Nghiên cứu tình hình viêm âm đạo và kết quả điều trị ở phụ nữ có chồng từ 18 – 49 tuổi tại huyện Chợ Mới, An Giang năm 2013 - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới, viêm nhiễm sinh dục luôn là vấn đề quan trọng và đáng
quan tâm đối với sức khỏe của người phụ nữ vì nó là nguyên nhân gây ra
nhiều rối loạn sinh lý và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Viêm nhiễm
đường sinh dục nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể gây
ra những hậu quả nghiêm trọng như viêm tiểu khung, thai ngoài tử cung, sẩy
thai, thai chết lưu, vô sinh và thậm chí là ung tử cổ tử cung.
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới mà cụ thể là viêm âm đạo gây ra nhiều
hậu quả nặng nề hơn bất cứ bệnh phụ khoa nào [48]. Cùng với những vấn đề
về thể chất và tình cảm liên quan đến viêm âm đạo, sự tổn thất về kinh tế là
vô cùng to lớn [60].
Ở Việt Nam, tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục cũng rất cao đặc biệt là
những dạng viêm thông thường như viêm âm hộ, viêm âm đạo, viêm cổ tử
cung. Tùy từng tác giả, từng vùng miền, trong các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
viêm nhiễm đường sinh dục dưới chiếm tỷ lệ từ 42 - 64%. Là một trong
những bệnh phổ biến và là lý do bệnh nhân đến khám phụ khoa nhiều nhất,
80% người đến khám bệnh phụ khoa là viêm nhiễm đường sinh dục mà viêm
âm đạo là bệnh hay gặp hơn cả, chiếm 90% [34].
Huyện Chợ Mới là huyện vùng sông nước, chủ yếu sống nghề nông tập
quán về sinh hoạt có những nét đặc thù riêng. Từ năm 2001, chương trình
quốc gia về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, hàng năm có 2 đợt truyền thông
lồng ghép với chăm sóc sức khỏe sinh sản tổ chức khám và điều trị bệnh phụ
khoa thông thường trên diện rộng toàn huyện đã và đang làm thay đổi kiến
thức thái độ hành vi về bệnh lý phụ khoa và khám chữa bệnh phụ khoa.
Theo kế hoạch 65/KH-UBND của Ủy ban Nhân Dân huyện Chợ Mới,
ngày 17/10/2012, Kế hoạch thực hiện kế hoạch hành động tỉnh An Giang về


2

Tùy nguyên nhân gây bệnh và cơ quan mang bệnh mà viêm sinh dục nữ có thể
thể hiện dưới nhiều bệnh cảnh khác nhau.
Nếu phân chia theo cơ quan bị bệnh, viêm sinh dục nữ được phân thành
viêm sinh dục trên và viêm sinh dục dưới. Nếu tính theo tình huống mắc bệnh,
người ta phân biệt viêm sinh dục do giao hợp và viêm sinh dục không do giao
hợp. Ngoài ra, tùy theo tuổi tác, có viêm sinh dục ở trẻ em, viêm sinh dục ở
tuổi dậy thì, viêm sinh dục trong tuổi sinh đẻ và viêm sinh dục ở tuổi già .
Nhóm từ “viêm sinh dục dưới” để chỉ tình trạng viêm nhiễm các cơ quan
sinh dục nằm ngoài phúc mạc gồm: âm hộ, âm đạo, cổ tử cung. Trong nghiên
cứu nầy chỉ đề cập đến viêm âm đạo.
Viêm âm đạo là tình trạng viêm của niêm mạc âm đạo, thông thường
biểu biện bởi tình trạng viêm đỏ, kích ứng, ngứa và tăng tiết dịch âm đạo;
ngoài ra có thể có các triệu chứng ở vùng liên quan như âm hộ, vùng tầng
sinh môn [10].


