PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, quá trình CNH – HĐH và đô thị
hoá đất nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với đó là nhu cầu về nguyên vật liệu
cho xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp và các công trình xây dựng dân dụng
nói chung ngày càng tăng. Trong các loại nguyên vật liệu thì gạch đất sét nung là
loại vật liệu không thể thiếu trong các công trình xây dựng vì gạch là loại vật liệu
tạo nên hình dáng cấu trúc ban đầu cho các công trình đồng thời nó còn tạo nên sự
bền vững cho các công trình đó.
Tiêu thụ sản phẩm (SP) là khâu quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của một doanh nghiệp (DN), là cầu nối trung gian một bên là sản xuất, phân
phối và một bên là tiêu dùng. Trước kia, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm
(TTSP) của các doanh nghiệp Nhà nước trong thời kỳ này là giao nộp sản phẩm
cho các đơn vị theo địa chỉ và giá cả do Nhà nước quy định. Do đó không tạo ra
động lực thúc đẩy hoạt động tiêu thụ cũng như sản xuất kinh doanh (SXKD) của
doanh nghiệp. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được xác định
là đơn vị tự chủ, họ phải tự lập kế hoạch cho quá trình sản xuất kinh doanh của
mình. Tiêu thụ sản phẩm là hoạt động có ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh vì vậy tiêu thụ sản phẩm đã trở thành một trong những
khâu quan trọng mà các DN phải đặc biệt quan tâm. Trong tình trạng cạnh tranh
ngày càng gay gắt như hiện nay các DN buộc phải năng động sáng tạo tìm ra các
biện pháp tốt, phù hợp đẩy mạnh TTSP của DN, như vậy mới đảm bảo cho sự tồn
tại.
Trong thực tế, không ít những SP của một số DN rất tốt nhưng tiêu thụ lại rất
chậm, thậm chí không tiêu thụ được do không biết cách tổ chức TTSP. Do vậy,
1
TTSP là công việc vô cùng khó khăn đòi hỏi các DN phải suy nghĩ và tìm ra các biện
pháp phù hợp, khoa học để đẩy mạnh việc TTSP của DN mình.
và xây dựng Tiền Hải mấy năm qua (2006 – 2008) như thế nào? (Số lượng, thị
trường, giá cả, kênh phân phối,…)
- Việc TTSP gạch đất sét nung của Công ty còn những bất cập gì? Tại sao lại
có những bất cập đó?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới hoạt động TTSP gạch đất sét nung của
Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải?
- Công ty có những điểm mạnh, điểm yếu gì và những cơ hội và thách thức
nào mang lại cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty?
- Cần có những giải pháp nào để khắc phục những tồn tại trong công tác
TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư
và xây dựng Tiền Hải.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề về hoạt động TTSP gạch
đất sét nung
- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu tại Công ty cổ phần đầu tư và xây
dựng Tiền Hải
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu từ ngày 12/01/2009 đến ngày 22/5/2009.
Thông tin dùng cho nghiên cứu thu thập qua 3 năm (2006 – 2008).
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài
2.1.1 Một số lý luận cơ bản về thị trường
2.1.1.1 Khái niệm thị trường
Thị trường là một khái niệm được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác khau, tuy
- Thị trường thừa nhận khối lượng sản phẩm hàng hoá
- Thị trường thừa nhận giá cả
- Thị trường thừa nhận phương thức trao đổi đối với một loại hàng hoá hay
dịch vụ cụ thể nào đó.
* Chức năng thực hiện: Thông qua chức năng này hàng hoá và dịch vụ sẽ
hoàn thành quá trình chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ. Quá trình
trao đổi hay mua bán là quá trình chủ yếu diễn ra trên thị trường. Thông qua quá
trình này sản phẩm hay dịch vụ bằng quan hệ cung cầu sẽ hình thành nên giá cả, cơ
sở để thanh toán và điều kiện để thoả mãn nhu cầu. Kết thúc một quá trình mua
bán, chức năng thực hiện của thị trường đã được hoàn thành.
