễm không khí, gây
tác hại lớn đối với sức khỏe con người, đặc biệt trẻ em, người già và người
mắc bệnh hô hấp mạn tính dễ bị ảnh hưởng nhất; khói đốt rơm, rạ còn là
nguyên nhân tiềm ẩn gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Ngoài ra,
nhiều nơi còn vứt rơm, rạ xuống ao ngòi gây ô nhiễm nguồn nước và làm chết
các vật nuôi thuỷ sản. Đây là một nguyên nhân đã và đang gây khó khăn cho
sản xuất nông nghiệp trong cả nước cũng như ở Ninh Bình trong thời gian qua.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với giống lúa khi đạt năng suất 5,0 tấn/ha thì
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
lượng dinh dưỡng lấy đi từ đất: 51,5 kg N, 25,4 kg P2O5, 137,4 kg K2O, 23 kg
MgO, 20 kg CaO, 5 kg Lưu huỳnh, 2 kg Sắt, 2 kg Mangan, 200 g Kẽm, 150 g
Đồng, 150 g Bo, 250 kg Silic và 25 kg Clo trên 1 ha. Nếu không hoàn trả lại
đất các chất hữu cơ thì ngày càng làm mất đi nhiều nguyên tố quan trọng mà
cây trồng đã lấy đi từ đất, đặc biệt là nguyên tố cacbon. Đốt rơm rạ gây ra sự
mất mát gần như hoàn toàn N, lượng P mất đi khoảng 25%, K khoảng 20% và
nghiên cứu về sử dụng phân bón hữu cơ sinh học cho cây lúa chất lượng cao.
* Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được biện pháp xử lý rơm rạ làm phân bón hữu cơ cho cây
lúa và các cây trồng khác, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng hiệu
quả sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với cây lúa.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc, phân loại cây lúa
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa: Theo
Nguyễn Hữu Tề và công sự (2001), căn cứ vào các tài liệu cổ của Trung
Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…cây lúa đã có mặt từ 3000 năm trước công nguyên,
ở Trung Quốc vùng Triết Giang đã xuất hiện cây lúa khoảng 5000 năm, ở hạ
lưu sông Dương Tử 4000 năm trước công nguyên.
Nguyễn Văn Luật (2008), cho rằng về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa
cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau. Erygin P. S cho rằng lúa bắt đầu được
trồng trọt không phải một vùng mà nhiều vùng địa lý khác nhau, có thể ở phía
đông bán đảo Đông Dương, vùng đông nam Trung Quốc, hạ lưu Sông Ganga
và song Bramapoatre. Cũng có ý kiến cho rằng đồng bằng sông Cửu Long có
thể là vùng xuất sứ của lúa trồng ( Đào Thế Tuấn, 1980). Sasato trong cuốn “
Nghiên cứu tổng hợp về lúa” cho rằng lúa từ Ấn Độ, Việt Nam, Myanmar đã
được truyền tới Trung Quốc hoặc theo đường Hoa Nam, hoặc theo đường Tây
Nam. Một số nhà khoa học như Vavilop N.T, Ghose R.L.M, Watt G,
Komarov V.L… đều cho là Việt Nam nằm trong cái nôi của lúa trồng
Đối với lúa trồng cũng có nhiều cách phân loại khác nhau:
- Theo điều kiện khí hậu và vĩ độ địa lý, lúa được phân thành 2 loại: lúa
7,9
2,2
9,9
5,7
11,9
Ngoài các thành phần quan trọng như tinh bột, protein, lipit trong lúa
gạo còn có một số vitamin nhất là vitamin nhóm B như: B1, B6, B2,
PP...lượng vitamin B1 là 0,45mg/ 100 hạt (trong đó phân bố ở phôi 47%, vỏ
cám 34,5% còn trong hạt gạo chỉ có 3,8%) so với lúa mì là 0,52 mg/ 100 hạt
và ngô là 0,4 mg
Lúa gạo ngoài việc sử dụng làm lương thực là chủ yếu thì các sản phẩm
phụ của cây lúa còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau:
- Gạo: là nguyên liệu sản xuất rượu, bia.
