Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 33
Đề tài:

HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Giáo viên hướng dẫn:
Trương Thanh Hùng
Bộ môn Luật Tư pháp

Sinh viên thực hiện:
Trần Hồng Ca
MSSV: 5075010
Lớp Luật Tư pháp 1-K33

CẦN THƠ, NĂM 2011


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………

1.3.1. Giai đoạn 1945- 1960..............................................................................17
1.3.2. Giai đoạn 1960-1989 ..............................................................................19
1.3.3. Giai đoạn 1989-2005 ..............................................................................20
1.3.4. Giai đoạn 2005 đến nay ..........................................................................22
1.4. Chế định hòa giải trong pháp luật một số nước ........................................23
1.4.1. Chế định hòa giải trong pháp luật Pháp ...................................................23


1.4.2. Những ưu điểm và nhược điểm của chế định hòa giải trong pháp luật Việt
Nam với Pháp......................................................................................................24
1.5. Ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự và sự cần thiết của việc nghiên
cứu chế định hòa giải.........................................................................................26
1.5.1. Ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự ...............................................26
1.5.2. Sự cần thiết của việc nghiên cứu chế định hòa giải .................................27
Chương 2
Pháp luật hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
2.1. Thủ tục trước phiên hòa giải......................................................................29
2.1.1. Thông báo về phiên hòa giải ...................................................................29
2.1.2. Thành phần phiên hòa giải ......................................................................35
2.2. Thủ tục tại phiên hòa giải ..........................................................................42
2.2.1. Nội dung phiên hòa giải ..........................................................................42
2.2.2. Biên bản hòa giải ....................................................................................47
2.3. Thủ tục sau phiên hòa giải ........................................................................51
2.3.1. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ..........................51
2.3.2. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự .............56
2.4. So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự với thỏa thuận tại phiên tòa sơ thẩm
và phiên tòa phúc thẩm .....................................................................................60
2.4.1. Tại phiên tòa sơ thẩm..............................................................................60
2.4.2. Tại phiên tòa phúc thẩm .........................................................................64
Kết luận .............................................................................................................68

Hòa giải trong tố tụng dân sự đã tồn tại trong hệ thống pháp luật nước ta từ
rất sớm. Nó được quy định trong những văn bản tố tụng đầu tiên của nước ta. Chế
định này đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án dân sự bởi vì nó góp
phần giải quyết tranh chấp nhanh chóng và tiết kiệm. Tuy nhiên, các đề tài nghiên
cứu về chế định này chưa nhiều. Các tạp chí chuyên ngành cũng có những bài viết,
bài bình luận của các luật sư, chuyên gia luật, Thẩm phán. Các bài viết này đã phản
ánh được một số điểm hạn chế cơ bản của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
cũng có những giải pháp đề xuất để hoàn thiện chế định này. Về các đề tài nghiên
GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 1


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
cứu của sinh viên Khoa Luật, Đại học Cần Thơ, từ khóa 30 trở về sau chỉ có một đề
tài nghiên cứu về hòa giải tại Tòa án. Đề tài này cũng phản ánh được những ưu
điểm và nhược điểm điển hình của luật thực định. Đồng thời, đề tài này cũng làm rõ
quy định về thỏa thuận tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Tuy nhiên, về phần thực
tiễn áp dụng của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự thì đề tài nghiên cứu nói trên
chưa làm rõ, cũng như các giải pháp đề xuất để nâng cao hiệu quả của công tác hòa
giải trong tố tụng dân sự.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về
chế định hòa giải. Cụ thể, người viết sẽ nghiên cứu các điều 180, 181, 182, 183,
184, 185, 186, 187, 188 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và những quy định pháp luật
liên quan để làm rõ chế định hòa giải trong tố tụng dân sự. Đồng thời, người viết
cũng so sánh với các quy định pháp luật trong các thời kỳ trước và so sánh với chế
định này trong pháp luật Pháp. Bên cạnh đó, người viết cũng nghiên cứu tình hình
áp dụng của chế định này trong thực tiễn. Người viết sẽ nghiên cứu nhiều về tình

