BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------------
NGUYỄN THỊ MINH TRÂM
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO
LOÀI LAN HÀI CÓ NGUY CƠ TUYỆT CHỦNG
PAPHIOPEDILUM DIANTHUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
NGUYỄN THỊ MINH TRÂM
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO
LOÀI LAN HÀI CÓ NGUY CƠ TUYỆT CHỦNG
PAPHIOPEDILUM DIANTHUM
Page i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn của mình, tôi đã nhận
được sự chỉ bảo tận tình, sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa
học, các nhà quản lý, cán bộ công nhân viên Viện sinh học nông nghiệp- Học viện
Nông nghiệp Việt Nam.
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
TS. Hoàng Thị Nga- Trưởng phòng Công nghệ sinh học Thực vật, Viện
Sinh học nông nghiệp; GS. TS. Nguyễn Quang Thạch – Chủ tịch Hội đồng Khoa
học Viện sinh học nông nghiệp– Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hướng dẫn,
giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, đánh
giá kết quả và hoàn thành luận văn đồng thời bồi dưỡng cho tôi những kiến thức
chuyên môn và kinh nghiệm quý báu.
Với tình cảm sâu sắc, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, cán bộ
công nhân viên Viện Sinh học nông nghiệp- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận
tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này.
Để hoàn thành luận văn này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy giáo,
Cô giáo, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Công nghệ sinh học Thực vật, Khoa Công
nghệ sinh học –Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ
tôi hoàn thành các thủ tục cần thiết để bảo vệ thành công luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, anh em, đồng
nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến
khích tôi hoàn thành luận văn này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Nguyễn Thị Minh Trâm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
1
1
Đặt vấn đề:
1
2
Mục đích và yêu cầu
2
3
Ý nghĩa của đề tài
2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1
Giới thiệu chung về Lan Hài:
3
1.3
Thực trạng cây lan Hài trên thế giới và ở Việt Nam
11
1.3.1
Sự phân bố của Lan Hài trên thế giới
11
1.3.2
Sự phân bố lan Hài ở Việt Nam.
13
1.3.3
Thực trạng của Lan Hài ở Việt Nam
13
1.3.3
Một số nét chính về cây lan Hài P.dianthum
19
Thời gian, địa điểm và vật liệu nghiên cứu:
26
2.1.1
Thời gian tiến hành
26
2.1.2
Địa điểm:
26
2.1.3
Vật liệu nghiên cứu
26
2.1.4
Phạm vi nghiên cứu
26
2.2
Các bước tiến hành thí nghiệm
32
2.3
Phương pháp xử lý số liệu
32
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
33
3.1
Nhóm thí nghiệm tạo vật liệu khởi đầu:
3.1.1
Xác định tuổi quả đến khả năng nảy mầm của hạt loài Lan
33
HàiPaphiopedilum dianthum.
3.1.2
33
Xác định nền môi trường thích hợp cho khả năng nảy mầm của
44
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dịch chiết dinh dưỡng được bổ
sung vào môi trường nuôi cấy đến khả năng nhân nhanh của Lan Hài
3.3
P.dianthum.
49
Nhóm thí nghiệm tạo cây hoàn chỉnh
52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
3.3.1
3.3.2
Nghiên cứu ảnh hưởng của nền môi trường nuôi cấy đến khả năng
sinh trưởng của chồi
52
Nghiên cứu ảnh hưởng của α-NAA đến sự ra rễ của chồi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
3.1
Tỷ lệ nảy mầm của hạt loài Lan HàiP. dianthum
33
3.2
Tỷ lệ nảy mầm của hạt lan Hài P.dianthum trên các nền môi trường
nuôi cấy
3.3
35
Ảnh hưởng của 2,4-D tới sự phát sinh hình thái của hạt lan Hài
P.dianthum sau nảy mầm
3.4
37
3.9
45
Ảnh hưởng của TDZ đến quá trình nhân nhanh của PLBs và chồi lan
Hài P.dianthum
3.10
46
Ảnh hưởng của BA kết hợp với NAA đến quá trình nhân nhanh của
PLBs và chồi lan HàiP.dianthum
3.11
47
Ảnh hưởng của TDZ kết hợp với NAA đến quá trình nhân nhanh của
PLBs và chồi lan Hài P.dianthum
3.12
48
Ảnh hưởng của dịch chuối bổ sung vào môi trường nuôi cấy đến quá
trình nhân nhanh loài lan Hài P.dianthum
3.13
1.1
Một số loài lan Hài ở Việt nam
18
1.2
Một số hình ảnh về lan Hài P.dianthum
22
3.1
Hạt lan Hài P.dianthum sau 12 tuần theo dõi
34
3.2
Hạt lan Hài P.dianthum trên các nền môi trường (sau 12 tuần )
36
3.3
Sự phát sinh hình thái của hạt lan HàiP.diathum sau nảy mầm (sau 12
tuần).