4

1.2. TÌNH HÌNH VIÊM ÂM ĐẠO
Theo Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có khoảng 330-390 triệu phụ nữ
mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới (viêm âm đạo, cổ tử cung).
Ở Mỹ, hàng năm có khoảng 10 triệu phụ nữ đến khám vì viêm âm đạo.
Một số nước đưa ra tỷ lệ viêm âm đạo khá cao dao động từ 33 đến 65%.
Phụ nữ Việt Nam, trong độ tuổi sinh đẻ có tỷ lệ viêm âm đạo vào loại
cao so với các nước trên thế giới và khu vực.
Viêm âm đạo do vi trùng chiếm 40 - 50% các trường hợp viêm âm đạo.
Tỉ lệ viêm âm đạo do vi trùng thật khó xác định nhưng nhiều nghiên cứu cho
thấy khoảng 10 - 41% phụ nữ đã bị viêm âm đạo do vi trùng ít nhất một lần
gặp trong đời, viêm âm hộ, âm đạo gặp nhiều nhất ở những phụ nữ có nhiều
bạn tình và thấp nhất ở phụ nữ chưa quan hệ tình dục. Bệnh này không được

Không giải quyết tận gốc: Các dung dịch vệ sinh hằng ngày chỉ mang
đến tác dụng “làm sạch” vùng kín, tác dụng diệt khuẩn thấp, không giải quyết
được tận gốc “ổ” viêm nhiễm phát sinh từ bên trong âm đạo.
Hạn chế của thuốc điều trị: Các loại thuốc kháng sinh đường uống hay
đặt điều trị theo nguyên nhân gây bệnh không đúng liều, không đủ thời gian,
hoặc không điều trị cả 2, hoặc điều trị lạm dụng kháng sinh, dùng kéo dài khả
năng diệt khuẩn mạnh có thể diệt hệ vi khuẩn có ích, làm mất cân bằng sinh lý
âm đạo.
Yếu tố tâm lý: Do ngại tốn kém, mất thời gian, nhất là tâm lý e ngại của
các phụ nữ trẻ, nên không khám ngay khi mới bắt đầu viêm nhiễm làm cho
các dấu hiệu viêm nhiễm trở nên trầm trọng hơn …


6

1.3. NGUYÊN NHÂN GÂY VIÊM ÂM ĐẠO
1.3.1. Sinh lý bệnh
∗ Tiết dịch sinh lý
Trong trạng thái bình thường, tiết dịch sinh lý lệ thuộc nội tiết của cơ thể,
có hai nguồn gốc:
-Bong biểu mô âm đạo:
Bình thường môi trường âm đạo là toan (pH từ 3,8 đến 4,6) có tác dụng
bảo vệ khỏi bị nhiễm khuẩn trừ nấm. Độ toan âm đạo là do glycogen tích lũy
trong tế bào biểu mô chuyển đổi thành acid lactic khi có trực khuẩn
Doderlein. Trữ lượng glycogen ở biểu mô phụ thuộc vào estrogen. Biểu mô
âm đạo bong nhiều làm cho khí hư giống như sữa, lượng ít, đặc, đục, bao gồm
các tế bào bề mặt không có bạch cầu đa nhân[4] [34],.
-Chất nhầy cổ tử cung:
Biểu mô trụ của ống cổ tử cung chế tiết ra chất nhầy trong, tương tự lòng
trắng trứng, kết tinh thành hình lá dương xỉ. Lượng chất nhầy tăng lên từ ngày

∗ Vật chủ
Bình thường âm đạo dễ dàng tự vệ chống lại vi khuẩn bằng các cơ chế
như sau:
Biểu mô niêm mạc âm đạo chứa nhiều glycogen. Các tế bào biểu mô âm
đạo bẻ gãy glycogen thành các monosaccharid rồi sau đó được chuyển đổi
thành acid lactic bởi bản thân tế bào và lactobaccilli [43] (trực khuẩn
Doderlein) duy trì pH âm đạo dưới 5,5 không thuận lợi cho vi khuẩn phát
triển.
Mặt khác ở niêm mạc âm đạo có dịch thấm từ mạng tĩnh mạch, bạch
mạch có đặc điểm kháng vi khuẩn [34].