Đề tài được bố cục thành 2 chương. Trong Chương 1, người viết tập trung
làm rõ khái niệm hòa giải và hòa giải trong tố tụng dân sự, và so sánh với thỏa
thuận và các hình thức hòa giải khác. Đồng thời, người viết cũng có tìm hiểu lược
sử phát triển của hòa giải trong tố tụng dân sự từ năm 1945 đến nay, so sánh với chế
định hòa giải trong luật của Pháp. Thêm vào đó, Chương 1 cũng phân tích về
nguyên tắc và phạm vi khi tòa án tiến hành hòa giải. Cuối Chương 1 là ý nghĩa của
hòa giải và sự cần thiết của việc nghiên cứu chế định hòa giải trong tố tụng dân sự.
Tiếp theo, Chương 2 người viết tập trung làm rõ quy định của luật thực định
về chế định hòa giải. Qua đó, người viết đưa ra những ưu điểm và nhược điểm của
chế định này. Đồng thời, Chương 2 cũng tìm hiểu về tình hình áp dụng chế định hòa
giải nói chung, cũng như thực tế áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Cuối chương, người viết so sánh giữa hòa giải trong tố tụng dân sự với thỏa thuận
tại phiên tòa sơ thẩm, và tại phiên tòa phúc thẩm.

GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 3


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng

Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến trong đời sống dân
sự. Hòa giải cũng được tiến hành trong tố tụng và ngoài tố tụng. Dù là hòa giải
trong tố tụng hay ngoài tố tụng thì mục đích cũng là giải quyết tranh chấp trong đời
sống dân sự. Tuy nhiên, các hoạt động hòa giải này cũng có những điểm khác biệt
nhất định. Trong đó, hòa giải trong tố tụng dân sự là hình thức hòa giải do Tòa án
tiến hành và mang lại hiệu quả cao nhất. Chế định này đã tồn tại từ rất sớm, ngay từ

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 4


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
Để hoạt động hòa giải có hiệu quả, bên thứ ba này phải là người không có quyền và
lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp.
Cuối cùng, trong hòa giải thì các bên trong chấp có quyền quyết định và tự
do định đoạt để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi các bên lựa chọn
phương pháp giải quyết tranh chấp thì không ai có quyền can thiệp vào quyết định
của các bên. Tuy nhiên, nếu cả hai bên trong tranh chấp đều muốn bảo vệ quyền và
lợi ích mình tuyệt đối thì không thể giải quyết được tranh chấp. Vì vậy, các bên
trong tranh chấp phải nhượng bộ nhau một ít để tìm ra giải pháp cân bằng lợi ích
giữa các bên. Từ đó, tranh chấp được giải quyết nhanh chóng và đạt hiệu quả.
- Khái niệm và đặc điểm hòa giải trong tố tụng dân sự
Hòa giải là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tố tụng dân sự. Cụ thể,
nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS).
Theo đó, hòa giải là trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
và tạo điều kiện để các bên thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp. Nguyên tắc
này dựa trên cơ sở quyền tự do thỏa thuận giữa các chủ thể trong luật dân sự và đã
được cụ thể hóa trong chương XIII BLTTDS, bao gồm 8 điều luật quy định về trình
tự, thủ tục hòa giải tại Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, thì Tòa án phải tiến hành hòa giải để
các bên đạt được thỏa thuận về việc giải quyết vụ án. Hòa giải trong tố tụng dân sự
là một trường hợp đặc thù của hòa giải nói chung. Do đó, hòa giải trong tố tụng dân
sự cũng mang những đặc điểm chung của hoạt động hòa giải. Tuy nhiên, hoạt động
này cũng mang những đặc trưng riêng của hoạt động trong tố tụng dân sự.
Một là, hòa giải trong tố tụng dân sự chỉ được tiến hành khi giải quyết vụ án
dân sự. Pháp luật tố tụng dân sự được áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự và
việc dân sự. Tuy nhiên, khi giải quyết việc dân sự thì Tòa án không tiến hành hòa

