BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THỊ NGỌC
SỰ THAM GIA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số : 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Anh Tuấn
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trƣờng Đại học Luật Hà Nội,
các thầy cô Khoa Sau Đại học, Khoa Pháp luật Dân sự và cán bộ nhân viên
Thƣ viện Trƣờng Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá
trình tôi học tập và nghiên cứu tại trƣờng.
Đặc biệt với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến Phó giáo sƣ, Tiến sỹ Trần Anh Tuấn ngƣời đã tận tình hƣớng
dẫn tôi thực hiện công trình nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo và các đồng nghiệp tại
Tòa án nhân dân tối cao
Tố tụng dân sự
Thông tƣ liên tịch số 04/2012/ TTLTVKSNDTC-TANDTC
TTLT 02/2016 Thông tƣ liên tịch số 02/2016/TTLTTANDTC – VKSNDTC
VKSND
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA
7
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân 7
dân trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng 7
dân sự
1.1.2. Đặc điểm sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân 9
sự
1.1.3. Ý nghĩa về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân 11
sự
thẩm vụ việc dân sự
2.1.1. Quy định về kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết 27
vụ việc dân sự
2.1.2. Quy định về kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự
2.1.3. Quy định về Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm
2.1.4. Quy định về kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án.
30
32
41
2.2. Quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giải 48
quyết vụ việc dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm
2.2.1. Quy định về kháng nghị bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật
48
2.2.2. Quy định về kiểm sát việc thông báo thụ lý vụ việc dân sự tại Tòa án 52
cấp phúc thẩm
2.2.3. Quy định về việc nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát trong giai đoạn 52
chuẩn bị xét xử phúc thẩm
2.2.4. Quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong phiên tòa 53
phúc thẩm vụ việc dân sự
2.3. Quy định về sự tham gia của VKSND trong thủ tục xét lại bản án, quyết 55
định đã có hiệu lực pháp luật
2.3.1. Kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
2.3.2. Kiểm sát thụ lý vụ án ở trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm
2.3.3. Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Chƣơng 3:THỰC TIỄN THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN
3.3.1. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kiểm sát việc tuân theo pháp 82
luật trong tố tụng dân sự
3.3.2. Kiến nghị thực nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn về 88
việc tham gia tố tụng của Viện kiểm sát tỉnh Lạng Sơn
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
90
KẾT LUẬN CHUNG
91
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về cải cách tƣ pháp, thời
gian qua có nhiều quan điểm cho rằng, trong lĩnh vực tố tụng dân sự không cần
có sự tham gia can thiệp của Viện kiểm sát nhân dân bởi lẽ việc dân sự là cốt ở
đôi bên, họ có quyền tự thỏa thuận, định đoạt theo ý chí của mình, chỉ cần Tòa
án giữ vai trò trọng tài để giải quyết các tranh chấp trên cơ sở thỏa thuận giữa
các bên hoặc dựa vào chứng cứ. Mặt khác, trong vụ việc dân sự, chuyện có kẻ
thắng ngƣời thua là điều tất yếu, nếu có Viện kiểm sát tham gia là vi phạm
nguyên tắc lợi ích tƣ đang đƣợc tố tụng thế giới tôn trọng. Nếu quy định cho
Viện kiểm sát tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự chỉ để nhận định về
tố tụng xem Tòa án chấp hành đúng hay chƣa đúng thủ tục tố tụng thì không có
ý nghĩa. Trong khi đƣơng sự đã có đầy đủ quyền đƣợc yêu cầu luật sƣ, trợ giúp
pháp lý, thay đổi ngƣời tiến hành tố tụng, kháng cáo, khiếu nại với bản án,
quyết định… nên không cần sự giám sát, hỗ trợ của Viện kiểm sát. Nếu quy
cạnh nền kinh tế cửa khẩu năng động mang lại thì tranh chấp dân sự về đất,
rừng hay ly hôn do kết hôn từ tập tục hỏi lấy không qua tìm hiểu là những
nguyên nhân dân dẫn đến các tranh chấp dân sự trên địa bàn ngày càng nhiều
và phức tạp.
