nghiên cứu xác định mối liên hệ giữa vận chuyển gia súc và bệnh lở mồm long móng ở một số tỉnh miền trung việt nam - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------

-------

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỐI LIÊN HỆ GIỮA VẬN
CHUYỂN GIA SÚC VÀ BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN TRUNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------

-------

NGUYỄN THỊ NGUYỆT


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn
nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức, cơ quan, các nhà khoa học,
các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình.
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Cục Thú y và Tổ chức Nông
nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO), đã cho phép tôi tham gia
triển khai và sử dụng số liệu, kết quả của dự án “Triển khai nghiên cứu vận
chuyển gia súc ở miền Trung Việt Nam” với ký hiệu LOA FAVIE 2013/21
GCP/RAS/283/ROK..
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự hướng dẫn, giúp đỡ chân tình,
đầy trách nhiệm và hết lòng vì khoa học của TS. Huỳnh Thị Mỹ Lệ và TS.
Nguyễn Văn Long.
Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban quản lý đào tạo và
giảng viên khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giảng dạy tôi
trong suốt thời gian học tập tại Trường.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới các thầy, các cơ
quan, các nhà khoa học cùng các đồng nghiệp các tỉnh triển khai dự án đã
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình đã luôn
quan tâm, động viên giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nguyệt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


1

1.

Đặt vấn đề

1

2.

Mục tiêu của đề tài

2

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

1.1.

Giới thiệu chung

3

1.2.

Lịch sử bệnh LMLM

3


1.3.4. Sức đề kháng

13

1.4.

Một số đặc điểm cơ bản của bệnh LMLM

14

1.4.1. Loài vật mắc bệnh

14

1.4.2. Đường xâm nhập

15

1.4.3. Chất chứa mầm bệnh

15

1.4.4. Cơ chế sinh bệnh

15

1.4.5. Đường lây lan và nguồn bệnh

16

1.6.2. Kỹ thuật sinh học phân tử - kỹ thuật PCR

20

1.7.

Khái quát các loại hình vận chuyển gia súc ở Việt Nam

20

1.7.1. Vận chuyển đường bộ

20

1.7.2. Vận chuyển đường sắt

21

1.7.3. Vận chuyển đường thủy

21

1.7.4. Vận chuyển hàng hóa đường hàng không

21

Chương 2. NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1.

NGHIÊN CỨU


2.3.

Phương pháp nghiên cứu

23

2.3.1. Mô tả tình hình chăn nuôi và dịch bệnh LMLM tại các tỉnh nghiên cứu

23

2.3.2. Nghiên cứu xác định mức độ lưu hành virus LMLM trên gia súc được
vận chuyển
2.3.3. Nghiên cứu xác định các loại hình vận chuyển gia súc

24
27

2.3.4. Nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan đến loại hình vận chuyển gia súc 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iv


Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1.

30



43

3.3.2. Loại hình vận chuyển gia súc theo thời gian

46

3.3.3. Đối tượng và mục đích vận chuyển

49

3.3.

3.4.

Xác định các yếu tố liên quan đến các loại hình vận chuyển gia súc và
lưu hành virus LMLM.

49

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

52

1.

Kết luận

52


Confidence interval

ELISA

Enzyme linked immuno-sorbent assay

FAO

Food and Agriculture Organization

FMD

Foot and Mouth Disease

KHBT

Kết hợp bổ thể

LMLM

Lở mồm long móng

LPB-ELISA

(Liquid Phase Blocking-ELISA)

NN&PTNN

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn



WRLFMD

World Reference Laboratory for Foot and mouth disease

WTO

World Trade Organization

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


DANH MỤC BẢNG
STT

Tên bảng

Trang

3.1: Tổng đàn trâu, bò, lợn tại 11 tỉnh nghiên cứu từ năm 2010 – 10/2014.

30

3.2: So sánh nguy cơ có dịch LMLM tại các tỉnh nghiên cứu giai

34

3.3: Tổng hợp số lượng gia súc bị bệnh, chết vì bệnh LMLM và buộc

DANH MỤC HÌNH
STT

Tên hình

Trang

3.1:

So sánh tổng đàn trâu của 11 tỉnh nghiên cứu.

32

3.2:

So sánh tổng đàn bò của 11 tỉnh nghiên cứu.

32

3.3:

So sánh tổng đàn lợn của 11 tỉnh nghiên cứu.