Vi khuẩn
Hệ vi sinh vật ở đường sinh dục của phụ nữ rất phức tạp. Ở phụ nữ khỏe

mạnh, có khoảng 109 tế bào vi khuẩn trong 1 gram dịch tiết âm đạo. Ở đường


8

sinh dục dưới, khi phân lập, người ta tìm thấy sự đa dạng của các vi khuẩn ưa
khí và kỵ khí, nấm, virus và ký sinh trùng.
Những yếu tố tác động lên những vi sinh vật nầy bao gồm các giai đoạn
của vòng kinh, hoạt động tình dục, sinh đẻ, phẫu thuật, điều trị kháng sinh và
dị vật. Đường sinh dục trên thì thường vô khuẩn, nhưng vi khuẩn ở đường
sinh dục dưới thường đi lên buồng tử cung, hai vòi trứng hoặc tiểu khung do
kinh nguyệt, dụng cụ, phẫu thuật, dị vật…
∗ Những sự thay đổi trong hệ vi khuẩn âm đạo
Có sự thay đổi rất lớn về hệ vi khuẩn âm đạo giữa các nhóm phụ nữ khác
nhau và trên cùng một phụ nữ ở những thời gian khác nhau.

∗ Đặc điểm vi sinh vật
Nấm Candida albicans gây 85% đến 90% viêm âm đạo do nấm. Các
chủng khác của Candida như C.glabrata và C.tropicalis có thể gây những
triệu chứng viêm âm hộ, âm đạo và có khuynh hướng kháng thuốc [59].
Nấm candida thuộc lớp Adelomycetes, là loại nấm hạt men với các tế
bào hạt men nảy chồi có kích thước 3-5 mm [3].
Candida là một loại nấm biến hình mà bình thường tồn tại dưới dạng
men nhưng, người ta thấy, trong những điều kiện thiếu oxy chúng biến thành
dạng bào tử [79].
Những vùng da và niêm mạc lan rộng bị ngứa và viêm thường liên quan
với sự xâm nhập vi thể của nấm với những tế bào biểu mô đường sinh dục
dưới. Điều đó gợi ý một độc tố hoặc enzym ngoại bào có thể đóng vai trò
trong sinh bệnh học của bệnh nầy. Những bệnh nhân bị nấm âm đạo mà có
triệu chứng thường có sự tập trung rất cao của những vi sinh vật nầy
(>104/ml) so với những bệnh nhân không có triệu chứng (
3- 6 mcg, có chồi hoặc không có chồi, khi nẩy chồi tạo hình số 8. Ngoài tế
bào hạt men còn có cả sợi tơ nấm. Phải có ít nhất 3 bào tử nấm trong một vi
trường.
Soi tươi với dung dịch KOH 5%: lấy bệnh phẩm lên lam kính, nhỏ
dung dịch KOH 5%. Thành tế bào Candida kháng lại chất kiềm. Khi nhỏ
dung dịch KOH vào, tất cả các tế bào khác sẽ bị phá hủy, chỉ còn lại Candida.
Nhuộm Gram: xác định nấm khi thấy có từ 3 - 5 bào tử nấm ở dạng nảy
chồi trên 1 vi trường, bắt màu Gram dương. Phương pháp nầy tuy phức tạp
hơn soi tươi nhưng dễ phát hiện nấm hơn.
Nuôi cấy: Dùng tăm bông lấy bệnh phẩm nuôi cấy trong môi trường
thạch Sabouraud trong vài giờ và ủ ấm 2 ngày ở nhiệt độ 37 oC, sẽ mọc lên
những khuẩn lạc màu trắng đục như kem. Để xác định chủng Candida nào,
còn phải làm thêm một số thử nghiệm như cấy trong huyết thanh để xác đinh
C.albicans; lên men đường, hấp thu đường để xác định các chủng nấm
Candida khác [13], [18], [67].