Tên thông thường
VW
Vacin và Went, 1949
MS
Murashige và Skoog, 1962
RE
Robert Ernst, 1979
2,4-D
acid 2,4 Dichlorophenoxy acetic
TDZ
thidiaruzone
BA
6-Benzylaminopurine
K
α-NAA
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề:
Lan Hài là một nhóm rất khác biệt trong họ Lan bởi cấu trúc hoa khác
thường của chúng với một cánh hoa giữa (còn gọi là môi hay cánh hoa) hình túi sâu,
trông giống như một chiếc hài nằm ở vị trí thấp nhất của hoa, do đó trở thành tên
chung của nhóm lan này(Averyanov et al., 2003).
Các kết quả của quá trình nghiên cứu thực vật của Viện Sinh thái và Tài
nguyên Sinh vật thuộc trung tâm khoa học Tự Nhiên và Công Nghệ Quốc Gia Việt
Nam và nghiên cứu các mẫu thu mua để buôn bán thì có 18 loài lan Hài và 4 dạng
lai tự nhiên đã được biết đến một cách chắc chắn ở Việt Nam. Trong số 18 loài lan
Hài đã được biết đến tại Việt Nam thì có tới 15 loài phân bố ở các tỉnh miền núi
phía Bắc chủ yếu tập trung ở các tỉnh như: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lai Châu,
Sơn La, Cao Bằng chỉ có 3 loài có khu vực phân bố là: Đắc Lắc, Khánh Hòa, Quảng
Trị(Averyanov et al., 2003).
Việt Nam là một trung tâm đa dạng và đặc hữu lan ở vùng Đông Nam Á.
Nhiều loài lan Hài của Việt Nam không chỉ rất hiếm mà còn có những loài đặc hữu
hẹp, là báu vật quốc gia có tầm quan trọng quốc tế. Tuy nhiên tình hình thực tế hiện
nay do việc khai thác rừng bừa bãi, nạn cháy rừng thường xuyên, xuất bán tràn lan
sang Trung Quốc xảy ra trên diện rộng đã làm trữ lượng của cây bị giảm sút, không
gian sống của các loài lan Hài đang bị thu hẹp, sự đa dạng sinh học đang bị suy
giảm nghiêm trọng dẫn tới nguồn tài nguyên quý mà thiên nhiên ban tặng này đang
có nguy cơ tuyệt chủng.Lan Hài còn tồn tại rất ít trong vùng phân bố tự nhiên, phần
lớn ở những vách núi hiểm trở, khó tiếp cận(Averyanov et al., 2003). Vì vậy việc
bảo tồn và phát triển các loài lan Hài của Việt Nam nói chung đặc biệt là các loài
đặc hữu khu vực miền núi phía Bắc là nhiệm vụ vô cùng cấp thiết vì nó có vai trò
cực kỳ quan trọng đối với đời sống vật chất, tinh thần của con người cũng như duy
trì cân bằng sinh thái tự nhiên. Trong đó, phương pháp nhân giống vô tính in
vitrolan Hài đã và đang mở ra triển vọng tốt cho việc bảo tồn gen và phát triển
giống hoa lan P.dianthum.
- Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và
sản xuất cây hoa lan P.dianthum.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Sản xuất được cây con sinh trưởng phát triển tốt, đồng đều và sạch bệnh với
khối lượng lớn, kịp thời phục vụ cho sản xuất. Thuận lợi cho việc áp dụng các biện
pháp kỹ thuật trong giai đoạn sản xuất hoa thương phẩm, từ đó kích thích sản xuất
hoa phát triển.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về họ Lan nói chung và lan Hài nói riêng:
1.1.1. Một số đặc điểm của họ Lan (Orchidaceae)
Họ Lan (danh pháp khoa học Orchidaceae) được nhiều nhà phân loại học
phân chia khác nhau, liên tục thay đổi cả về sắp xếp và số lượng chi, loài. Nhà
khoa học người Thụy Điển Carl von Linné công nhận 8 chi trong họ này năm
1753. Antoine Laurent de Jussieu xác nhận Orchidaceae là một họ thực vật năm
1789.