Lạng Sơn cũng là nơi có nhiều dân tộc khác nhau hội tụ, làm ăn, sinh sống,
trong đó phần lớn là ngƣời dân tộc thiểu số nhƣ: Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Dao,
Mƣờng, Sán Dìu, Sán Chỉ…Ngƣời dân tộc đa phần sinh sống và canh tác ở
các khu rừng núi, vùng sâu, vùng xa. Về mặt bằng chung trình độ dân trí ở
đây còn thấp, nhận thức và hiểu biết pháp luật của ngƣời dân còn hạn chế. Khi
có tranh chấp nảy sinh họ thƣờng không có khả năng tự chứng minh để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chƣa có điều kiện mời luật sƣ tham gia
bảo vệ, đội ngũ luật sƣ cũng chƣa đủ để tham gia tất cả các phiên tòa để hỗ trợ
các đƣơng sự, tính đến 31/12/2015 Đoàn Luật sƣ tỉnh Lạng Sơn mới có 22
luật sƣ trên tổng số 757 918 ngƣời dân, trung bình là 1 luật sƣ /37.900 ngƣời,
hoạt động bổ trợ tƣ pháp còn hạn chế tính đến thời điểm hiện tại cả tỉnh mới
chỉ có 7 trợ giúp viên pháp lý trong khi toàn tỉnh có 02/11 huyện nghèo và
111/226 xã đặc biệt khó khăn. Thực tiễn kiểm sát án dân sự tại Viện kiểm sát
nhân dân hai cấp của tỉnh Lạng Sơn cho thấy những sai sót, vi phạm trong quá
trình giải quyết vụ việc dân sự vẫn còn tồn tại, có nhiều vụ việc giải quyết
chƣa bảo đảm tính khách quan, giải quyết kéo dài, gây bức xúc cho đƣơng sự
dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông ngƣời làm mất ổn định trật tự xã hội. Do
đó, sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là thực sự
quan trọng và cần thiết trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay tại tỉnh Lạng
Sơn nói riêng, của cả nƣớc nói chung.
3
Trƣớc yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân phải thực hiện có hiệu quả chức
năng kiểm sát các hoạt động tƣ pháp mà Đảng và Nhà nƣớc giao cho trong
4
dân sự và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hải Phòng” tác giả Bùi Thị
Phƣợng, Luận văn thạc sĩ Luật học, trƣờng Đại Học Luật Hà Nội, năm 2015.
Bài viết từ các công trình nghiên cứu trên, mặc dù đã phân tích, luận giải
tƣơng đối chi tiết các quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự, tuy nhiên chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện, chuyên sâu về các quy định trong pháp luật tố tụng dân sự, đặc biệt
là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) về sự tham gia Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn.
Vì vậy, tác giả đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu đề tài luận văn của mình
trên cơ sở tham khảo kết quả của các bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên.
3. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận về sự tham
gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, các quy định trong các
Bộ luật tố tụng dân sự về vấn đề này, thực tiễn thực hiện pháp luật tại các
Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn và đề xuất giải pháp hoàn
thiện các quy định của pháp luật nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng dân sự.
4. Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nêu trên, Luận văn phải trả lời đƣợc
một số câu hỏi sau đây:
- Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân
dân trong tố tụng dân sự là gì?
- Việc xây dựng các quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân
dân trong tố tụng dân sự đƣợc dựa trên cơ sở nào?
- Quy định trong các Bộ luật tố tụng dân sự (2004, 2011, 2015) về sự
tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự nhƣ thế nào? Thực
khác khi có điều kiện để thực hiện. Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu một
số vấn đề lý luận cơ bản về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá luật thực định và đề ra một số
đề xuất, kiến nghị. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ đƣợc giới hạn trong
phạm vi sau đây:
- Nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa sự tham gia của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự.
- Nghiên cứu lịch sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về sự tham gia
của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự.
- Nghiên cứu các quy định của các Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam (2004,
2011, 2015) về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự.
- Nghiên cứu thực tiễn tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
6
6. Các phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện Luận văn
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc pháp luật. Những quan điểm cơ
bản của Đảng và Nhà nƣớc ta trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới và phát triển
đất nƣớc, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cải
cách tƣ pháp ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra để thực hiện Luận
văn tác giả sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: Phƣơng pháp nghiên
cứu lịch sử, phƣơng pháp so sánh luật học, phƣơng pháp phân tích, phƣơng
pháp thống kê tổng hợp.
7. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Luận văn
Về mặt khoa học: Luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch
sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về sự tham gia của Viện
dân sự
Viện kiểm sát (VKS) hay Viện công tố dù có tên gọi khác nhau nhƣng hầu
hết đều có trong bộ máy nhà nƣớc của tất cả các nƣớc. Tuy cùng mục đích là bảo vệ
pháp chế, bảo vệ lợi ích nhà nƣớc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của
nhân dân, nhƣng việc quy định vị trí, vai trò của cơ quan này ở mỗi quốc gia lại
khác nhau tùy thuộc vào truyền thống văn hóa, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế,
xã hội, quan điểm về tổ chức quyền lực nhà nƣớc của mỗi nƣớc. Tại các Quốc gia
nhƣ Anh, Mỹ, Phần Lan, Nhật Bản, Viện công tố với chức năng công tố đƣợc đặt
trong hệ thống hành pháp thuộc Chính Phủ. Một số quốc gia Viện công tố đƣợc đặt
trong hệ thống các cơ quan tƣ pháp. Các nƣớc nhƣ Việt Nam, Liên Bang Nga,
Hungari, Bồ Đào Nha thì Viện công tố là cơ quan độc lập, do Quốc Hội thành lập
và chịu sự giám sát của Quốc Hội.
Tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ở Việt Nam là Công tố viện
nằm trong hệ thống Tòa án thuộc cơ quan Tƣ pháp vào những năm 1945 -1958, đến
năm 1960 thì tách ra thành cơ quan độc lập với tên gọi là VKS. Hiến pháp các năm
1959, 1980, 1992, 2002, 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm
1960, 1989, 1992, 2002, 2014 đều khẳng định VKSND là một hệ thống cơ quan có
vị trí độc lập trong bộ máy nhà nƣớc, là một trong bốn hệ thống cơ quan cấu thành
nên bộ máy nhà nƣớc. Với vị trí quan trọng nhƣ vậy, vai trò của VKS ngày càng
đƣợc củng cố và hoàn thiện. VKSND có vai trò trong xây dựng nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con ngƣời, các quyền công dân, bảo vệ an
ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Hiến pháp năm 2013, và đƣợc cụ thể hóa,
chi tiết tại khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì “Viện
kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư
pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nhƣ vậy, ở nƣớc ta VKS có
hai chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp.
Xuất phát từ chức năng chung của ngành, VKSND tham gia vào quá trình
giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân (TAND), nhằm kiểm sát việc
VKSND nhƣ sau: Sự tham gia tố tụng dân sự của VKSND là việc VKSND tham gia
vào quá trình tố tụng dân sự với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành
nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Toà án.
1
Nguyễn Phƣơng Thúy (1996), Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ,
Trƣờng Đại Học Luật Hà Nội, Hà Nội.
9
Nhƣ vậy, sự tham gia của VKSND vào TTDS góp phần giúp Tòa giải quyết
đúng đắn vụ, việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ
chức. Đó cũng chính là bảo đảm pháp chế XHCN đƣợc tôn trọng trong toàn bộ quá
trình tố tụng của Toà án.
1.1.2. Đặc điểm sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
Nét đặc trƣng trong tổ chức và hoạt động của VKSND so với các cơ quan
khác trong bộ máy nhà nƣớc là nguyên tắc tập trung thống nhất theo ngành dọc,
nguyên tắc này trao cho VKSND quyền hoạt động độc lập, không phải chịu sự chi
phối của chính quyền địa phƣơng cũng nhƣ các cơ quan hành chính Nhà nƣớc khác
khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng, thực hiện
KSVTTPL trong TTDS. Ngoài những đặc điểm chung về chức năng của VKSND
trong bộ máy nhà nƣớc, trong lĩnh vực tố tụng dân sự VKSND có những đặc điểm
mang tính đặc thù nhƣ sau:
- Thứ nhất, VKSND là cơ quan duy nhất có quyền kiểm sát việc tuân thủ
pháp luật trong tố tụng dân sự.
Theo Hiến pháp và pháp luật, VKSND là cơ quan có chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, thực hiện quyền lực nhà nƣớc,
- Thứ ba, VKSND thực hiện sự tham gia TTDS của mình thông qua hoạt
động của Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và kiểm tra viên.