tranh chấp có lợi cho các bên.
1.1.2. So sánh hòa giải với thỏa thuận
* Khái niệm và đặc điểm của thỏa thuận
Thỏa thuận là một phương pháp giải quyết tranh chấp mà các bên trong tranh
chấp cùng bàn bạc, thống nhất ý chí và đi đến một biện pháp giải quyết tranh chấp
có lợi nhất cho các bên. Trong quan hệ pháp luật dân sự, nguyên tắc tự do thỏa
thuận luôn được tôn trọng. Do đó, khi quan hệ dân sự xảy ra tranh chấp thì các bên
có quyền tự do thỏa thuận để giải quyết tranh chấp.Đây là hình thức giải quyết tranh
chấp phổ biến mà các bên trong tranh chấp thường lựa chọn trước khi áp dụng các
biện pháp giải quyết tranh chấp khác.
- Thỏa thuận mang một số đặc điểm cơ bản sau:
Trước hết, thỏa thuận là phương pháp giải quyết tranh chấp chỉ có các bên
trong tranh chấp. Do đó, các bên chủ động hơn trong quá trình giải quyết tranh
chấp. Các bên có thể dễ dàng thương lượng được thời gian và địa điểm giải quyết
tranh chấp. Bên cạnh đó, thỏa thuận chỉ có các bên trong tranh chấp nên các bên
thoải mái trao đổi ý kiến, quan điểm của mình mà vẫn đảm bảo được tính bí mật
trong tranh chấp. Đặc biệt, đối với các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại thì
việc giữ bí mật trong tranh chấp là cần thiết, nếu không nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín
của các bên trong tranh chấp.
Đồng thời, các bên trong tranh chấp cũng có quyền quyết định và quyền tự
định đoạt khi tiến hành thỏa thuận. Đây là quyền cơ bản của các bên trong quan hệ
GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 6


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
pháp luật dân sự. Không bên nào được lừa dối, ép buộc bên kia chấp nhận giải pháp
mình đưa ra.

khi đó, khi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, ngoài các bên là chủ thể chính trong
tranh chấp thì còn có sự tham gia của chủ thể thứ ba đóng vai trò trung gian. Sự
tham gia của chủ thể này vừa là ưu điểm vừa là nhược điểm của hòa giải. Do đó,
GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 7


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
phụ thuộc vào loại tranh chấp, cũng như mối quan hệ giữa các bên mà các bên chọn
giải pháp phù hợp để giải quyết tranh chấp của mình nhanh chóng, hiệu quả và có
lợi nhất cho các bên.
1.1.3. So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự với hòa giải ở cơ sở và hòa giải tại
Ủy ban nhân dân (UBND)
* So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự với hòa giải cơ sở
- Khái quát chung về hòa giải cơ sở:
Hòa giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được
thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh
chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân phòng ngừa, hạn chế vi
phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư2.
Hòa giải cơ sở được tiến hành theo 4 nguyên tắc được ghi nhận trong Pháp
lệnh 09/1998/PL-UBTVQH10 về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Một là, hòa giải cơ sở phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục tập quán của nhân dân. Người
dân có thể làm những điều mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, nó phải được thực
hiện trong khuôn khổ của đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
Bên cạnh đó, việc tiến hành hòa giải ở cơ sở không được trái với phong tục tập
quán, đạo đức xã hội. Đây cũng chính là nguyên tắc xuyên suốt trong pháp luật dân
sự nói chung. Do đó, khi giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ

có thể xảy ra và đạt được kết quả hòa giải. Nguyên tắc này góp phần hạn chế những
hậu quả xấu cho tình làng nghĩa xóm. Mối quan hệ giữa các bên trong tranh chấp
cũng giảm bớt căng thẳng.
Hòa giải cơ sở luôn được khuyến khích để giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn
ở thôn, làng, ấp, xóm. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định những trường hợp không
được tiến hành hòa giải ở cơ sở vì tính chất quan trọng của tranh chấp, mâu thuẫn.
Theo đó, Pháp lệnh quy định ba trường hợp mà tổ hòa giải ở cơ sở không được tiến
hành hòa giải:
Trước hết, tổ hòa giải không được tiến hành hòa giải đối với tội phạm hình
sự. Chỉ có Tòa án có thẩm quyền ra đưa ra hình phạt đối với tội phạm. Tuy nhiên,
đối với các vi phạm pháp luật hình sự thuộc các trường hợp khởi tố theo yêu cầu
của bị hại mà người này không yêu cầu hoặc đã rút yêu khởi tố,và cũng không bị xử
lý vi phạm hành chính thì có thể tiến hành hòa giải ở cơ sở. Chẳng hạn, các hành vi
cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…mà thiệt hại xảy ra
chưa lớn thì có thể hòa giải ở cơ sở.
Đồng thời, trường hợp hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính cũng
không được tiến hành hòa giải ở cơ sở. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
thuộc về các cơ quan hành chính và cán bộ hành chính có thẩm quyền. Tổ hòa giải
hoặc hòa giải viên chỉ là tổ chức xã hội ở địa phương không có thẩm quyền, cũng
như không được giao thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Do đó, tổ hòa giải
hoặc hòa giải viên không được tiến hành hòa giải đối với các loại vi phạm pháp luật
này.
Trường hợp cuối cùng không được tiến hành hòa giải cơ sở là các vi phạm
pháp luật và các tranh chấp mà theo quy định của pháp luật thì không được tiến
hành hòa giải. Theo hướng dẫn của văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh 09/1998,
có bốn trường hợp mà theo quy định của pháp luật không được tiến hành hòa giải ở
cơ sở, bao gồm kết hôn trái pháp luật, gây thiệt hại đến tài sản nhà nước, tranh chấp
phát sinh từ giao dịch trái pháp luật, tranh chấp về lao động.