Hiện nay các loài lan được xếp vào 5 hay 6 phân họ chính, ngoài ra là các
tông, phân tông, chi và phân chi chưa thống nhất xếp cụ thể. Số lượng loài và chi
Phong lan hiện không ngừng tăng lên theo thời gian, đặc biệt là các loài lai làm cho
họ Orchidaceae trở thành một trong những họ thực vật lớn nhất thế giới với khoảng
28.000 loài tự nhiên và 100.000 lai ghép.
Đặc điểm hình thái:
- Cơ quan sinh dưỡng:
+ Giả hành (thân giả): chỉ xuất hiện trên các loài lan đa thân. Giả hành là bộ
ngoài (đài hoa) và 2 mảnh vòng trong (cánh hoa) bé hơn mảnh thứ 3 ở vòng trong.
Mảnh này có hình dạng và màu sắc khác hẳn được gọi là cánh môi, lúc nở bầu vặn
180o cánh môi quay ra trước làm chỗ đứng cho côn trùng. Ở những loài có cụm hoa
treo thõng không có hiện tượng quay. Ở góc cánh hoa mới có mật. Nhị thường chỉ
có 1 hoặc 2, ít khi có 3 hoặc 5. Có trường hợp nhị một trụ gọi là trụ nhị - nhuỵ. Nhị
gồm 2 phần: khối phấn và hốc phấn. Bầu dưới 3 ô, chứa nhiều noãn dính trụ giữa
hoặc noãn bên.
+ Quả : Quả khi khô thường mở thành 3-6 mảnh. Hạt rất nhỏ và nhiều,
thường không có nội nhũ. Do nhẹ nên hạt dễ phát tán nhờ gió. Ở nhiều loài, trong
quả thường có lông hút nước dùng để bắn hạt đi. Phôi trong hạt phát triển yếu,
thường không phân hóa thành cơ quan, sau 2-8 tháng hạt mới chín, phần lớn hạt bị
thui không nảy mầm được. Hạt muốn nảy mầm cần có nấm cộng sinh(Nguyễn
Thiện Tịch, 2001).
1.1.2. Nguồn gốc và quan hệ họ hàng của lan Hài
Lan Hài là môt nhánh nhỏ nhưng rất nổi bật trong quá trình tiến hóa của Lan.
Họ Lan (Orchidaceae) thể hiện một trong những dòng chuyên hóa nhất của thực vật
có hoa. Tất cả các loài Lan đều bắt nguồn từ các tổ tiên kiểu Hypoxis có sáu mảnh
bao hoa (ba mảnh bao hoa ngoài gọi là lá đài và ba mảnh bao hoa vòng trong gọi là
cánh hoa) và 6 nhị đực (ba nhị đực ở vòng ngoài và ba nhị đực ở vòng trong). Một
số xu hướng chuyên hóa về hình thái có thể quan sát được trong sự tiến hóa và hình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
thành của các nhóm Lan khác nhau. Tuy nhiên, sự giảm số lượng nhị đực và sự dính
liền giữa nhị (các nhị) đực hữu thụ còn tồn tại với nhị cái là sự biến đổi cơ bản nhất
dẫn đến sự tiến hóa của họ. Sự giảm liên tục số lượng nhị đực dẫn đến sự hình thành
các nhóm Lan có ba, hai hay một nhị đực duy nhất tồn tại trong hoa(Averyanov và
cs., 2008).
cách rõ rệt. Trong những trường hợp này cũng như trong các hoa đều khác, tất cả
các nhị đều có vai trò gần như nhau trong quá trình thụ phấn. Điều này không
giống như các loài Lan khác(Averyanov và cs., 2008).
Sự thụ phấn của hoa đối xứng hai bên là kết quả của sự tiêu giảm các bao
phấn đến mức chỉ còn một hoặc hai bao phấn được giữ chức năng sinh sản. Khuynh
hướng tiến hóa này dẫn đến sự tiến hóa của lan Hài và các Lan một nhị thuộc các
dưới họ Vanilloideae, Orchidoideae và Epidendroideae.