12

1.3.3.2. Viêm âm đạo do Trichomonas
∗ Đặc điểm vi sinh vật
Trichomonas là sinh vật đơn bào có roi hình ô van và hơi lớn hơn tế bào
bạch cầu một chút. Con người là vật chủ duy nhất của Trichomonas. Sinh vật
nầy ưa thích môi trường mà độ pH = 5 hoặc hơi lớn hơn một chút [67].
Trichomonas là một sinh vật kỵ khí có khả năng tạo ra hydro để kết
hợp với oxy và tạo ra một môi trường yếm khí [59].
Ở phụ nữ, sinh vật nầy chỉ gây nhiễm chủ yếu âm đạo và cổ tử cung
nhưng niệu đạo và bàng quang có thể cũng liên quan [67].
∗ Triệu chứng lâm sàng
Âm hộ đỏ rực với các chấm đỏ, thậm chí xung huyết.

loại vi khuẩn sản xuất ra hydrogen peroxide (oxy già - H 2O2), dẫn đến tình
trạng phát triển quá mức của những vi khuẩn yếm khí, bao gồm Gardnerella
vaginalis (G. vaginalis), Mobiluncus (là những trực khuẩn Gram âm nhỏ và
gấp khúc) và một số loài Bacteroides [59], [67].
Vi khuẩn yếm khí có thể tìm thấy với tỷ lệ ít hơn 1% của vi khuẩn chí âm
đạo ở phụ nữ bình thường. ở phụ nữ bị BV, những vi khuẩn yếm khí gấp 100
đến 1000 lần ở phụ nữ bình thường. Lactobacilli thường không có mặt [59].
Những vi khuẩn kỵ khí nầy sản xuất ra các enzym phân hủy protein
thành các acid amin như putrescine, cadaverine và trimethylamine. Trong môi
trường kiềm, các acid amin nầy sẽ biến đổi thành dạng hơi và tạo nên mùi cá
ươn [56].
G.vaginalis được tìm thấy ở âm đạo của 40-50% bệnh nhân không có BV
và cũng tìm thấy ở những bệnh nhân đã được chữa khỏi BV. Thuật ngữ
Bacterial vaginosis được dùng để mô tả tình trạng tăng khí hư âm đạo mà
không có các triệu chứng viêm lâm sàng và một sự vắng mặt dễ thấy của bạch
cầu [64].


14

Bacterial vaginosis là một hình thái viêm âm đạo đã được nghiên cứu rất
nhiều. Nhưng có một hình thái viêm âm đạo khác cũng do vi khuẩn gây ra
nhưng có nhiều đặc điểm khác với BV.
Trong cuốn Sản Phụ khoa cơ bản (Mỹ 1993), Gant và Cunningham
phân biệt hai loại bệnh là Bacterial vaginosis và Bacterial vaginitis. Bacterial
vaginitis là một bệnh nhiễm khuẩn âm đạo thực sự thường đi kèm với viêm
đường tiết niệu hoặc không. Tính chất khí hư thường không đặc hiệu và
thường có mùi hôi. Thăm trong bệnh nhân thường đau. Chẩn đoán vi
sinh vật thường tương tự với BV nhưng có rất nhiều tế bào bạch cầu cùng
với Clue cells và vi khuẩn. Các vi khuẩn thường là dạng vi khuẩn đường ruột

coli, các vi khuẩn đường ruột khác và Mycoplasma spp. Mà vai trò sinh
bệnh còn chưa rõ. Chưa có phương pháp điều trị chuẩn nào cho loại viêm âm
đạo nầy [72].
Nghiên cứu của Peterson và cs [72] cũng không tìm thấy sự có mặt của
bạch cầu trong âm đạo của những bệnh nhân thuộc nhóm B.vaginosis.
∗ Triệu chứng lâm sàng
Đa số bệnh nhân phàn nàn ra khí hư nhiều, có thể kèm theo mùi khó
chịu. Khi khí hư có mùi khó chịu thường là sau giao hợp [59].
Khoảng 30- 50% phụ nữ mắc B. vaginosis không có các triệu chứng như
trên [53],[71].
Khám âm đạo: khí hư thường không đặc hiệu như khí hư được mô tả
trong bệnh gây ra bởi lậu, trichomonas hay nấm C. albicans mà nó thường
loãng, màu xám và không có đặc tính của nhiễm trùng [59].
∗ Cận lâm sàng
-pH dịch âm đạo
Độ pH âm đạo có thể được xác định bằng cách nhúng giấy quỳ vào trong
dịch tiết âm đạo hay áp giấy quỳ vào thành bên âm đạo. So sánh màu trên
giấy quỳ với bảng màu chuẩn. pH âm đạo bình thường từ 3,8 đến 4,6.