Nhƣ đã trình bày thì nội dung sự tham gia của VKSND trong TTDS đƣợc
hiểu là quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTDS. Tuy
nhiên, VKSND không thể trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn pháp luật
giao cho mà nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTDS đƣợc thực hiện thông
qua hoạt động của các chức danh pháp lý cụ thể, đó là Viện trƣởng, Kiểm sát viên
(KSV) và Kiểm tra viên VKSND các cấp.
Là ngƣời chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
VKSND về kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng nên khi tham gia TTDS, Viện
trƣởng VKS có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: Tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác
KSVTTPL trong các hoạt động TTDS nhƣ quyết định phân công Kiểm sát viên
kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên
họp giải quyết việc dân sự…Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trƣởng VKSND đƣợc
quy định tại các Điều 44, 51, 285, 307, 395, khoản 2 Điều 44 BLTTDS năm 2004
và BLTTDS sửa đổi năm 2011, nay đƣợc quy định tại các điều 57, 62, 278, 331,
354, khoản 2 Điều 504 và một số điều luật khác trong BLTTDS 2015. Ngoài ra, để
bảo đảm thực hiện đƣợc nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trƣởng VKS, khoản 2 Điều
57 BLTTDS năm 2015 quy định khi Viện trƣởng vắng mặt thì một Phó viện trƣởng
đƣợc Viện trƣởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của Viện trƣởng.
Là ngƣời tiến hành tố tụng, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ KSVTPL đối với
hoạt động tố tụng, khi tham gia vào các hoạt động TTDS Kiểm sát viên có những
nhiệm vụ, quyền hạn sau: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc
giải quyết vụ việc dân sự nhƣ kiểm sát việc thông báo thụ lý vụ án, các quyết định
tố tụng, bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự, tham gia phiên tòa xét xử vụ
án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự, phát biểu ý kiến của VKS về việc giải
11
quyết vụ việc dân sự…Hoạt động của KSV góp phần bảo đảm việc giải quyết đúng
nhằm bảo đảm cho nguyên tắc này đƣợc tôn trọng thực hiện trên thực tế.
VKSND thực hiện chức năng KSVTTPL tạo ra cơ chế để việc giải quyết các
vụ việc dân sự ở Tòa án các cấp đƣợc nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đảm bảo
tính có căn cứ và đúng pháp luật của các bản án, quyết định, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đƣơng sự.
12
1.2. Cơ sở của việc xây dựng các quy định về sự tham gia của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng dân sự
1.2.1.Về cơ sở lý luận
Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu hoạt động kiểm tra, giám sát đối với các cơ
quan Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nƣớc ta“Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”2. Sự phân công quyền lực nhà
nƣớc là để phân định nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà
nƣớc, tạo điều kiện để các cơ quan nhà nƣớc thực hiện có hiệu quả chức năng,
nhiệm vụ đƣợc giao, tránh sự lạm quyền, lộng quyền hay sự tha hóa. Việc phân định
rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan nhà nƣớc nói trên chính là tạo cơ sở
cho kiểm sát quyền lực nhà nƣớc.
Ở nƣớc ta, bất kỳ cơ quan nhà nƣớc nào cũng tồn tại bộ phận thực hiện chức
năng kiểm tra giám sát mà chúng ta thƣờng gọi là cơ chế tự kiểm tra, giám sát từ
bên trong hệ thống. Tuy nhiên, cơ chế tự kiểm tra, giám sát thƣờng luôn tồn tại sự
chủ quan, bao che, dung túng nên dễ dẫn đến sự lạm dụng quyền. Vì vậy, rất cần có
một cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên ngoài, do một cơ quan chuyên trách thực hiện
để đảm bảo sự khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự của TAND là một trong những hoạt
động tƣ pháp thực hiện quyền lực nhà nƣớc, hoạt động này tác động trực tiếp đến
quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Những sai lầm, vi phạm trong lĩnh
nƣớc để bảo vệ công lý, tránh sự lạm quyền, tiêu cực của Tòa án trong quá trình giải
quyết vụ việc dân sự. Quyền và nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự đƣợc tôn trọng.
Thứ ba, xuất phát từ đặc điểm chế độ chính trị và nguyên tắc tổ chức thực
hiện quyền lực Nhà nước ở nước ta.