* Chức năng điều tiết kích thích: Lợi nhuận là mục đích cao nhất của quá
trình sản xuất. Lợi nhuận kinh doanh chỉ hình thành thông qua hoạt động thị
trường, vì vậy thị trường vừa là môi trường vừa là động lực để điều tiết kích thích
các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN - sự điều tiết và kích thích sản xuất thể
hiện ở các khía cạnh:
- Dựa vào nhu cầu các loại sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường, các DN có
thể điều chỉnh các yếu tố sản xuất từ ngành này sang ngành khác, từ sản phẩm này
sang sản phẩm khác để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn
- Sự thay đổi nhu cầu và cơ cấu nhu cầu bắt buộc các DN phải thay đổi
phương hướng kinh doanh cho phù hợp hơn.
- Thị trường sẽ ra tạo động lực cạnh tranh. Những DN mạnh sẽ phải phát huy
lợi thế của mình để phát triển, các DN yếu sẽ phải tìm cách đổi mới, vươn lên để
tồn tại nếu không muốn phá sản.
5
- Thị trường có vai trò quan trọng trong điều tiết cung - cầu thông qua hệ
thống giá cả. DN muốn tồn tại phải tính toán các nguồn lực, tiết kiệm chi phí để có
mức giá phù hợp.
* Chức năng thông tin: Trên thị trường sẽ hình thành nên hệ thống thông tin
2.1.2.2 Vai trò của TTSP
Hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành qua nhiều khâu kế tiếp nhau,
mỗi khâu có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời với các khâu khác. Các khẩu
của hoạt động sản xuất kinh doanh được ví như một mắt xích trong cả một hệ thống
mắt xích nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đựơc trơn tru. Mắt xích
này được gắn liền với mắt xích kia tạo ra sự chuyển động liên tục và cái này là tiền
đề, bổ trợ cho cái kia. TTSP là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, song nó
lại rất quan trọng, cũng có khi giữ vai trò quyết định các vấn đề trong quá trình tồn
tại và phát triển của DN.
Trong giai đoạn sản xuất hàng hoá giản đơn, quan hệ hàng hoá và tiền tệ
chưa hình thành rõ nét thì khi đó chưa có lưu thông hàng hoá mà chỉ có hình thức
sơ khai của nó là trao đổi sản phẩm. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người
thì hình thức trao đổi hàng hoá đã phát triển lên hình thức cao hơn. Đó là lưu thông
hàng hoá gắng liền với nó là quan hệ hàng hoá, tiền tệ ra đời.
TTSP là khâu quyết định sự thành bại của DN. Lợi nhuận trong sản xuất kinh
doanh thu đựơc thông qua việc bán hàng do đó tiêu thụ là khâu quan trọng chi phối
các khâu nghiệp vụ khác. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN đòi hỏi phải
được diễn ra liên tục và nhịp nhàng giữa các chu kỳ kinh doanh khác. Hiệu quả
kinh doanh đựơc đánh giá bởi nhiều nhân tố trong đó có tốc độ quay vòng vốn. Tốc
độ quay vòng vốn lại phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tiêu thụ lại là tấm gương để
phản chiếu tình hình kinh doanh của các DN.
TTSP là khâu hết sức quan trọng đối với bản thân mỗi DN và đối với toàn bộ
nền kinh tế quốc dân. Thông qua tiêu thụ, tính hữu ích của sản phẩm mới được xác
nhận một cách hoàn toàn. Có tiêu thụ đựơc hàng hoá thì mới thu hồi được vốn có
nghĩa là tăng nhanh số lượng tiêu thụ là tăng nhanh vòng quay của vốn và lãi suất
7
phải trả cho việc vay vốn. Sau quá trình tiêu thụ DN không những thu tổng số tiền
liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện được giá trị lao
- Tăng khả năng cạnh tranh và tài sản vô hình cho DN
- Phục vụ khách hàng
2.1.2.4 Ý nghĩa của việc TTSP
TTSP hàng hoá là quá trình sản phẩm được vận động từ nơi sản xuất tới nơi
tiêu dùng. Đặc điểm lớn nhất của sản phẩm ở mỗi DN là nó được sản xuất ra và
đem đi bán nhằm thực hiện những mục tiêu hiệu quả đã định trước đó là:
* Mục tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó là chỉ tiêu quan
trọng phản ánh hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Có lợi nhuận thì mới tái sản xuất
mở rộng được mà lợi nhuận là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng (doanh thu
tiêu thụ) và tổng chi phí mà DN đã bỏ ra trong quá trình sản xuất.