33

3.4:

Bản đồ thể hiện mức độ dịch bệnh LMLM (tổng số gia súc bị

35


3.10: Phân bố theo thời gian về trâu được vận chuyển tại các tỉnh

46
47

3.11:

Phân bố theo thời gian về bò được vận chuyển tại các tỉnh nghiên cứu. 47

3.12:

Phân bố theo thời gian về lợn được vận chuyển tại các tỉnh nghiên cứu. 48

3.13: Đường cong ROC (receiver operating characteristic) thể hiện khả
năng dự đoán của mô hồi quy logic đa tầng nhiều biến. Chỉ số phía
dưới đường cong ROC là 0.793 cho thấy mô có thể phân biệt tốt về
khả năng gia súc được vận chuyển ra khỏi xã.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

51

Page viii


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Bệnh lở mồm long móng (Foot-and-mouth disease) là bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm của động vật thuộc loài móng guốc chẵn. Bệnh xuất hiện

chăn nuôi bền vững đem lại hiệu quả kinh tế, có đủ điều kiện tham gia thương
mại quốc tế, việc an toàn bệnh LMLM gia súc là một vấn đề cấp thiết đối với
tất cả các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trong thời gian gần đây, tình hình diễn biến của dịch bệnh LMLM xảy
ra ở các nước trên thế giới ngày càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát. Ở
Việt Nam, từ nhiều năm qua dịch bệnh LMLM xuất hiện và tái xuất hiện
thường xuyên gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn đối với ngành chăn nuôi. Khoảng
26% xã, phường của 62/63 tỉnh, thành có ít nhất một báo cáo về ổ dịch
LMLM trong giai đoạn 2006 – 2012 (Nguyễn Thu Thủy và cộng sự, 2013).
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của ngành thú y nước ta phấn đấu
thực hiện là: khống chế một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở gia súc, mà
đặc biệt là bệnh LMLM.
Từ những phân tích dịch tễ học mô tả (Nguyễn Thu Thủy và cộng sự,
2013) và kết quả điều tra ổ dịch (Cục Thú y, 2013) cho thấy, yếu tố vận
chuyển gia súc có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát tán lây lan dịch
bệnh LMLM, nhất là tại một số tỉnh miền Trung, nơi có lượng gia súc được
vận chuyển trong nước và từ nước ngoài vào Việt Nam rất lớn. Vì vậy, để có
cơ sở phân tích, đưa ra những nhận định chính xác nhằm có các biện pháp
phòng chống bệnh LMLM phù hợp và hiệu quả hơn chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu xác định mối liên hệ giữa vận chuyển gia
súc và bệnh LMLM ở một số tỉnh miền Trung Việt Nam”.
2. Mục tiêu của đề tài
Xác định các yếu tố có liên quan đến các loại hình vận chuyển gia súc
và lưu hành virus LMLM, từ đó đề xuất biện pháp phòng bệnh có hiệu quả.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2





Năm 1951 có luồng dịch phát sinh từ Tây Đức lan sang Hà Lan, Bỉ,
Luxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Ba Lan và kéo
dài đến năm 1953, 1954. Ở Châu Á: Bệnh phát ra ở Ấn Độ (1929, 1952…),
Myanmar (1948), Thái Lan (1952), Indonesia (1952), Trung Quốc (1951),
Campuchia (1931 - 1946, 1952) (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978).
Diễn biến dịch LMLM trong những năm 60 thế kỉ 20 rất trầm trọng, trung
bình mỗi năm có 4000 ổ dịch. Đến những năm 70, bệnh có xu hướng giảm ở
Châu Âu, Châu Mỹ, nhưng vẫn phổ biến ở Châu Phi (Mauritania, Senegal,
Liberia, Tanzania, Nigeria…) và Châu Á (Indonesia, Malaysia, Thái Lan…).