16

pH > 4,5 được tìm thấy ở 80-90% bệnh nhân bị B. vaginosis [45],
[46], [60]. pH âm đạo tiếp tục cao > 4,7 ở 59,6% bệnh nhân từ 4}7 ngày sau
điều trị và 26,3% bệnh nhân sau 1 tháng đã hết BV [61]. Vì vậy, độ pH AĐ có
giá trị tiên lượng tái phát hay không vẫn còn là một câu hỏi.
-Test sniff hay Whiff test: Nhỏ vài giọt KOH vào tiêu bản khí hư thấy bốc ra
mùi cá ươn. Test sniff dương tính gợi ý B. vaginosis [62].
-Clue cells: Nhỏ 1-2 giọt nước muối sinh lý vào dịch âm đạo, hòa tan rồi phết
lên 1 lam kính và đậy lamen. Hoặc dịch âm đạo được cho vào tube có 2ml

không có bào tử (Hình thái lactobacilli).
Bacterial vaginosis: vắng mặt hoặc giảm hình thái lactobacilli (1+) so
sánh với các vi khuẩn khác đặc biệt là trực khuẩn gram âm hoặc trực khuẩn
gram biến đổi (hình thái Gardnerella vaginalis).
Không định nghĩa được: Số lượng vi khuẩn ít (1+) hoặc vi khuẩn bao
gồm một hỗn hợp các hình thái khác nhau và không có loại nào chiếm ưu thế.
Nấm (2+) hoặc nhiều hơn cũng được bao gồm trong nhóm nầy [80].
Nugent đưa ra những tiêu chuẩn chẩn đoán dựa trên thang điểm từ 0 đến
10, trong đó điểm từ 0 đến 3 là bình thường, điểm 7 trở lên là BV và điểm từ
4 đến 6 được cho là trung gian [68].
Các hình thái VK được tính điểm như là số lượng trung bình được nhìn
thấy trên một vi trường. Tổng số điểm = Lactobacilli + G. vaginalis + trực
khuẩn gấp khúc.
0: không có hình thái vi khuẩn hiện diện.
+1: < 1 hình thái vi khuẩn hiện diện
+2: 1-4 hình thái vi khuẩn hiện diện
+3: 5-30 vi khuẩn hiện diện
+4: > 30 vi khuẩn hiện diện [68].
Có khá nhiều bệnh nhân được chẩn đoán ở trong hình thái trung gian
theo thang điểm trên. Những bệnh nhân nầy có thể tiến triển thành BV hoặc
khỏi tự phát. Thực sự yếu tố nào khởi động quá trình nầy còn chưa được
biết[74].
Sự hữu ích của phương pháp nhuộm gram được đánh giá bởi rất nhiều
tác giả. Đây là một phương pháp bổ sung có giá trị cho chẩn đoán lâm sàng.
Gram stain là phương pháp hữu ích để loại trừ BV bởi vì nó có giá
trị chẩn đoán âm tính cao [64]. Một số tác giả cho rằng phương pháp nhuộm


18



-Khí hư loãng trắng đục, hoặc vàng [49], dính vào thành âm đạo.
-pH dịch âm đạo > 4,5.
-Tế bào Clue-cells > 20% tế bào biểu mô âm đạo.
-Test sniff (test amin) dương tính
1.4. ĐIỀU TRỊ VIÊM ÂM ĐẠO
1.4.1. Điều trị viêm âm đạo do nấm
∗ Điều trị mới
Điều trị trước tiên là tại chỗ. Luôn luôn sử dụng thuốc đặt âm đạo mỡ bôi
da vùng âm hộ, tầng sinh môn và mỡ bôi lên dương vật bao quy đầu cho
người chồng [75].
Các thuốc thuộc nhóm Imidazol có hiệu quả: Gynopevaryl (Econazol)
hoặc Miconazol, đặt âm đạo 3 ngày.
Phụ nữ có thai, điều trị tại chỗ là chủ yếu. Đặt âm đạo mỗi ngày 1 viên
Nystatin, Miconazol, Clotrimazol trong 15 ngày [34].
∗ Điều trị theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh
sản-Bộ Y tế năm 2009
Fluconazole 150mg uống 1 viên duy nhất.
∗ Điều trị tái phát
Tái nhiễm: xảy ra sau điều trị vài tháng hoặc là mới bị tái nhiễm hoặc là
vẫn còn yếu tố thuận lợi. Thay đổi các yếu tố thuận lợi: thay đổi viên tránh
thai hoặc biện pháp tránh thai và dùng thuốc chống nấm.
Tái phát thực sự: xảy ra sau khi ngừng điều trị một thời gian ngắn,
được coi là điều trị chưa đầy đủ. Chỉ định dùng thuốc dài ngày hơn, trung
bình là 15 ngày, bao gồm đặt âm đạo, bôi lên da, uống và điều trị cho người
chồng, [32], [40].
∗ Dược lý và cơ chế tác dụng của Fluconazole[5]