Công tác TTSP tốt sẽ thu được lợi nhuận nhiều và không tiêu thụ được hoặc
tiêu thụ được ít thị lợi nhuận sẽ thấp, có thể hoà vốn hoặc lỗ. Đẩy mạnh công tác
TTSP là tăng nhanh vòng quay của vốn kinh doanh qua đó có khả năng tiết kiệm
vốn tăng lợi nhuận cho DN.
* Mục tiêu vị thế của DN
Vị thế của DN trên thị trường biểu hiện ở phần trăm doanh số hoặc số lượng
hàng hoá được bán ra so với số lượng hàng hoá của toàn bộ thị trường, con số này
càng lớn thì vị thế của DN càng lớn. Do đó TTSP có ý nghĩa quyết định đến vị thế
của DN trên thị trường. Tuy nhiên, để có được vị thế lớn trên thương trường trong
điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay là rất khó khăn, nó đòi hỏi DN phải hết
sức có gắng tận dụng mọi thời cơ, cơ hội và vị thế của mình để dành lấy thị trường
có như vậy mới đảm bảo chiến thắng trong cạnh tranh.
* Mục tiêu an toàn
Hàng hoá là những vật phẩm được sản xuất ra để bán. Đối với các DN, sản
phẩm sau khi được sản xuất ra phải đem đi bán trên thị trường để thu tiền về thì DN
mới có khả năng tái sản xuất và quá trình kinh doanh mới diễn ra liên tục được.
9
- Sản phẩm thay thế: Công ty cần phải phân tích về sản phẩm thay thế thông
thường, thay thế hoàn toàn trên cơ sở đó thấy được nguy cơ hay cơ hội có phản ứng
kịp thời, hợp lý (Dương Thế Hữu, 2005).
b. Các yếu tố bên trong DN
Mỗi DN đều có tiềm năng riêng nhất định, nó phản ánh thế lực của DN trong
quá trình xây dựng các chiến lược, kế hoạch TTSP, cần phải đánh giá tiềm năng đó
một cách chính xác để phục vụ cho việc khai thác thời cơ. Một chiến lược không
được xây dựng trên cơ sở tiềm năng đã đánh giá thì sẽ bị thất bại và kéo theo sau
đó là các chi phí phát sinh vô ích.
- Uy tín của DN: Đây là tài sản vô hình, nó không dễ gì mà có trong thời
gian ngắn. Uy tín của DN sẽ giúp cho việc TTSP tốt hơn. Vì vậy các DN phải có sự
cố gắng vươn lên trong sản xuất kinh doanh để tạo lập uy tín và củng cố uy tín của
mình.
- Sản phẩm và chất lượng sản phẩm của DN: Điều quan trọng đầu tiên đối
với người tiêu dùng cũng như đối với nhà sản xuất là chất lượng sản phẩm. Chất
lượng sản phẩm có thể đưa DN tới đỉnh cao của danh lợi hoặc nó có thể đưa DN
đến bờ vực của sự phá sản, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của DN. Nó có thể
giúp doanh nghệip thu hút thêm khách hàng giành thắng lợi trong cạnh tranh.
- Giá cả sản phẩm: Giá cả là thông số ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu trên
thị trường. Giá cả được sử dụng như một vũ khí cạnh tranh nhưng nếu lạm dụng vũ
khí giá cả nhiều khi không thúc đẩy được tiêu thụ hàng hoá mà còn thiệt hại tới lợi
nhuận, bởi theo quan niệm của người tiêu dùng giá cả thể hiện chất lượng. Vì vậy
nhiều khi đặt giá thấp không phải là thúc đẩy được tiêu thụ.
- Hoạt động của người bán hàng và người đại lý chiếm vị trí quan trọng,
trung tâm trong hoạt động tiêu thụ vì họ là người trực tiếp thực hiện việc bán hàng,
thu tiền về. Doanh thu của DN cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của
họ. Người bán hàng có ảnh hưởng quan trọng nhất và trực tiếp nhất đến hành vi
mua hàng của khách hàng vì người bán hàng cùng một lúc thực hiện các hoạt động
11
12
+ Giai đoạn phát triển: Đây là giai đoạn ăn nên làm ra của doanh nghiệp,
công ty nào cũng mong muốn thời gian của giai đoạn này càng dài càng tốt. Trong
giai đoạn này mức tiêu thụ tăng nhanh, lợi nhuận tăng nhưng đồng thời xuất hiện
nhiều đối thủ cạnh tranh.