1.2.2. Tình hình dịch bệnh LMLM trên thế giới
Vào những năm 80, dịch LMLM có mặt ở nhiều châu lục. Theo thông
báo của OIE và FAO trong 5 năm (1981 - 1985) dịch đã xuất hiện ở 80 nước.
Ở Châu Âu có 804 ổ dịch tại 12 quốc gia do virus thuộc type O, A và C gây
ra. Năm 1985, dịch LMLM do virus type Asia1 xảy ra ở Hi Lạp. Ở Châu Á
dịch đã có mặt ở 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do virus type Asia1. Ở
Châu Phi dịch gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Ethiopia (1984
- 1985) chủ yếu do type C gây ra.
Năm 1989 dịch xảy ra ở 53 nước thuộc 4 châu lục: Á, Âu, Phi và Nam
Mỹ. Theo OIE trong những năm 1990 bệnh LMLM đã được cải thiện rõ rệt ở
một số khu vực trên thế giới, nổi bật là Châu Âu, một số nước Đông Nam
Châu Á và Bắc Mỹ ít xảy ra dịch.
Ở Châu Âu, bệnh LMLM gần như đã được thanh toán, chỉ có một số
nước báo cáo có dịch trong những năm 1990 là Ý, Bulgari, Nga và Hy Lạp.
Từ 1996 - 1998 một chủng mới thuộc type A của virus LMLM được
phát hiện ở Iran sau đó lan sang Thổ Nhĩ Kỳ. Theo báo cáo của WRLFMD ở
Pirbright, trong năm 1998 và 6 tháng đầu năm 1999, nhiều nước thuộc khối
cộng đồng Châu Âu đã thanh toán được bệnh.

virus type O từ Ả Rập Xêút, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran; type A được phân lập từ
Thổ Nhĩ Kỳ, Irắc và Iran; type Asia 1 từ Iran. Tháng 02/2002, 21 ổ dịch
LMLM type O đã xuất hiện tại miền Tây Mông Cổ. Tháng 05 - 06/2002 xuất
hiện 16 ổ dịch LMLM lợn type O tại Hàn Quốc (Phan Quang Minh, 2003).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


Có 48 nước báo cáo dịch LMLM trong năm 2004 với các type virus
gây bệnh khác nhau theo vùng địa lý.
Từ 01 - 11/2005, bệnh LMLM đã xảy ra ở Brazil (type O),
Colombia (type A), Nga (type Asia 1), Trung Quốc (type Asia 1), Hồng
Kông (type Asia 1), Mông Cổ (type Asia 1), ở Botswana (type SAT 2), ở
Congo (SAT 1, 2, 3 và A).
Trong năm 2005 và đầu năm 2006, các nước trước đây có các vùng
được công nhận là sạch bệnh LMLM có hoặc không áp dụng biện pháp tiêm
phòng như Brazil, Argentina và Bostwana thì nay lại báo cáo xuất hiện các ổ
dịch mới (Tô Long Thành và cộng sự, 2006).

1.2.3. Tình hình dịch bệnh LMLM ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, ổ dịch LMLM đầu tiên được phát hiện ở Nha Trang năm
1898, sau đó bệnh lan rộng ra cả 3 miền Bắc, Trung, Nam (Nguyễn Vĩnh
Phước, 1978).
Trong 2 năm 1921 - 1922 có 690 ổ dịch nổ ra ở các tỉnh phía Bắc làm
13.018 trâu, bò và lợn mắc bệnh, trong đó 446 con chết.
Ở Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, dịch đã gây nhiều thiệt hại. Năm 1921 1922, có 213 ổ dịch LMLM, làm chết 52 bệnh súc.
Năm 1937 - 1940, dịch nổ ra liên tiếp tại Trung Bộ và Nam Bộ, một
luồng dịch lan gần khắp tỉnh Quảng Ngãi.
Năm 1948 - 1949, dịch xảy ra ở Lai Hòa, Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh

làm 100 trâu, bò bị ốm, không cày kéo được.
Năm 1992, dịch phát tại Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh và những
năm sau đó, bệnh có mặt ở cả 3 miền đất nước.
Theo Trần Hữu Cổn (1996) năm 1993, dịch đã lan rộng ra trên địa bàn
122 xã của 18 huyện thuộc 6 tỉnh bao gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu,
với tổng số 32.260 trâu, bò và 1.612 lợn bị bệnh.
Năm 1995, bệnh LMLM đã xảy ra liên tiếp trên địa bàn 107 huyện của
26 tỉnh làm cho 236.000 trâu, bò và 11.000 lợn bị bệnh (Lê Minh Chí, 2000).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