20

21

độ trong huyết tương. Nồng độ trong dịch não tủy đạt từ 50% đến 90% nồng
độ trong huyết tương ngay cả khi màng não không bị viêm. Tỉ lệ gắn với
protein khoảng 12%. Thuốc thải trừ qua nước tiểu ở dạng nguyên thể với tỉ lệ
80% hoặc cao hơn. Nửa đời thải trừ khoảng 30 giờ, và tăng ở người bệnh suy
thận. Thuốc cũng được loại bằng thẩm tách.
1.4.2. Điều trị viêm âm đạo do Trichomonas
Điều trị tấn công: sử dụng dẫn chất của NitroImidazol. Nasogyl
500mg liều duy nhất hoặc Metronidazol 500mg trong 10 ngày.
Đồng thời điều trị cho chồng hoặc bạn tình bằng Metronidazol uống.
Điều trị nhắc lại: Sau 3 tuần nhắc lại một đợt điều trị như trên [34].
∗ Dược lý và cơ chế tác dụng của Metronidazol [5]
Metronidazol là một dẫn chất 5 - nitro - imidazol, có phổ hoạt tính rộng
trên động vật nguyên sinh như amip, Giardia và trên vi khuẩn kị khí.
Cơ chế tác dụng của metronidazol còn chưa thật rõ. Trong ký sinh trùng,
nhóm 5 - nitro của thuốc bị khử thành các chất trung gian độc với tế bào. Các
chất này liên kết với cấu trúc xoắn của phân tử DNA làm vỡ các sợi này và
cuối cùng làm tế bào chết. Nồng độ trung bình có hiệu quả của metronidazol
là 8 microgam/ml hoặc thấp hơn đối với hầu hết các động vật nguyên sinh và
các vi khuẩn nhạy cảm. Nồng độ tối thiểu ức chế (MIC) các chủng nhạy cảm
khoảng 0,5 microgam/ml. Một chủng vi khuẩn khi phân lập được coi là nhạy
cảm với thuốc khi MIC không quá 16 microgam/ml.
Nhiễm Trichomonas vaginalis có thể điều trị bằng uống metronidazol
hoặc dùng tại chỗ. Cả phụ nữ và nam giới đều phải điều trị, vì nam giới có thể
mang mầm bệnh mà không có triệu chứng. Trong nhiều trường hợp cần điều
trị phối hợp đặt thuốc âm đạo và uống thuốc viên,


22


chống lactobaccilli, vì vậy giúp cho quá trình tái định cư của các vi sinh vật
để khôi phục hệ vi khuẩn chí âm đạo sau đợt điều trị.
+ Metronidazole 500 mg, ngày uống 2 lần trong 7 ngày.
+ Hoặc Metronidazole 2g một lần duy nhất.
Liệu pháp 7 ngày có tỷ lệ khỏi cao hơn theo một số nghiên cứu
của Jerve, Hovik, Eschenbach, Alawattegama và Swedberg [50].
1.5.