+ Giai đoạn chín muồi: Đây là giai đoạn sản phẩm hàng hóa tiêu thụ chậm lại
có nghĩa là chúng tràn đầy trên các kênh phân phối, đồng thời sự cạnh tranh sẽ trở
nên gay gắt giữa các hãng độc lập do sức ép của việc TTSP. Sự cạnh tranh có thể
diễn ra theo các chiều hướng như: hạ giá, khuyến mãi, tăng cường quảng cáo, kích
thích các trung gian… tình hình đó dẫn đến sự giảm sút về lợi nhuận.
+ Giai đoạn suy thoái: Là giai đoạn mức tiêu thụ và lợi nhuận giảm sút
nghiêm trọng. Sự suy giảm đó có thể diễn ra nhanh, chậm, thậm chí đến số không.
Cũng có khi sự suy giảm đó diễn ra rồi chững lại ở đó một thời gian.
2.1.2.7 Giá cả sản phẩm
Trong nghiên cứu kinh tế, giá được hiểu là “sự biểu hiện bằng tiền của giá trị
hàng hóa”. Trong kinh doanh và quản trị giá, giá cả được mô tả đơn giản và cụ thể
hơn “giá là khoản tiền phải trả cho một thứ gì đó” (Nguyễn Xuân Giang,2005).
Thông thường giá là một yếu tố rất nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh nói
chung và hoạt động mua bán nói riêng, bởi giá liên quan đến lợi ích có tính mâu
thuẫn giữa người mua và người bán.
Giá là số tiền biểu hiện giá trị của một sự chuyển đổi nào đó: giá mua thể
hiện sự chuyển đổi lúc đầu vào, giá bán thê hiện sự chuyển đổi lúc đầu ra (Nguyễn
Phú Giang, 2005).
Đối với người bán, giá cả là khoản tiền trù tính có thể nhận được từ phía
người mua sau khi chuyển cho họ quyền sở hữu hay sử dụng hàng hóa và dịch vụ
đó. Còn đối với người mua thì giá cả luôn là chỉ số đầu tiên để đánh giá phần được
với chi phí mà họ bỏ ra để có được quyền sở hữu hay sử dụng hàng hóa đó.
(Nguyễn Nguyên Cự, 2005).
sản phẩm
Lợi nhuận mong muốn
+
tính trên vốn đầu tư
Số sản phẩm
Phương pháp này sử dụng có hiệu quả khi doanh nghiệp dự đoán chính xác
khối lượng tiêu thụ.
`- Định giá theo cạnh tranh
Khi định giá cho sản phẩm của mình các doanh nghiệp phải dựa vào giá của
đối thủ cạnh tranh để quyết định, ít quan tâm đến chi phí và nhu cầu.
14
Theo phương pháp này, mức giá của doanh nghiệp đưa ra có thể ngang bằng,
thấp hay cao hơn giá của đối thủ cạnh tranh. Điều đó phụ thuộc vào vị thế của
doanh nghiệp cũng như tương quan giữa chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp
kinh doanh.
Một số nguyên tắc có tính chỉ dẫn cho cách định giá này:
+ Trong khu vực kinh doanh độc quyền nhóm bán thì các doanh nghiệp
thường chào chung một giá.
+ Các doanh nghiệp nhỏ quyết định giá của mình theo các doanh nghiệp “dẫn
đầu” chứ không phải dựa vào nhu cầu hay chi phí của doanh nghiệp.
+ Giá bán của doanh nghiệp có thể cao hơn giá của đối thủ nếu doanh nghiệp có
thể tạo ra sự khác biệt về sản phẩm được khách hàng chấp nhận, hoặc có thể nhỏ hơn.
Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, khoảng cách giữa hai giá không quá lớn tránh ảnh
hưởng đến những khách hàng nhạy cảm về giá, tránh khuynh hướng tạo ra cạnh tranh
Kênh 1 cấp
Kênh 2 cấp
Nhà SX
Nhà SX
Kênh 3 cấp
Nhà SX
Đại lý
Nhà bán buôn
Nhà bán lẻ
Khách hàng tiêu dùng
Sơ
đồ
2.1.