Năm 1999, trong lúc vẫn tồn tại một số ổ dịch cũ ở các tỉnh miền Trung
và miền Nam thì đợt dịch mới lây lan từ Trung Quốc đã tấn công các tỉnh giáp
biên. Cao Bằng là tỉnh đầu tiên bị dịch (tháng 06/1999) và sau đó dịch lây lan ra
nhiều tỉnh khác ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Tính đến ngày 10/03/2000, đã có
58 tỉnh có dịch, làm 297.808 trâu, bò và 36.530 lợn bị bệnh. Đặc biệt lần này
dịch phát ra ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng sau gần 40 năm an toàn dịch bệnh,
gây ảnh hưởng lớn cho vùng nguyên liệu xuất khẩu (lê Minh Chí, 2000).
Năm 2001 bệnh LMLM chỉ xảy ra ở 16 tỉnh, thành phố với 3.976 trâu,
bò mắc bệnh.
Năm 2002 bệnh LMLM xảy ra ở 26 tỉnh, thành phố với 10.287 trâu, bò
mắc bệnh.
Năm 2003 bệnh LMLM xảy ra ở 38 tỉnh, thành phố; trong đó 28 tỉnh có
dịch LMLM trâu, bò, 28 tỉnh có dịch ở lợn (có 18 tỉnh dịch xảy ra ở cả trâu bò
và lợn), với tổng số 20.303 trâu, bò, 1.178 dê và 3.533 lợn mắc bệnh. Các tỉnh
có số trâu, bò mắc bệnh nhiều như: Quảng Trị, Phú Yên, Đắc Lắc, Khánh

27 tỉnh, thành phố với tổng số 7.861 con trâu, bò mắc bệnh, 432 con phải tiêu
hủy; trên lợn, dịch xảy ra ở 35 xã, phường thuộc 23 huyện, quận của 16 tỉnh,
thành phố làm 499 con lợn mắc bệnh LMLM, 429 con phải tiêu hủy.
Tháng 09/2009, dịch xảy ra trên quy mô rộng, trong tháng xuất hiện
trên 90 ổ dịch, sau đó số ổ dịch giảm dần.
Về type virus gây bệnh: hầu hết các ổ dịch LMLM xảy ra trong năm
2009 là do type O; type A xuất hiện ở các tỉnh Hà Giang, Sơn La, Bắc Giang,
Kon Tum và Long An (Bộ NN&PTNN, 2010).
Năm 2010, dịch đã xảy ra ở 290 xã thuộc 99 huyện của 26 tỉnh, thành
phố là Bắc Ninh, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên
Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc
Lắc, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng với
tổng số 16.161 con trâu, bò mắc bệnh, 401 con trâu bò tiêu hủy, trong đó có
39 xã thuộc 30 huyện của 14 tỉnh, thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM, với
tổng số 1.670 con lợn mắc bệnh, 848 con phải tiêu hủy.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


Hầu hết các ổ dịch LMLM năm 2010 là type O .
Năm 2011 dịch xảy ra ở 1.809 xã, phường thuộc 239 huyện của 35
tỉnh là Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn,
Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú
Thọ, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm
Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An,Tiền Giang,
Vĩnh Long, Sóc Trăng. Tổng số gia súc mắc bệnh 140.979 con trâu bò lợn, dê
trong đó có 74.256 con trâu, 22.965 con bò và 42.134 con lợn; 1.624 con dê.

gia súc không rõ nguồn gốc xuất xứ, được đưa từ vùng có ổ dịch cũ (typ O,
A) vào địa bàn (Hà Tĩnh, Nghệ An, Sơn La,..) hoặc được vận chuyển bất hợp
pháp qua biên giới vào trong nước tiêu thụ (Cao Bằng); trong khi đó việc tiêm
phòng vắc xin LMLM cho đàn gia súc trên địa bàn chưa đảm bảo (tiêm không
đạt tỷ lệ) tạo thuận lợi cho dịch lây lan.
1.3. Virus gây bệnh Lở mồm long móng

1.3.1. Hình thái và cấu trúc của virus LMLM
Virus LMLM thuộc họ Picornavirideae, giống Apthovirus (Nguyễn
Vĩnh Phước, 1978).
Virus LMLM là loại virus nhỏ nhất, có thể qua được các máy lọc
Berkefeld, Chamberland và màng lọc Seitz (Nguyễn Như Thanh và cộng sự,
2001). Dưới kính hiển vi điện tử, virus thường có hình cầu, đường kính 20 –
28 nm, gồm 20 mặt đối xứng, 30 cạnh và 12 đỉnh.
Hạt virus chứa 30% acid nucleic, đó là một đoạn ARN chuỗi đơn, hợp
thành bởi 8000 bazơ có hệ số sa lắng là 35S, không có tính sinh kháng thể và
đặc tính kháng nguyên nhưng có vai trò trong quá trình gây nhiễm
(Hyattsville M.D, 1991). Vỏ capxit của virus có hơn 60 đơn vị (capsome).
Mỗi capsome có 4 loại protein cấu trúc giống nhau là VP1, VP2, VP3 và VP4.
VP1, VP2 và VP3 tạo nên một bề mặt của khối 20 mặt đối xứng còn VP4 là
protein ở bên trong capxit, kết dính ARN virus với mặt trong của capxit. VP1
ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định virus trên những tế bào, đóng vai trò