- Tấm sử dụng để xản xuất tinh bột, rượu cồn, axeton, phấn mịn ...
- Cám: làm thức ăn cho gia súc. Trong công nghệ dược dùng để sản
xuất vitamin B1 chữa bệnh tê phù, dầu cám có chất lượng cao, dùng chữa
bệnh, chế tạo sơn cao cấp, làm mỹ phẩm, chế xà phòng ...
Trấu: dùng để sản xuất nấm mem, làm thức ăn cho gia xúc, sản xuất vật
liệu đóng lót hàng, dùng để độn chuồng làm phân bón, chất đốt...
- Rơm, rạ: với thành phần chủ yếu là xenluloza có thể sản xuất thành
giấy, các tông, đồ gia dụng như thừng, chão, giầy, dép,... cũng có thể sử dụng
rơm, rạ làm thức ăn gia súc, chộn với cây họ đầu làm thức ăn ủ chua, sản xuất
nấm rơm, độn chuồng, chất đốt...
Nếu tận dụng khái thác hết các sản phẩm phụ của cây lúa thì giá trị kinh tế
giống lúa có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/vụ, đồng thời tập
trung vào nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu vitamin
A, giàu protein, giàu lisine, có mùi thơm…) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết
vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của người
tiêu dùng (Cada, E.C. and P.B. Escuro, 1997). Trung Quốc là nước đã nghiên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
cứu và đưa vào sản xuất thành công thành tựu khoa học kỹ thuật về lúa lai
được đánh giá là một phát minh lớn về khoa học kỹ thuật trong nghề trồng lúa
của thế kỉ 20 (Nguyễn Văn Luật, 2008). Nhưng phải đến năm 1973 các nhà
khoa học Trung Quốc mới tìm đủ 3 dòng: dòng bất dục đực di truyền tế bào
chất, dòng duy trì bất dục và dòng phục hồi bất dục. Từ đây đã tạo ra các
giống lúa ưu thế lai đầu tiên như: Nam ưu số 2, Sán ưu số 2, Uỷ ưu số 6 (Đinh
Văn Lữ, 1978). Lúa lai ra đời đã giúp cho nền sản xuất lúa Trung Quốc phá
được hiện tượng đội trần về năng suất lúa. Năng suất lúa tăng đã xoá được
nạn thiếu lương thực ở đất nước rộng lớn và đông dân này. Nhiệm vụ trọng
tâm của viện nghiên cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là
phát triển lúa lai 2 dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu
cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước (Lin, S.C.,
2001). Theo Jenning P.R., Coffmen W.R., Kauffman H.E. (1979). Hiện nay
các nhà chọn tạo giống đang tập trung và định hướng chọn tạo kiểu hình cây
lúa có chiều cao lý tưởng là 100 cm (FAOSTAT.FAO.ORG, 13).
Gần đây Thái Lan đã lai tạo được giống lúa giàu chất sắt lớn gấp 30 lần
so với các giống thường. Ngoài ra còn chứa protein, kẽm và các tác nhân
chống oxy hoá (Nguyễn Văn Luật, 2008).
Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 quốc gia trồng và sản xuất
lúa gạo, trong đó tập trung nhiều ở các nước Châu Á, 85% sản lượng lúa trên
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
(dự kiến)
Diện tích
(Triệu ha)
7,67
7,49
7,52
7,45
7,45
7,30
7,33
7,21
7,44
7,40
7,49
7,67
38,7
38,9
40,0
42,4
43,4
43,1
7,06
57,1
43,3
(Nguồn: FAOSTAT, 2013)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Việt Nam có hai vùng trồng lúa chính là đồng bằng sông Hồng ở phía
bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở phía Nam. Ở miền Bắc một năm có hai
vụ chính là vụ chiêm xuân và vụ mùa; Ở miền Nam nông dân trồng 3 vụ 1
năm tuy nhiên do năng suất vụ thứ 3 không được cao do ảnh hưởng của lũ ở
đồng bằng sông Cửu Long nên chính quyền sở tại đang khuyến cáo nông dân
giảm và chuyển đổi một phần đất vụ ba sang nuôi trồng thủy sản hay trồng
cây ăn quả (Đinh Thế Lộc, 2004). Từ khi thực hiện đổi mới (năm 1986), Việt
Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất lúa, đưa nước ta từ chỗ là nước
thiếu ăn triền miên đã không những đảm bảo đủ lương thực cho nhu cầu trong
nước mà còn là nước đứng thứ 2 trên thế giới về các nước xuất khẩu gạo và dành
vị trí xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới vào năm 2012.