Mô
hình
kênh
phân
công nghệ Tuynel đã và đang hình thành như: Hạ Long 1 – Viglacera, Thạch Bàn,
Giếng Đáy, Bình Định, Bình Dương, Long Thành Đồng Nai, An Lộc, Kiên Giang,
Côn Sơn, Dacom,… với tổng công suất trên 24 tỷ viên/năm.
Khi mà thu nhập và trình độ dân trí không ngừng tăng lên thì đòi hỏi về chất
lượng SP cũng tăng lên rất nhanh. Không giống trước đây, các công trình chủ yếu
sử dụng sản phẩm của các lò gạch thủ công thì hiện nay thị trường đòi hỏi những
SP đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn khi sử dụng, cùng với nó là kiểu
dáng, kích thước, mẫu mã đa dạng để đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ của công trình. Do
đó, các DN luôn chú trọng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng SP của đơn vị
17
mình. Cuộc cạnh tranh giành giật thị trường giữa các hãng hiện nay đang diễn ra rất
gay gắt mạnh mẽ. Chính vì thế việc tạo ra lợi thế cạnh tranh với các đối thủ là điều
mà các nhà sản xuất kinh doanh gạch đất sét nung luôn quan tâm.
2.2.2 Một số nghiên cứu trước đây về tiêu thụ sản phẩm gạch
1. Nguyễn Thành Luân (2006), ‘Phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm gạch
đất sét nung tại Công ty Cổ phần Hạ Long 1 – Viglacera’, Luận văn tốt nghiệp đại
học. Nghiên cứu đã trình bày về cơ sở lý luận tiêu thụ sản phẩm và thực tiễn tiêu
thụ sản phẩm gạch đất sét nung của Công ty Cổ phần Hạ Long 1 – Viglacera.
Về phân tích hoạt động TTSP gạch đất sét nung của Công ty, nghiên cứu tập
trung đi vào tìm hiểu tình hình tiêu thụ của một số sản phẩm gạch đất sét nung của
Công ty sản xuất theo công nghệ lò đứng và lò Tuynel về số lượng sản xuất, sản
lượng tiêu thụ, thị trường tiêu thụ, giá bán sản phẩm, hệ số tiêu thụ,…
Nghiên cứu cũng tập trung phân tích các hoạt động tiêu thụ sản phẩm gạch đất
sét nung của Công ty như hoạt động nghiên cứu dự báo thị trường, tổ chức thực hiện
chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược chiêu thị,…
2. Dương Thế Hữu (2005), ‘Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh
hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở Công ty gạch ốp lát Thái Bình’, Luận văn tốt nghiệp
đại học. Nghiên cứu tập trung vào thực trạng hệ thống kênh phân phối sản phẩm
Thái Bình thực hiện nghị định số 388 ngày 20/11/1991 của Chính phủ nhằm sắp
xếp ổn định lại các DN Nhà nước. Công ty xây lắp Tiền Hải được thành lập lại DN
Nhà nước theo thông báo của Bộ xây dựng số 364 ngày 7/01/1992, được UBND
tỉnh ra Quyết định số 08 ngày 7/01/1993 và được trọng tài kinh tế cấp giấy phép
kinh doanh số 106763 ngày 04/03/1993. Năm 2005 thực hiện Nghị định số
187/2004 của Chính phủ ngày 16/11/2004, ngày 04/05/2005 UBND tỉnh Thái Bình
ra quyết định số 979 chuyển Công ty xây lắp Tiền Hải là DN Nhà nước thành Công
ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải, được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái
19
Bình cấp giấy phép đăng ký kinh doanh số 0803000249 ngày 29/11/2005. Công ty
có tên giao dịch là “Tien Hai construction and investment join stock company”.
Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là sản xuất các sản phẩm gốm sứ,
vật liệu chịu lửa; mua bán vật liệu xây dựng; xây dựng các công trình dân dụng,
công nghiệp, giao thông thuỷ lợi; lắp đặt trang thiết bị cho các công trình xây dựng
tư vấn đấu thầu, tư vấn thẩm định thiết kế công trình, theo dõi giám sát thi công. Từ
tháng 04/2000 được sự cho phép của UBND và Sở xây dựng tỉnh Thái Bình, Công
ty xây lắp Tiền Hải đã mạnh dạn đầu tư xây dựng hai nhà máy sản xuất gạch đất sét
nung với công suất thiết kế là 30.000.000 viên/năm. Tổng số vốn đầu tư cho xây
dựng công trình ban đầu là 20 tỷ đồng. Toàn bộ dây chuyền công nghệ sản xuất
gạch đất sét nung được nhập từ Nga. Ngày 08/04/2001 dây chuyền được xây dựng
xong và chính thức đi vào chạy thử thành công. Có thể nói Công ty cổ phần đầu tư
và xây dựng Tiền Hải là một DN được hình thành trong cơ chế thị trường có sự
cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên sau 8 năm sản xuất kinh doanh cho thấy rằng Công
ty đã phát triển và đứng vững trên thị trường, sản phẩm của Công ty có mặt trên thị
trường trong và ngoài tỉnh Thái Bình góp phần tạo việc làm cho nhiều lao động tại
địa phương.