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


quan trọng nhất trong việc gây bệnh, đồng thời là loại kháng nguyên chính tạo
ra kháng thể chống lại bệnh LMLM.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


Tại Việt Nam căn cứ vào kết quả phân tích gen của một số virus
LMLM được Cục Thú y gửi sang Phòng thí nghiệm tham chiếu LMLM tại
Pirbright (Anh) cho thấy : Virus LMLM serotyp O hiện có 3 topotyp có
nguồn gốc từ Đông Nam Á đang lưu hành trong đó : topotyp SEA gây bệnh
cho nhiều loài có thể hiện diện ở Việt Nam từ nhiều năm nay ; topotyp Cathay
có nguồn gốc từ Hồng Kông chỉ gây bệnh cho lợn, lần đầu tiên phát hiện tại
Đồng Tháp (1995); topotyp ME-SA có nguồn gốc từ Trung Đông và Nam Á
gây bệnh cho nhiều loài, lần đầu tiên phát hiện tại Quảng Nam (1999). Virus
LMLM serotyp A đang lưu hành ở phía Nam thuộc topotyp Asia, được phát
hiện đầu tiên tại Ninh Thuận và Bình Định (09/2004). Serotyp Asia1 phát
hiện đầu tiên vào 10/2005, có nguồn gốc từ Myanmar (Tô Long Thành và
cộng sự, 2006).

1.3.3. Đặc tính nuôi cấy của virus
Virus LMLM có tính hướng thượng bì, do đó thường nuôi cấy virus trên :
- Tổ chức da sống (thượng bì), như tổ chức da của thai lợn, bò,
chuột con.
- Thượng bì lưỡi bò trưởng thành (tổ chức thích hợp nhất), sau nhiều lần
tiếp đời, độc lực của virus vẫn giữ được đối với bò và với động vật thí nghiệm.
- Môi trường tế bào tốt nhất là lấy từ tuyến yên của bò hoặc lợn, thận bê
hoặc cừu non, hoặc dòng tế bào có độ mẫn cảm.
Theo Geoffrey. W., 1989, WRLFMD trong năm 1973 đã nuôi cấy 140
chủng virus LMLM, gần 120 chủng này đã sinh trưởng phù hợp trong môi
trường BHK 21 (Baby Hamster Kidney). Hiện nay môi trường BHK 21 được
áp dụng thường xuyên nhất trong việc nuôi cấy phân lập virus LMLM.

Trâu, bò mắc bệnh nhiều nhất rồi đến lợn, cừu, dê. Động vật non mẫn
cảm hơn động vật trưởng thành.
Loài ăn thịt và người ít mắc hơn và thường mắc ở thể nhẹ.
Loài động vật một móng như: ngựa, la, lừa, gia cầm, chim không mắc
bệnh, nhưng có thể gây bệnh cho vịt được.
Voi, lạc đà, sơn dương, nhím, linh trưởng (khỉ) cũng mắc bệnh. Các
loài bò rừng (Bison bonasus), trâu rừng (yak), lợn rừng, lạc đà, nhiều loài sơn
dương, nhiều loài nhai lại hoang dã (nai, hoẵng...) cảm thụ bệnh và có thể trở
thành nguồn bệnh cho vật nuôi.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


- Trong phòng thí nghiệm
Có thể gây bệnh cho bê, chuột nhắt trắng, chuột lang, thỏ...

1.4.2. Đường xâm nhập
- Trong thiên nhiên: Có thể xâm nhập trực tiếp qua nước bọt hoặc gián
tiếp qua không khí, thức ăn, nước uống, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi...
Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa. Ngoài ra, có thể lây qua đường hô hấp,
sinh dục, do động vật chân đốt truyền.
- Trong thí nghiệm: Đường nội bì có hiệu quả nhất. Ở bò và lợn thường
hay tiêm vào nội bì niêm mạc lưỡi, ở chuột lang tiêm vào nội bì gan bàn chân.
Ngoài ra còn có những đường tiêm khác như: tiêm bắp, dưới da, tĩnh mạch…
nhưng lại cho kết quả không chắc chắn và đòi hỏi liều virus cao hơn.

1.4.3. Chất chứa mầm bệnh
Virus có nhiều trong các bệnh tích đặc hiệu các mụn nước, dịch mụn
nước, màng bọc mụn trên con vật mắc bệnh. Độc lực của virus xuất hiện sớm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status