giải từ từ làm tăng lượng mùn đồng thời để lại trong đất một hàm lượng đáng
kể chất dinh dưỡng. Phân hữu cơ là nguồn bổ sung mùn không thể thay thế
của đất. Bên cạnh đó khi bón phân hữu cơ vào đất làm cho tập đoàn vi sinh
vât hoạt động mạnh vì cung cấp cho chúng một hàm lượng thức ăn cả về
khoáng và thể hữu cơ. Bản thân trong phân hữu cơ có chứa rất nhiều vi sinh
vật, vì thế đã bổ sung cho đất cả số lượng và chủng loại vi sinh vật vào đất.
Phân bón đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó cung
cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng và làm tăng độ mầu mỡ cho đất. Sử dụng
hợp lý các loại phân bón cho cây trồng là phương cách tốt nhất để tăng năng
suất cây trồng và cải thiện chất lượng nông sản (Hoàng Minh Tấn và Cs,
2006). Theo Yang el al (2012) nếu phân đạm cùng phân hưu cơ thì khả năng
hấp thu và hiệu suất sử dụng đạm tăng lên đáng kể. Tuy nhiên hiện nay tại
nhiều địa phương nông dân chủ yếu sử dụng phân vô cỏ vì sự tiện dụng của
nó và vị cái lợi trước mắt mà không biết tận dụng những phế phụ phẩm nông
nghiệp (rơm, rạ, rau, rác,...) họ đã đem đốt bỏ gây ô nhiễm môi trường. Do
vậy, đã làm cho đất bị chai cứng. Sử dụng hợp lý các loại phân hoá học kết
hợp với bón các loại phân hữu cơ cho đất là một trong những phương cách
canh tác bền vững và khoa học, là cách tốt nhất để bảo vệ đất, chống thoái
hoá, sa mạc hoá đất canh tác, trả lại sự sống cho đất, từ đó tăng tính bền vững
cho đất (Bùi Đình Dinh, 1999).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Hiện nay, chất lượng đất nông nghiệp đang biến động theo chiều hướng
xấu đi do con người thâm canh, tăng vụ, sử dụng giống mới với mức phân
bón hoá học ngày càng cao, chất lượng nông sản, hiệu lực phân bón giảm, ô
nhiễm môi trường gia tăng. Vì vậy chúng ta cần sớm ứng dụng một số giải
pháp bền vững cho sản nông nghiệp đó là sử dụng phân hữu cơ cho quá trình
đất trồng lúa của nước ta khoảng 4,12 triệu ha do đó lượng rơm rạ để lại sau
mỗi vụ thu hoạch là nguồn hữu cơ rất lớn.
Theo Harper S.H.T and Lynch J.M (1984) và John E. Smith (2004),
rơm rạ nếu để tự nhiên sẽ cần rất nhiều thời gian để phân huỷ, và do tỷ lệ C/N
rất cao nếu cầy vùi rơm rạ trực tiếp vào đất, sẽ gây hiện tượng bất động dinh
dưỡng đất, hoặc trong quá trình phân huỷ sẽ gây ra hiện tượng ngộ độc hữu
cơ cho cây lúa.
Do đó, phế thải nông nghiệp sau khi thu hoạch khá lớn và thích hợp
cho việc làm phân ủ (compost). Nhưng cho đến nay nguồn cacbon vô tận đó
chủ yếu bị bỏ phí. Trước đây, bà con nông dân thường mang phế phẩm nông
nghiệp sau thu hoạch (rơm, rạ, loic ngô,...) để đun nấu, làm thức ăn cho Trâu,
Bò,... Tuy nhiên, những năm trở lai đây, quá trình đô thi hoá ngay càng tăng
nhanh, đời sống người dân được cải thiện, người cân không cần đến rơm rạ để
đun nấu, trong khi đó họ cần giải phóng ruộng để sản xuất cho vụ sau, giải
pháp đốt rơm rạ trên ruộng là lựa chon phổ biến của bà con nông dân.
