LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép tôi được gửi lời
cảm ơn đến:
Thầy giáo Nguyễn Đình Mạnh, người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận
tình chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá tŕnh nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Các thầy cô giáo trong Ban Giám Hiệu Nhà trường, giáo viên chủ nhiệm,
các em học sinh lớp 1 cũng như các bậc cha mẹ học sinh ở trường Tiểu học Uy Nỗ
thị trấn Đông Anh - Hà Nội cùng gia đình, bạn bè đã nhiệt tình cung cấp số liệu, tài
liệu cũng như khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ dẫn và góp ý
của thầy cô, bạn bè và bạn đọc để cho công trình nghiên cứu của tôi được hoàn
thiện hơn.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Sinh viên
Phạm Thị Hiền
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Nghiên cứu khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1 trường tiểu học Uy Nỗ Đông Anh - Hà Nội” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của
thầy giáo TS. Nguyễn Đình Mạnh không trùng với kết quả nghiên cứu nào khác.
Các số liệu, kết quả thu thập trong khoa luận là: trung thực, rõ ràng, chính xác và
chưa từng công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào.
Nếu sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Sinh viên
Phạm Thị Hiền
2.3.2.2 Điều tra chính thức....................................................................................................
2.3.2.3 Phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và quan sát ...............................................
2.3.2.4 Thực nghiệm sư phạm................................................................................................
2.4 Các phương pháp nghiên cứu ..........................................................................................
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu ..................................................................................
2.4.2 Phương pháp quan sát ...................................................................................................
2.4.3 Phương pháp điều tra viết .............................................................................................
2.4.4 Phương pháp trắc nghiệm .............................................................................................
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn
3.1 Thực trạng khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1...............................................................
3.1.1 Thực trạng khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1 từ đánh giá của HS lớp 1, giáo
viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh..................................................................................
3.1.2 Thực trạng khó khăn tâm lí của học sinh lớp1 theo nhìn nhận của chính bản
thân các em.............................................................................................................................
3.2 Một số nhân tố dẫn đến khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1 ...........................................
3.2.1 Tác động của các nhân tố chủ quan ..............................................................................
3.2.1.1 Trí tuệ của học sinh lớp 1...........................................................................................
3.2.1.2 Tâm thế sẵn sàng đi học của trẻ vào lớp 1 .................................................................
3.2.2 Tác động của nhân tố khách quan đến những khó khăn tâm lí của học sinh
lớp 1........................................................................................................................................
3.2.2.1 Mối quan hệ của giáo viên với học sinh ....................................................................
3.2.2.2 Chuẩn bị của gia đình cho trẻ vào lớp 1 ....................................................................
3.2.2.3 Ứng xử của bố mẹ với trẻ ..........................................................................................
3.2.2.4 Điều kiện môi trường sống, học tập...........................................................................
3.3 Kết quả thử nghiệm ..........................................................................................................
3.3.1 Thử nghiệm một số biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí cho học sinh lớp 1 ............
3.3.2 Kết quả thử nghiệm tác động ........................................................................................
Kết luận và kiến nghị
của trẻ sau này. Điều này gây ra cho gia đình và nhà trường cũng như xã hội những
nỗi lo mang tên “khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1”. Tuy nhiên, nếu hiểu được
những khó khăn tâm lí của trẻ và có biện pháp giúp trẻ khắc phục thì trẻ sẽ thích
nghi với hoạt động học tập tốt hơn, tiếp thu sự giáo dục được thuận lợi hơn. Từ đó
giúp trẻ đạt kết quả cao trong hoạt động học tập và phát triển tốt tâm lí cũng như
nhân cách của trẻ.
Những áp lực từ phía phụ huynh, áp lực từ phía nhà trường tới trẻ đi học lớp
1 trên thực tế vẫn đang diễn ra dẫn đến những khó khăn tâm lí cho trẻ khi đi học.