1.2. Phân loại lan Hài
1.2.1 . Phân loại học
Lan Hài (Paphiopedium) là một nhánh của họ Lan (Orchidaceae) thuộc bộ
Lan (Orchidales), phân lớp Hành (Liliidae), lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae),
ngành Hạt kín (Angiospermatophyta). Lan Hài là một nhóm rất đặc biệt trong họ
Lan. Chúng dễ dàng được nhận ra bởi cấu trúc hoa khác thường với một cánh hoa ở
giữa hình túi sâu trông giống một chiếc hài, mà trong chuyên môn thường được gọi
là môi hay cánh môi, nằm ở vị trí thấp nhất của hoa, tạo nên một vẻ ngoài đặc sắc.
Và do vậy nó trở thành tên chung của nhóm này. Chiếc môi đắc sắc và hình dạng
khác thường của hoa làm cho lan Hài dễ dàng phân biệt với các loài lan khác .
Lan Hài gồm 5 chi:
-
Chi Cypripedium có khoảng 50 loài, thường được gọi là Hài Vệ nữ, chủ
yếu phân bố ở vùng núi và vùng ôn đới của bắc bán cầu.
-
Chi Mexipedium, Phragmipedium và Selenipedium có khoảng 25 loài,
phân bố ở vùng nhiệt đới châu Mỹ.
-
đến 4-5 hoa. Lá bắc hình trứng rộng, cỡ 1,2 - 3 cm. Hoa rộng 8-10 cm, hơi có lông
ở mặt ngoài. Lá đài ở gần trục hoa màu trắng chuyển thành màu lục ở gốc, hình bầu
dục cỡ 3,8 –4,3 x 2,2 -2,5 cm lá đài kia màu lục nhạt với mạng gân màu lục thẫm
hơn, hình trứng rộng cỡ 3,5 – 3,8 x2,3-2,6 cm; cánh hoa hình dải xoan, màu trắng
hay vàng lục nhạt, cỡ 8-10 x 1 – 1,1 cm môi màu vàng nâu- nhạt, hình túi sâu, cỡ 4
- 4,5 x 2-2,5 cm với hai thùy bên hình tam giác; nhị lép màu trắng với mạng gân
màu lục thẫm ở giữa, hình trứng ngược, cỡ 0,9 -1,1 x 0,6 – 0,75 cm, bầu dài 2,5 –
3,5 cm, nhẵn. (Averyanov và cs., 2008)
1.2.2.3. Đặc điểm hình thái .
Các loài Lan Hài có thể có hình dạng bên ngoài rất đa dạng. Một số đại diện
ở vùng ôn đới của chi Cyripedium là các loài thân cỏ lùn nhỏ, các loài
Selenipedium, loài Cyripedium irapeanum và C.subtropicum là các loài có thân
dạng trúc, cao đến 1-3m. Tuy nhiên, ở đây ta chỉ quan tâm đến các loài Lan Hài
nhiệt đới châu Á có phân bố tại Việt Nam. Tất cả đều thuộc chi Paphiopedilum.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
+ Rễ: Thường cộng sinh với một loài nấm. Rễ đầu tiên có ít xylem nhưng có
rất nhiều floem được bao phủ bởi các rễ giả và đã nhiễm nấm ngay từ khi mới hình
thành. Tuy nhiên các rễ càng xuất hiện muộn càng ít nhiễm nấm, và đến tháng thứ
năm thì rễ trở thành đặc trưng dạng sợi mảnh với hệ floem phát triển mạnh và
không có các bụi nấm. (Averyanov và cs., 2008)
+ Dạng cây: Các loài Paphiopedilum là các loài thân cỏ có kích thước trung
bình với thân bị thu rất ngắn. Tuy nhiên, một số loài như P.malipoenes và
P.micranthum lại hình thành thân rễ kéo dài liên kết với rất nhiều gốc với nhau hình
thành một mạng lưới ngầm dưới đất. Đối với những loài này một dòng sinh sản vô
tính cũng có thể bao phủ tới một vài mét vuông nếu như có điều kiện sống thuận lợi.
Đối với các loài khác, ví dụ như P.hirsetissmum hay P.dianthum, một cây có thể từ
của lá.
+ Hoa: Hoa của các loài Paphiopedilum có hai lá đài ở vòng ngoài, một lá đài
lưng (Dorsalsepal) và một lá đài hợp (Synsepal) và ba cánh hoa ở vòng trong.