Theo ước tính nếu đốt 1 tấn rơm rạ sẽ thải ra 36,32 kg khí CO, 4,5 kg
Hydrocarbon và 3,8 kg bụi tro và 56,00 kg CO2. Việc đốt bỏ rơm rạ đã gây ô
nhiễm bầu không khí, góp phần gây hiệu ứng nhà kính ảnh hưởng đến sức
khoẻ và làm mất an toàn giao thông trên nhiều tuyến đường. Theo các nhà y
học, khói bụi khi đốt rơm rạ làm ô nhiễm không khí, gây tác hại lớn đối với
sức khoẻ con người đặc biệt là trẻ em, người giá và là người mắc bệnh hô hấp
mãn tính rễ bị ảnh hưởng nhất. Thành phần các chất gây ô nhiễm không khí
do đốt rơm rạ tác động đến sức khoẻ con người là hydrocacbon thơm đa vòng
(viết tắt là PAH); dibenzo-p-dioxin clo hoá (PCDDs) và dibenzofuran clo hoá
(PCDFs) là các dẫn xuất của dioxin rất độc hại, có thể tiềm ẩn gây ung thư.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Page 14
Trong những năm qua, phân hoá học đã đóng vai trò quan trọng trong
việc tăng sản lượng lúa. Do quá trình sử dụng phân hoá học đơn giản, dễ dàng
và hiệu quả tác động cao nên trong trồng trọt nói chung và trồng lúa nói riêng
nông dân không muốn bón phân hữu cơ. Tuy nhiên song song với những lợi
ích mà phân hoá học đem lại là diện tích và tốc độ đất canh tác bị thoái hoá
ngày cáng tăng. Mặt khác, các loại phụ phẩm như rơm rạ bi đốt tại ruộng sau
khi thu hoạch, gây lãng phí lượng chất hữu cơ. Bởi vậy, trả lại phế phụ phẩm
nông nghiệp cho đất chính là bước đi đúng đắn trong chiến lược vận dụng hệ
thống dinh dưõng cây trồng tổng hợp.
Phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp tương đối nhiều nếu ủ thành
phân hữu cơ để bón cho đồng ruộng là đưa lại lợi ích kép, là phát triển sản
xuất bền vững, bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người.
Hiện nay, ở nhiều quốc gia và nhiều địa phương khác trong nước, rơm
rạ đựơc tận dụng như một nguyên liệu an toàn, thân thiện với môi trường. Sản
xuất phân hữu cơ vi sinh từ rơm rạ bằng phương pháp dùng chế phẩm vi sinh
vật tạo ra nguồn phân hữu cơ đã giải quyết cơ bản lượng phân chuồng thiếu
hụt, đồng thời tiết kiệm được chi phí đầu tư phân bón ủ cải tạo đất, giảm thiểu
ô nhiễm mối trường.
Tác dụng của chế phẩm vi sinh vật giúp phân giải nhanh các chất hữu
cơ có trong rơm rạ như: xenluloza, tinh bột, ligin, protein,... thành các chất tạo
chất kháng sinh để tiêu diệt hoặc ức chế một số vi sinh vật gây bệnh cho cây
trồng; tạo các chất ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt các vi sinh vật gây thối,
làm mất mùi hôi thối; hình thành các chất kích thích sinh trưởng thực vật giúp
cây trồng phát triển (Nguyễn Lân Dũng và người khác, 1998).
Mặt khác, trong đống ủ compost tốc độ phân giải xenluloza được đẩy
mạnh, nhiệt độ được nâng cao do đó tiêu diệt được các vi sinh vật gây bệnh
cho cây trồng. Chế phẩm còn có khả năng tồn tại lâu dài trong đất để tiếp tục