Bộ máy Nhà nƣớc ta đƣợc tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, dƣới sự lãnh
đạo thống nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân
dân, nhân dân thông qua quyền lập hiến trao quyền lực nhà nƣớc của mình cho
Quốc hội. Song, do tính chất của Quốc Hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân; phần lớn đại biểu Quốc Hội làm việc theo chế độ kiêm nhiệm; chế độ làm việc
của Quốc Hội thông qua các kỳ họp v.v…nên Quốc Hội chỉ thực hiện quyền lập
Hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nƣớc và thực hiện
quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nƣớc thông qua hình thức
nghe, xem xét báo cáo (giám sát gián tiếp). Đối với hoạt động tƣ pháp, bao gồm các
lĩnh vực hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính giải, và thi
hành án, Quốc Hội phân công cho VKS thực hiện KSVTTPL, bảo đảm cho pháp
luật trong các hoạt động tƣ pháp đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Nhƣ
vậy,VKSND thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tƣ pháp nói chung và
KSVTTPL trong việc giải quyết các vụ việc dân sự nói riêng là hoạt động thực hiện
quyền lực nhà nƣớc (quyền giám sát) do Quốc Hội giao cho.
Thứ tư, xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp.
Hiện nay, Đảng và Nhà nƣớc ta đang chủ trƣơng đẩy mạnh xây dựng Nhà
nƣớc pháp quyền XHCN. Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi cá nhân, cơ
quan, tổ chức hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp
luật đều phải bị xử lý nghiêm minh. Một trong những yêu cầu quan trọng của quá
trình xây dựng và hoàn thiện nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phải đảm
14
bảo sự kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Vì vậy, duy trì hoạt động KSVTTPL trong TTDS
Bộ chính trị, Nghị Quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 202.
4
Bộ chính trị, Nghị Quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
5
Khuất Văn Nga (chủ biên, 2008), Vị trí vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư
pháp, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội, tr 192, 196-197.
6
Bộ Chính trị, Thông báo kết luận số 230-TB/TW ngày 26/3/2009 về sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số
49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
15
hiệu quả việc giải quyết các vụ án dân sự”. Kết luận số 79- KL/TW7 ngày
28.7.2010 của Bộ chính trị khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp như hiện nay”. Báo cáo
chính trị tại Đại hội XI yêu cầu “Bảo đảm tốt hơn các điều kiện về Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp”. Nhiều đạo luật liên quan đến lĩnh vực tƣ pháp đƣợc sửa đổi, bổ
sung hoặc ban hành mới theo hƣớng tăng cƣờng vai trò giám sát các hoạt động tƣ
pháp của VKSND. Các văn bản pháp luật này đều khẳng định một cách nhất quán
yêu cầu của Đảng, Quốc hội phải tăng cƣờng hơn nữa vai trò, trách nhiệm của
VKSND trong KSVTTPL trên tất cả các lĩnh vực tƣ pháp.
1.2.2.Về cơ sở thực tiễn
- Thứ nhất, xuất phát từ điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể của nước ta.
Ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển, mặt bằng dân trí cao, ngƣời dân có
nhận thức và hiểu biết pháp luật, họ có điều kiện để tự mình hoặc thuê ngƣời bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình trƣớc Tòa án. Nhƣng ở nƣớc ta, xuất phát từ
nƣớc có nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nƣớc (chiếm 80%), vừa thoát khỏi tình
trạng nƣớc có nền kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế còn
Tổng kết thực tiễn thi hành cho thấy, việc BLTTDS năm 2004 bãi bỏ thẩm
quyền khởi tố vụ án dân sự của VKS đã tạo ra một khoảng trống pháp luật. Mặc dù
BLTTDS sửa đổi năm 2011 cũng nhƣ BLTTDS năm 2015 có quy định cá nhân,
cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện
để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác, lợi ích công