Qua khảo sát thử cũng như quan sát trên học sinh lớp 1, qua phỏng vấn giáo viên
đã và đang trực tiếp dạy lớp 1, chúng tôi nhận thấy, học sinh khi đi học lớp 1 gặp
rất nhiều khó khăn tâm lí và những khó khăn này cản trở hoạt động học tập và sinh
hoạt của trẻ trong nhà trường. Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu
về học sinh lớp 1 song, những khó khăn tâm lí của trẻ còn ít được nghiên cứu. Bởi
vậy, nghiên cứu những khó khăn tâm lí của trẻ đầu lớp 1 là cần thiết để giúp các
bậc phụ huynh, các thầy cô giáo - những người làm công tác giáo dục - nhận thức
được các khó khăn tâm lí của trẻ khi vào học lớp 1 và có biện pháp thích hợp nhằm
khắc phục và hạn chế khó khăn tâm lí cho trẻ khi đi học lớp1.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Từ nghiên cứu lí luận và thực tiễn, khóa luận phát hiện những khó khăn tâm
lí của trẻ lớp 1 và một số nhân tố dẫn tới những khó khăn đó. Trên cơ sở kết quả
nghiên cứu đề xuất một số biện pháp tác động đến giáo viên và cha mẹ học sinh
nhằm giúp học sinh khắc phục khó khăn tâm lí và học tập tốt hơn.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1.
4. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Khảo sát chính thức được tiến hành trên 96 học sinh cùng 96 phụ huynh học
sinh, 2 giáo viên chủ nhiệm của hai lớp 1D, 1E và 4 giáo viên bộ môn.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
7.2 Giới hạn về địa bàn và khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trường Tiểu học Uy Nỗ - thị trấn Đông Anh,
thành phố Hà Nội. Trong đó khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu khó khăn tâm lí
của 96 học sinh thuộc hai lớp 1D, 1E.
8. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Phương pháp quan sát.
Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung.
Phương pháp thử nghiệm tác động.
Phương pháp thống kê toán học.
9. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA KHÓA LUẬN
9.1 Đóng góp về mặt lí luận
Khóa luận đã xây dựng được các khái niệm công cụ của đề tài như “khó
khăn tâm lí”, “khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1”. Xác định được về mặt lí luận
các nhân tố tác động đến khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1: trí tuệ của học sinh,
tâm thế sẵn sàng đi học của trẻ, quan hệ giữa giáo viên và học sinh, sự chuẩn bị
của gia đình cho trẻ vào lớp 1, ứng xử của cha mẹ với trẻ. Chỉ ra được mối tương
quan giữa những khó khăn tâm lí và các nhân tố tác động đến những khó khăn này
của học sinh lớp 1 trong hoạt động học tập và trong sinh hoạt.
9.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy hầu hết học sinh khi đi học lớp 1 đều
gặp khó khăn tâm lí ở các mức độ khác nhau.
Khó khăn tâm lí của học sinh lứa tuổi này là khá đa dạng. Những khó khăn
tâm lí mà các em thường gặp phải khi bắt đầu tham gia vào quá trình học tập chủ
yếu ở các mặt: hành vi thực hiện nội quy học tập; hành vi thực hiện nề nếp sinh
hoạt và học tập; hành động đọc, viết, làm toán; sự tự chủ khi chuyển trạng thái từ
học sang chơi và ngược lại; thái độ đối với học tập và thiết lập các mối quan hệ
nhược năng hiểu về cử chỉ, điệu bộ; tâm trạng thất vọng, sự lo lắng, những khó
khăn gắn liền với sự thiếu hụt về sự phát triển tính tự chủ; khó khăn trong giao
tiếp; khó khăn trong việc thích ứng với nhịp độ nhanh của các giờ học…
1.1.1.2 Những nghiên cứu về các nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lí ở học
sinh
Theo V.A Cruchetxki, Schwarzer, P. Zettergren, Mowei Liu, Xinyin Chen,
Bianka Zazzo, A.V.Petrovxki… KKTL của học sinh nói chung và học sinh lớp 1
nói riêng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Có những nguyên nhân liên
quan đến hoạt động học tập hoặc do quan hệ bạn bè, giữa giáo viên và học sinh.