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1.5.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Ước tính khoảng 75% phụ nữ bị viêm âm hộ âm đạo do nấm ít nhất một
lần trong đời [54]. Khoảng 45% phụ nữ sẽ bị mắc từ 2 lần trở nên. May mắn
là rất ít người bị bệnh nấm mạn tính tái phát [57].
Tỷ lệ mắc nấm AĐ đã tăng đáng kể. ở Anh, tỷ lệ dao động từ 28% đến
37%. ở Mỹ, từ 1980 đến 1990, tỷ lệ mắc nấm âm đạo đã gần tăng gấp đôi.
Thêm vào đó, tỷ lệ phần trăm của những chủng nấm không phải albicans cũng
tăng lên [55].
Tỷ lệ nhiễm trichomonas đã giảm rất nhiều ở cả Mỹ và châu Âu vùng
Scandinavia và cũng tương quan với khuynh hướng trên thế giới. Sự giảm nầy
phần lớn là do chẩn đoán tốt hơn và điều trị bằng Metronidazole [55].
Viêm âm đạo do trichomonas là bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Tỷ lệ lây truyền khá cao: 70% đàn ông bị nhiễm bệnh sau khi quan hệ 1
lần với những phụ nữ bị bệnh, điều đó gợi ý rằng tỷ lệ lây truyền từ nam sang
nữ còn cao hơn [59].
Bệnh phổ biến nhất trong viêm âm đạo ở Mỹ là B.vaginosis. Tỷ lệ mắc
BV ở các phòng khám STD dao động từ 33% đến 64% theo các tác giả khác
nhau.
Tỷ lệ nầy ở phòng khám phụ khoa là 15% đến 23%; ở các phòng khám

sau: Sơn La 2,1%, Thái Nguyên 1,3%, Hà Nội 0,4%, Hà Tĩnh 1,8%, Khánh
Hòa 1,0%, Đắc Lắc 2,4%, Vũng Tàu 0,7% và Kiên Giang 1,1%. (2004) [8].


25

Như vậy, tỷ lệ VAĐ do trichomonas ở các vùng nông thôn và miền núi cao
hơn ở các vùng thành thị. Tỷ lệ mắc trichomonas ở những phụ nữ ở Hà Nội và
vùng lân cận đến khám tại Viện Bảo vệ Bà mẹ trẻ sơ sinh năm 1994 là 5,8%.
ở phụ nữ có thai tại Hà nội, tỷ lệ nầy là 0% theo nghiên cứu của Nguyễn
Thị Ngọc Khanh năm 1998 -2000 [17] và ở phụ nữ có thai tại TP Huế là
7,1%, (2002-2003) [15].
Theo cuộc điều tra năm 2004 trên 8880 phụ nữ độ tuổi từ 15 đến 55,
dùng phương pháp Pap smear, tỷ lệ VAĐ do G. vaginalis là 4%. Trong
đó phân bố theo các vùng là: Sơn La 3,8%; Thái Nguyên 3,1%; Hà Nội 8,1%;
Hà Tĩnh 4,0%; Khánh Hòa 1,4%; Đắc Lắc 6,5%; Vũng Tàu 2,9% và Kiên
Giang 2,2% [8]. Theo Phan Thị Kim Anh, tỷ lệ mắc bệnh G.vaginalis trên các
phụ nữ đến khám phụ khoa tại Viện bảo vệ bà mẹ trẻ sơ sinh là 3,8% [1].
Tỷ lệ mắc B. vaginosis ở phụ nữ có thai ở Hà Nội là 7,8% [17]. ở phụ nữ
có thai tại thành phố Huế, nhiễm G. vaginalis đơn thuần là 3,28%, kết hợp với
Candida spp. là 9,5% và kết hợp với trichomonas là 3,57% [15].
Theo nghiên cứu của Phạm Bá Nha, các căn nguyên vi khuẩn có tỷ lệ
nhiễm cao trong nhóm đẻ non. G. vaginalis trong nhóm không đẻ non
là 3,6% và trong nhóm đẻ non là 20,4%. Viêm nhiễm đường sinh dục dưới
do vi khuẩn trong nhóm đẻ non có nguy cơ rỉ ối, ối vỡ non cao hơn so với
nhóm không đẻ non. Nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh trong nhóm đẻ non cao
hơn so với nhóm không đẻ non [24], [25].




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status