Lá đài lưng thường lớn, hướng thẳng lên trời và thường nổi bật với các vạch
hay chấm ở mặt trong. Đôi khi nó ôm lấy phía trên môi hình thành túi tạo thành nắp
trên che cho môi khỏi bị nước mưa chảy vào. Lá đài hợp nằm phía sau của môi
thường có một màu tối xỉn và kém nổi bật hơn so với lá đài lưng. Cả lá đài lưng và
lá đài hợp đều thường có lông tơ dày ở mặt ngoài.
Hai cánh hoa bên đều dễ dàng nhận thấy ở hai bên lá đài và thường hơi xoè
xuống dưới theo chiều ngang, chúng có thể có hình thìa, bầu dục, trứng hay tròn tuỳ
từng loài. Ví dụ P.dianthum cánh hoa hình mũi giáo hẹp, xoắn ốc hẹp, hay một số
loài mép trên của cánh hoa uốn gợn sóng rõ rệt. Cánh hoa của tất các loài đều có
lông mềm dài dễ nhận thấy ở mép.
Cánh hoa giữa thứ ba của hoa ở các loài Paphiopedilum biến dạng rõ rệt để
hình thành một môi giống như cái bao hay hình chiếc hài có vai trò như một cái bẫy
đối với các loài côn trùng có khả năng thụ phấn.
Môi ở dạng túi sâu và phồng lên, hình giầy (hài) hoặc hình vại với những
thuỳ bên ít nhiều cuộn vào bên trong, có lông ở mặt bên ngoài.
Cột nhị- nhụy ngắn, có cuống; bao phấn 2, 2 ô, đính trên chỉ nhị ngắn khối
phấn dạng bột dính; nhị lép ở đỉnh cột, không cuống hoặc có cuống ngắn, hình thận
nằm ngang, thuôn tới hình dải, phẳng, lồi hoặc gập đôi, nhẵn hoặc có lông nhú
thường là lông mịn ở mép; núm nhụy có cuống, gần như 3 thuỳ, có lông nhú
(Averyanov và cs., 2008).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
+ Quả : Quả của Lan Hài là dạng quả nang khổ, dài, có một ô ba van rộng và
Page 10
+ Dinh dưỡng: Ở giai đoạn cây sinh trưởng, ta cần phân bón cho Lan có hàm
lượng Nitơ cao, tốt nhất bón theo tỉ lệ N: P: K = 30: 10:10. Ngay khi cây đã trưởng
thành ta có thể bón theo tỉ lệ N: P: K = 10: 20: 10 để kích thích trổ hoa. Chỉ nên tưới
phân cho Lan từ 2-3 lần trong một tháng vào mùa hè và 1-2 lần trong tháng vào
mùa đông.
+ Thay chậu hoa lan: Việc thay chậu hoa lan là một việc làm cần thiết vì hoa
lan được trồng trong chậu một thời gian thường có rễ bị thối, giá thể bị mục, rêu
bám đầy chậu là môi trườmg thích hợp cho các loài sâu bệnh hoạt động. Chậu
không còn đủ đáp ứng nhu cầu về sinh trưởng và phát triển của cây vì thế việc thay
chậu phải được tiến hành định kỳ.
Thường thì nên thay theo chu kỳ 2 năm một lần, như vậy sẽ tạo điều kiện tốt
nhất cho cây lan phát triển.
1.3. Thực trạng cây lan Hài trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Sự phân bố của Lan Hài trên thế giới
Khu phân bố của Paphiopedilum kéo dài từ vùng nhiệt đới ở chân núi Himalaya
chạy ngang sang phía đông qua Trung Quốc đến Philippin, xuống đông nam đến hầu
khắp vùng Đông Nam Á và quần đảo Mã Lai, New Guines và quần đảo Solomon. Chỉ
một loài P.druryi có khu phân bố rất nhỏ và biệt lập ở nam Ấn Độ.
Paphiopedilum chắc chắn có nguồn gốc từ vùng lục địa Đông Nam Á. Sự mở
rộng khu phân bố của nó về phía nam và phía đông đến vùng Malaixia và tây nam
Thái Bình Dương là do kết quả di cư liên tục của các loài tổ tiên và sự phân ly tỏa
tròn thành nhiều loài đặc hữu địa phương và thường có khu phân bố xa nhau.