cộng, lợi ích của Nhà nƣớc9. Nhƣng đến nay chƣa có cơ quan, tổ chức nào khởi kiện
nhằm bảo vệ lợi ích chung nêu trên. Trong khi thực tiễn thời gian quan cho thấy
tình trạng vi phạm pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nƣớc, lợi ích công cộng
và trật tự công cộng xảy ra nhiều và phổ biến ở các dạng nhƣ: xâm phạm tài sản nhà
nƣớc; vi phạm trong lĩnh môi trƣờng gây tác hại đến sức khỏe của con ngƣời (nhƣ
gây ô nhiễm môi trƣờng qua khí thải, rác thải, nƣớc thải từ các nhà máy, xí nghiệp,
khu công nghiệp, bệnh viện.., điển hình nhất trong thời gian gần đây là vụ nhà máy
luyện kim FORMOSSA xả thải ra biển làm chết hàng loạt cá ở các tỉnh miền Trung;
vi phạm trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm; xâm phạm đến lợi ích hợp pháp
của ngƣời chƣa thành niên trong quan hệ lao động.v.v...Nghiên cứu lịch sử pháp
luật về quyền khởi tố (khởi kiện) vụ án dân sự của Viện kiểm sát ở Việt Nam cho
thấy, khi quyền khởi tố vụ án dân sự của VKS còn đƣợc ghi nhận, hàng năm VKS
đã khởi tố hàng chục vụ án dân sự, góp phần ngăn chặn vi phạm pháp luật trong
quản lý, sử dụng tài sản Nhà nƣớc, thu hồi cho Nhà nƣớc số lƣợng lớn tài sản bị
8
Số 07/BC-LĐLSVN Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ I(2009-2014) và phƣơng hƣớng công tác nhiệm kỳ
II (2014-2019) của Liên đoàn Luật sƣ Việt Nam. ngày 23/4 /2015.
9
Cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình, cơ quan quản lý nhà nƣớc về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
có quyền khởi kiện vụ án về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điểm b, c, d, Khoản 2 Điều 10; Điểm b,
c, d, Khoản 5 Điều 84; Điểm b, c, d, Khoản 2, Điều 86; Điểm b, c, d, Khoản 3, Điều 102; Điểm b, c, d,
Khoản 2, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời khác
thoe quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, theo Khoản 2, Điều 51; Điểm a, Khoản 5, Điều 84; Điểm a,
KSVTTPL trong tố tụng dân sự là nguyên tắc của TTDS. Sau đó, BLTTDS năm
2004 hạn chế phạm vi hoạt động kiểm sát, song vẫn ghi nhận nguyên tắc KSVTTPL
trong TTDS. Trên cơ sở quy định của pháp luật, VKSND phát huy vai trò của mình,
quá trình kiểm sát đã phát hiện nhiều vi phạm, nhiều bản án, quyết định của Tòa án
có vi phạm bị kháng nghị.
Thực hiện BLTTDS năm 2004, hoạt động KSVTTPL chủ yếu tập trung kiểm
sát bản án, quyết định của Tòa án, chủ động nắm các khiếu nại của đƣơng sự đối với
việc thu thập chứng cứ của Tòa án để yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ và tham
gia phiên tòa theo quy định của pháp luật. Thông qua công tác kiểm sát việc giải
quyết các vụ việc dân sự Viện kiểm sát đã ban hành nhiều kiến nghị, kháng nghị đối
với các vi phạm của Tòa án.
- Thứ ba, xuất phát từ các tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng và phức
tạp, trong khi đó việc giải quyết của Tòa án còn nhiều sai sót cần phải có cơ chế
giám sát, kiểm sát.
Khi đất nƣớc đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập kinh tế
quốc tế, các tranh chấp dân sự diễn biến ngày càng phức tạp về tính chất, không
18
ngừng gia tăng về số lƣợng, chủng loại10 vốn đã phức tạp nay lại càng phát sinh
nhiều với tính chất phức tạp hơn. Để đạt đƣợc mục tiêu giải quyết các vụ việc dân
sự một cách nhanh chóng, khách quan, kịp thời đúng pháp luật, bảo đảm quyền và
lợi ích hợp hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức đặc biệt là những ngƣời yếu thế trong
xã hội thì ngoài cơ chế tự kiểm tra, giám sát từ bên trong thì rất cần thiết có cơ chế
kiểm tra giám sát từ bên ngoài để hạn chế những thiếu sót, sai lầm nghiêm trọng của
Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án.
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì “Tòa án nhân dân là cơ quan xét
xử của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (khoản
1 Điều 102). Nhƣ vậy, trong hệ thống các cơ quan Nhà nƣớc chỉ duy nhất Tòa án
mới có chức năng xét xử giải quyết các vụ việc dân sự. Do đó, số lƣợng các vụ án