3.1.3 Tình hình lao động của Công ty
100,0
0
SL
CC
(người) (%)
350
100,0
0
SL
CC
(người) (%)
366
100,0
0
I. Phân theo tính chất LĐ
1. CN sản xuất
2. Nhân viên phục vụ
298
12
81,87
3,30
288
12
12
3,43
14
3,83
2. Cao đẳng
3. Trung cấp
0
22
6,04
0
22
6,29
2
22
0,55
6,01
4. CNKT và LĐ phổ thông
330
08/07
BQ
96,15
104,5
7
100,27
96,64
100,0
0
92,59
102,43 99,50
100,0 100,00
0
118,0 104,53
0
116,67 108,01
89,62
100,0
0
_
100,0
0
226
61,75 104,27 102,73 103,49
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính
cao nhất do đặc thù của Công ty đòi hỏi nhiều lao động chân tay như công nhân
bốc xếp, công nhân vận chuyển nhưng lao động sản xuất của Công ty những năm
qua lại có xu hướng giảm, bình quân qua 3 năm giảm 0,5%. Nguyên nhân do trên
địa bàn có nhiều công ty mới thành lập, đây là lý do nhiều công nhân có kinh
nghiệm và tay nghề bỏ Công ty qua các công ty khác làm ( họ bị hấp dẫn về thu
nhập). Số lượng nhân viên phục vụ của Công ty đựơc duy trì ở mức ổn định với 12
người nên không có sự biến động gì. Đồng thời, cán bộ quản lý cũng có sự biến
động, trung bình qua 3 năm cán bộ quản lý của Công ty tăng 4,53%, lý do của sự
biến động này là những năm gần đây sản xuất của Công ty đã đi vào ổn định, sản
lượng sản xuất ngày càng tăng do đó đòi hỏi những cán bộ có trình độ để quản lý,
giám sát công việc.
Cùng với sự biến động về số lượng lao động thì chất lượng lao động cũng có
sự thay đổi. Cụ thể ở 2 nhóm đại học, cao đẳng và công nhân kỹ thuật và lao động
phổ thông số lượng lao động có trình độ đại học và cao đẳng tăng lên do nhu cầu
số lượng cán bộ quản lý của Công ty tăng, còn số lượng lao động phổ thông và
công nhân kỹ thuật giảm đi đã được phân tích ở trên. Nhìn chung, qua 3 năm số
lượng lao động có trình độ đại học tăng bình quân 8,01%, còn lao động phổ thông
và công nhân kỹ thuật giảm bình quân 0,3%.
Ngoài ra, khi phân theo thời gian ký kết hợp đồng lao động thì số lượng lao
động có thời gian ký kết hợp đồng dài hạn có xu hướng tăng lên và số lao động có
thời gian ký kết hợp đồng ngắn hạn có xu hướng giảm là do số lao động hợp đồng
ngắn hạn sau thời gian kiểm tra tay nghề đã được Công ty ký kết hợp đồng dài hạn.
3.1.4 Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty
13,45%. Với nguồn vốn chủ sở hữu này giúp Công ty ít chịu ảnh hưởng bởi các tác
động tài chính, đảm bảo cho quá trình SXKD phát triển tốt. Trong nguồn hình
thành tài sản thì nợ phải trả của Công ty cũng có xu hướng tăng lên, bình quân qua
3 năm nợ phải trả của Công ty tăng bình quân 12,04%. Trong đó nợ dài hạn tăng
mạnh nhất, bình quân tăng 32,71% nguyên nhân năm 2007 Công ty vay của Ngân
hàng để đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất gạch Nem tách. Nợ ngắn hạn cũng có
25