Các loài nguyên thủy nhất của chi này thuộc dưới chi Parvisepalum được tìm
thấy ở vùng lục địa Đông Nam Á, chủ yếu ở nam Trung Quốc và bắc Việt Nam (chỉ
có một loài ở nam Việt Nam). Mỗi loài đều có khu phân bố hạn chế, và do vậy dưới
chi này có khu phân bố rất tập trung. Và đây có thể là vùng nguồn gốc có khả năng
Coryopetalum phân bố tại Borneo nhưng còn mở rộng tới Philippin, Sulawesi và New
Guinea. Chúng đều là các loài đặc hữu hẹp trừP.philippinense phân bố rộng hơn tại
Philippin và phân bắc của Borneo.
Vùng tập trung nhiều loài nhất của chi Paphiopedilum là ở nam Trung Quốc
(Vân Nam, Quảng Tây) và bắc Việt Nam với 18-20 loài đã được phát hiện. Các trung
tâm đa dạng khác nhau ở bắc Sumatra và bắc Borneo, mỗi nơi có 9 loài. Tuy không
phong phú bằng các vùng kể trên, nhưng các vùng đa dạng của chi lan Hài cũng được
phát hiện tại các vùng chân núi Himalaya, bắc Mianma và Thái Lan, trung tâm của bán
đảo Mã Lai và Philippin. Trong mỗi vùng này đầu gặp từ 4 đến 6 loài lan Hài.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Tính đặc hữu hẹp là đặc điểm nổi bật của các loài thuộc chi Paphiopedilum.
Có đến 72% số các loài đã biết là đặc hữu hẹp với khu phân bố rất hạn chế như
Paphiopedilumdelenatii, P.helenae, P.henryanum, P.tranlienianum, P.vietnamense
và P.hangianum. Rất nhiều loài trong số này mới được phát hiện tại một hoặc một
vài địa điểm. Chưa đến 12% tổng số các loài của chi Paphiopedilum có khu phân bố
tương đối rộng. Đó là Paphiopedilumvillosum, P.hirsutissimun, P.appletonianum và
P.callosum (Nguyễn Thiện Tịch, 2001; Averyanov và cs., 2008).
1.3.2. Sự phân bố lan Hài ở Việt Nam.
Tại các vùng ở Việt Nam nơi có lan Hài phân bố lượng mưa lớn kéo theo độ
ẩm cao. Tuy nhiên, mưa thường thay đổi theo mùa và như vậy, thực vật ở các vùng
này thường phải trải qua một giai đoạn khô hạn. Sự xuất hiện lá dày, dai và mọng
nước là hướng thích nghi tốt để cây có thể sống sót qua đợt khô hạn định kỳ và
chúng sẽ phục hồi nhanh chóng khi mùa mưa trở lại.
Các sườn bắc, đông bắc và tây bắc của núi là nơi sống ưa thích của các loài
lan Hài. Tuy nhiên, trong rừng nguyên sinh chúng phân bố đều nhau trên các hướng
sườn. Nhưng dù sao thì lan Hài thường có điều kiện tốt nhất và hoa nở tốt hơn ở
Paphiopedilum
Mùa nở hoa
Xuân
Bargigerum
Thu
Callosum
Hạ
Concolor
Cuối Xuân, đầu Hạ
Delenatii
Xuân
Dianthum
Cuối thu
Emersonii
Xuân
Xuân
Purpuratum
Thu
tranlienianum
Thu
Vietnamense
Đông
Villosum
Đông
Affine
Xuân
Aspersum
Thu
Dalatense
Hạ
bị đe dọa nghiêm trọng; trong đó sẽ có Hài vân (P.callosum), Hài hồng
(P.delenatii), Hài tía (P.purpuratum), và cả loài Hài hương lan (P.emersonii) của
Tuyên Quang mà phân bố của loài phần lớn nay đã bị chia cắt và ngập trong làn
nước của hồ thủy điện Na Hang (Nguồn: www.vuonhoalan.net)
Tất cả các loài lan Hài của Việt Nam đều nằm trong Danh mục các loài động
vật, thực vật hoang dã quy định trong Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế
các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). Điều này có nghĩa là việc xuất
khẩu các loài lan Hài phải được thông qua Cơ quan quản lý CITES Việt Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15