GVHD: Trương Thanh Hùng

hòa giải thì xem như vi phạm thủ tục nghiêm trọng. Đây là một trong những căn cứ
để Tòa án cấp trên hủy án.
Đồng thời, hai hình thức hòa giải này còn khác nhau ở phạm vi hòa giải. Hòa
giải trong tố tụng dân sự có phạm vi rộng hơn hòa giải ở cơ sở. Hòa giải trong tố
tụng dân sự tiến hành đối với tất cả các loại tranh chấp đã khởi kiện tại Tòa án, bao
gồm các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao
động. Tuy nhiên, hòa giải ở cơ sở thường tiến hành đối với các tranh chấp nhỏ về
dân sự và hôn nhân, gia đình.
Cuối cùng, hiệu lực của kết quả hòa giải thành đối với hai hình thức này
cũng khác nhau. Đối với hòa giải ở cơ sở, việc thi hành thỏa thuận giữa các bên
được thực hiện trên cơ sở tự nguyện giữa các bên là chính. Tổ viên Tổ hòa giải
GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 10


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
động viên, thuyết phục các bên thực hiện thỏa thuận3. Trong trường hợp một bên
muốn kéo dài việc giải quyết tranh chấp thì xem như mục đích của hòa giải ở cơ sở
không đạt được. Ngược lại, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại
phiên hòa giải được đảm bảo thi hành bởi cơ quan thi hành án. Nếu bên có nghĩa vụ
không tự nguyện thi hành quyết định, bên có quyền có thể yêu cầu cơ quan thi hành
án cưỡng chế thi hành. Không phải mọi quyết định của Tòa án đều được thi hành.
Tuy nhiên, nhìn chung việc thi hành quyết định của Tòa án có tính khả thi cao hơn
vì pháp luật quy định rõ ràng, cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành quyết định công
nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự trong luật thi hành án dân sự.
* So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự và hòa giải tại Ủy ban nhân dân
- Khái quát chung về hòa giải tại Uỷ ban nhân dân (UBND)
UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. UBND thực hiện chức


SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 11


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
- So sánh hòa giải trong tố tụng dân sự và hòa giải ở UBND
Hòa giải trong tố tụng dân sự và hòa giải ở UBND là các trường hợp cụ thể
của hòa giải nói chung. Do đó, hai hình thức này có mang những nét tương đồng
nhất định. Đầu tiên, cả hai hình thức giải quyết tranh chấp này đều mang những đặc
trưng cơ bản của hòa giải. Đồng thời, điểm tương đồng của hai hình thức hòa giải
này là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trong quá trình giải
quyết vụ án thì Tòa án bắt buộc phải tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các
bên thỏa thuận với nhau. Đối với tranh chấp đất đai, các bên tranh chấp muốn khởi
kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu UBND cấp có thẩm quyền giải quyết thì trước tiên các
bên phải thông qua hòa giải ở UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Nếu các bên
không thông qua giai đoạn này thì Tòa án và UBND cấp có thẩm quyền sẽ không
thụ lý giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, hai hình thức này cũng có những điểm khác biệt do đây là hai
trường hợp khác nhau của hòa giải. Cụ thể:
Trước hết, chủ thể đóng vai trò trung gian hòa giải trong hai hình thức này là
khác nhau. Tòa án đóng vai trò trung gian trong hoạt động hòa giải trong tố tụng
dân sự khi giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý. Hòa giải ở UBND thì chủ thể đóng vai
trò trung gian là UBND cấp xã khi giải quyết tranh chấp đất đai. Do chủ thể tiến
hành hòa giải là khác nhau nên trình tự, thủ tục trong quá trình hòa giải cũng khác
nhau. Theo đó, pháp luật quy định về trình tự, thủ tục khi tiến hành hòa giải trong tố
tụng dân sự rõ ràng và cụ thể. Trong khi đó, trình tự, thủ tục hòa giải tại UBND
không được quy định chặt chẽ, chỉ được quy định tại Điều 135 Luật đất đai 2003 và
Điều 159 Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai.
Đồng thời, hai hình thức hòa giải này còn khác nhau ở phạm vi hòa giải. Hòa

đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình. Nguyên tắc này dựa
trên quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự trong pháp luật tố tụng dân
sự nói chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự có quyền thỏa thuận
với nhau về phương án giải quyết tranh chấp. Đồng thời, nguyên tắc tự do thỏa
thuận cũng là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ pháp luật nội dung. Trong quan hệ
pháp luật dân sự, tự do thỏa thuận luôn được tôn trọng. Thỏa thuận giữa các bên chỉ
có hiệu lực pháp luật khi nó dựa trên nguyên tắc tự nguyện. Với vai trò trung gian
hòa giải, Tòa án có thể giải thích về các quy định pháp luật có liên quan, về tình và
lý trong vụ án. Tòa án cũng có thể đưa ra những biện pháp hợp lý, hợp tình và có lợi
cho các bên để các bên lựa chọn. Tuy nhiên, việc chấp nhận hay không chấp nhận
là quyền của các đương sự. Trong quá trình xét xử, giải quyết vụ án như thế nào là
việc Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật. Theo đó, bản án có
hiệu lực pháp luật buộc các bên phải thi hành. Ngược lại, trong quá trình hòa giải
thì Tòa án chỉ đóng vai trò trung gian. Tòa án không được dùng mệnh lệnh hoặc các
biện pháp khác buộc các bên phải chấp nhận phương án do Tòa án đề nghị.
Tiếp theo, các đương sự có quyền tự do thỏa thuận nhưng nội dung các thỏa
thuận không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đây là nguyên tắc xuyên suốt
trong các quan hệ pháp luật dân sự. Nội dung của tranh chấp là các quan hệ pháp
luật dân sự. Do đó, nguyên tắc này cũng cần phải được tôn trọng. Các bên có thể
thỏa thuận các biện pháp có lợi cho mình nhưng biện pháp đó không được trái với
quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, nếu các đương sự bắt buộc phải thỏa
thuận đúng với quy định pháp luật thì ở đây quyền thỏa thuận của các đương sự
không được đảm bảo. Khi đó, kết quả thỏa thuận của các đương sự không được trái
GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 13


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng

nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và
vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình
5

Điều 128 Bộ luật dân sự 2005
Điều 128 Bộ luật dân sự 2005
7
Theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006, hướng dẫn thi hành các quy định
trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS.
6

GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 14


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao,
quốc phòng, an ninh cùng các tài sản do pháp luật quy định. Nhà nước thực hiện
quyền của chủ sở hữu đối với loại tài sản này.
Thiệt hại đến tài sản của Nhà nước được hiểu là các trường hợp tài sản Nhà
nước bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm
nghĩa vụ dân sự hay do các hành vi khác gây thiệt hại cho tài sản nhà nước. Yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại của Nhà nước là quan hệ pháp luật phát sinh giữa hai chủ
thể là bên gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước và bên được nhà nước giao sử
dụng tài sản và có yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp gây
thiệt hại đến tài sản của nhà nước đều không được tiến hành hòa giải. Theo hướng
dẫn của Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn thi hành các
quy định trong phần thứ hai của BLTTDS (Nghị quyết 02/2006), khi thụ lý giải

Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
Trường hợp thụ lý giải quyết những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp
luật hoặc đạo đức xã hội, Tòa án cũng không được tiến hành hòa giải đối với trường
hợp này. Đối với những vụ án loại này, Tòa án thường giải quyết theo hướng vô
hiệu các giao dịch. Khi đó, quyền và nghĩa vụ các bên sẽ không được pháp luật thừa
nhận. Khi tiến hành hòa giải nếu các bên thỏa thuận theo hướng tiếp tục thực hiện
giao dịch thì sẽ trái với nguyên tắc khi tiến hành hòa giải. Tuy nhiên, khi các bên có
tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã
hội, Tòa án vẫn tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp.
BLTTDS 2004 chỉ ghi nhận hai trường hợp Tòa án không được tiến hành
hòa giải. Trong khi đó, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 còn ghi
nhận thêm hai trường hợp mà Tòa án không được tiến hành hòa giải. Đó là trường
hợp hủy hôn nhân trái pháp luật và các yêu cầu dân sự khác liên quan đến quyền
nhân thân của cá nhân. Trong Pháp lệnh 1989 không phân biệt khái niệm vụ án dân
sự và việc dân sự. Tuy nhiên, theo Điều 28 BLTTDS 2004 thì yêu cầu hủy hôn nhân
trái pháp luật là một yêu cầu về hôn nhân và gia đình. Các yêu cầu dân sự thì Tòa án
không tiến hành hòa giải bởi vì yêu cầu dân sự chỉ là việc yêu cầu Tòa án công nhận
hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, không có tranh chấp. Do đó, BLTTDS
không liệt kê hai trường hợp này vào các trường hợp không được tiến hành hòa giải
là hợp lý.
1.2.3. Những trường hợp không tiến hành hòa giải được
Những trường hợp không tiến hành hòa giải được là các trường hợp theo quy
định của pháp luật thì Tòa án sẽ tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau mà việc hòa giải
không thể diễn ra. Đó là những trường hợp không tiến hành hòa giải được quy định
tại Điều 182 BLTTDS 2004. Theo đó, có 3 trường hợp không tiến hành hòa giải
được, bao gồm:
Trường hợp đầu tiên là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà
vẫn cố tình vắng mặt. Bị đơn là người bị cho rằng đã xâm phạm hoặc tranh chấp về
quyền và nghĩa vụ với nguyên đơn. Do đó, khi đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ

quyết tranh chấp. Do đó, khi mà họ không thể thực hiện quyền của mình thì việc
tiếp tục hòa giải của Tòa án không có ý nghĩ. Đồng thời, việc tiếp tục hòa giải còn
có thể gây khó khăn cho các đương sự và kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Trường hợp cuối cùng Tòa án không tiến hành hòa giải được là trường hợp
đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân
sự. Trong vụ án ly hôn, Tòa án sẽ hòa giải theo hướng đoàn tụ. Nếu hòa giải đoàn tụ
không thành thì Tòa án hòa giải thuận tình ly hôn. Việc đoàn tụ hay thuận tình ly
hôn phải do các đương sự tự mình quyết định vì đây là quyền nhân thân không thể
chuyển giao được. Đối với các quyền tài sản, đương sự có thể thực hiện quyền của
mình thông qua người đại diện hoặc người giám hộ. Trong khi đó, người mất năng
lực hành vi dân sự là người không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của
mình và đã có quyết định của Tòa án tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân
sự. Người mất năng lực hành vi dân sự đồng thời cũng không có năng lực tố tụng
dân sự. Do đó, họ không thể tự mình tham gia tố tụng tại Tòa án. Như vậy,
BLTTDS quy định đây là trường hợp không tiến hành hòa giải được là hợp lý.
1.3. Lược sử hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
1.3.1. Giai đoạn 1945- 1960
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đánh dấu sự phát triển mới của
nước ta. Từ đây, nước ta trở thành một nước độc lập. Để thực hiện tốt chức năng
quản lý nhà nước, Nhà nước ta đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật đầu
tiên điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh. Trong đó, các văn bản điều chỉnh
GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 17


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
vấn đề tố tụng được ban hành để giải quyết tranh chấp phát sinh trong đời sống xã
hội. Các văn bản đó bao gồm Sắc lệnh 13 ngày 24/01/1946 Sắc lệnh tổ chức Tòa án

từ ngày phòng biện lý nhận được biên bản hòa giải thành. Người bị thiệt hại do kết
quả hòa giải thành cũng có 15 ngày để kháng cáo kể từ ngày biết được biên bản hòa
giải thành hoặc sự chấp hành của biên bản.
GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 18


Đề tài: Hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
Tóm lại, trong giai đoạn 1945-1960, các văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh lĩnh vực tố tụng nói chung còn ít và chưa có sự phân biệt giữa tố tụng dân sự
và tố tụng hình sự. Nguyên nhân là do giai đoạn này nước ta mới giành được độc
lập, nhiệm vụ chính của giai đoạn này là giữ vững nền độc lập của miền Bắc và giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tuy nhiên, hòa giải trong tố tụng dân sự
luôn được chú trọng và được quy định trong các sắc lệnh nêu trên. Các văn bản quy
phạm pháp luật ban hành sau quy định rõ ràng và cụ thể hơn các văn bản ban hành
trước đó. Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật thời kỳ này còn ít, quy định
chưa rõ ràng, cụ thể về các vấn đề cơ bản như thông báo hòa giải, nội dung hòa giải,
tiến hành phiên hòa giải. Nhưng nó cũng đủ khả năng để giải quyết tranh chấp phát
sinh trong giai đoạn này.
1.3.2. Giai đoạn 1960-1989
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự ra đời của Luật tổ chức Tòa án nhân
dân 1960, sau đó là Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1980. Hệ thống Tòa án được tổ
chức thống nhất và chặt chẽ hơn, bao gồm Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân
dân địa phương. Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trình tự, thủ tục giải
quyết tranh chấp tại Tòa án chưa được thống nhất trong văn bản cụ thể, mà nằm chủ
yếu nằm trong các Thông tư do Tòa án nhân dân tối cao ban hành. Các quy phạm
pháp luật điều chỉnh vấn đề hòa giải trong tố tụng dân sự chủ yếu nằm trong hai
Thông tư của Tòa án nhân dân tối cao, bao gồm Thông tư 3-NCLP ngày 03/3/1966

nhận và bảo vệ. Do đó, các bên không có quyền thỏa thuận với nhau để giải quyết
tranh chấp. Đồng thời, Tòa án cũng không được tiến hành hòa giải đối với các vụ
kiện dân sự do Viện kiểm sát khởi tố.
Trừ các trường hợp không được tiến hành hòa giải như trên, Tòa án sẽ tiến
hành hòa giải đối với các vụ kiện dân sự phát sinh tại Tòa án. Quyết định công nhận
sự thỏa thuận giữa các đương sự sẽ có hiệu lực như một bản án sơ thẩm. Do đó,
quyết định này sẽ bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quy định này
làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài thêm, trong khi đó các bên đã thỏa thuận giải
quyết vụ án. Nếu một trong các bên lợi dụng quy định này để kéo dài việc giải
quyết vụ án thì sẽ làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài thêm mà không mang lại
hiệu quả.
1.3.3. Giai đoạn 1989 - 2005
Ngày 07/11/1989 Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên thống nhất các
các quy định về giải quyết vụ án dân sự. Pháp lệnh này quy định về trình tự, thủ tục
giải quyết vụ án từ giai đoạn khởi kiện đến khi ra bản án. Trong đó, thủ tục hòa giải
trong tố tụng dân sự có nhiều điểm khác biệt so với thời kỳ trước.
Hòa giải trong tố tụng dân sự không phải là chế định mới trong pháp luật tố
tụng dân sự. Tuy nhiên, trong giai đoạn này chế định hòa giải được quy định rõ
ràng, chi tiết hơn. Theo đó, Tòa án bắt buộc phải tiến hành hòa giải trước khi mở
phiên tòa sơ thẩm đối với tất cả vụ án dân sự, trừ trường hợp không được tiến hành
hòa giải quy định tại Điều 43 Pháp lệnh. Pháp lệnh chưa có sự phân biệt giữa vụ án
dân sự và việc dân sự, chỉ gọi chung là vụ án dân sự. Tuy nhiên, hòa giải cũng chỉ
có thể tiến hành đối với những vụ án có tranh chấp, mâu thuẫn trong quan hệ pháp
luật nội dung. Đối với những trường hợp không có tranh chấp trong quan hệ pháp
luật nội dung, Pháp lệnh đã liệt kê vào các trường hợp không được tiến hành hòa
GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Trần Hồng Ca
Trang 20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status