Cũng có thể là do thay đổi môi trường hoạt động, khả năng thích nghi môi trường
học kém; do sự khác biệt tâm lí, chậm phát triển các chức năng tâm lí; nguyên
nhân nằm trong sự phát triển xã hội của trẻ hay nguyên nhân từ phía gia đình
1.1.1.3 Những nghiên cứu về các biện pháp khắc phục khó khăn tâm lí cho trẻ
khi đi học
Một số nhà tâm lí học như Guimard Philippe, Florin Agnes, Laura Stephens,
Mukhina, Buroova A.V… đã đưa ra một số biện pháp khắc phục những khó khăn
tâm lí cho học sinh khi đi học như: phát triển sự làm chủ ngôn ngữ nói làm cơ sở
thuận lợi cho việc tự chủ về ngôn ngữ viết; sự quan tâm của bố mẹ trong những
năm tháng đầu đời; tương quan tích cực giữa người lớn với trẻ…
1.1.2. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lí của học sinh ở trong nước
Một số nhà tâm lí học Việt Nam lại có các nghiên cứu về khó khăn tâm lí
của học sinh trong các hoạt động trong và ngoài học tập.
1.1.2.1 Những nghiên cứu về khó khăn tâm lí ngoài hoạt động học tập
Các tác giả đã đề cập đến các vấn đề khó khăn của học sinh trong các hoạt
động giao tiếp, ứng xử trong các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô; khó khăn trong
việc tham gia các hoạt động ngoại khóa, việc thích nghi với môi trường học mới…
1.1.2.2 Những nghiên cứu khó khăn tâm lí trong hoạt động học tập
Một số đề tài nghiên cứu đề cập đến vấn đề này như:
- Trẻ phải giữ kỷ luật lớp học, phải ngồi yên cả buổi, cả tiết học.
- Trẻ phải học một chương trình nặng hơn so với tuổi mẫu giáo.
- Trẻ ít được bố mẹ vỗ về, âu yếm hơn trước và trẻ luôn chịu sự kiểm tra,
đánh giá của bố mẹ.
Tác giả Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm “6 tuổi vào lớp 1” đã chỉ ra nhiều
khó khăn tâm lí mà trẻ lớp 1 phải vượt qua. Tác giả cho rằng: “ Trong quá trình lớn
lên của trẻ em, có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác,
trẻ em đi học phải thay đổi phương thức hoạt động một cách khá triệt để. Việc thay
đổi một cách đột ngột phương thức học tập khi vào học lớp 1 là một “cửa ải” mà
không dễ gì vượt qua. Trẻ gặp phải một số khó khăn chủ yếu là:
- Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhảy, hoạt động tuỳ hứng
ở mẫu giáo và khép mình vào kỷ luật nghiêm khắc của lớp học phổ thông.
- Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ với thầy cô.
- Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào lớp 1 với sự hân hoan chờ đón những điều hấp
dẫn, được thay bằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ.
Trong bài viết “Chuẩn bị tâm lí cho trẻ vào lớp 1”, tác giả Phạm Thị Đức
cũng nêu ra một số khó khăn tâm lí của trẻ em khi đi học:
- Chưa quen với chế độ học tập.
- Chưa có thói quen nắm các dữ kiện, câu hỏi của bài tập, yêu cầu của cô
giáo trước khi bắt tay vào hành động.
- Nhút nhát, mất bình tĩnh trước hoàn cảnh mới.
- Chưa có động cơ học tập đúng đắn.
Trong bài viết “Một số trở ngại tâm lí của trẻ khi vào học lớp 1”, tác giả Vũ Ngọc
Hà đã chỉ ra một số trở ngại tâm lí mà trẻ thường gặp khi vào học lớp 1 đó là:
- Khó khăn trong việc thích nghi với môi trường mới.
- Khó khăn trong các mối quan hệ.
- Khó khăn khi phải đến trường.
Tác giả Nguyễn Xuân Thức với các bài viết “ Khó khăn tâm lí của trẻ em
học. qua đó cũng mong góp phần cải thiện những khó khăn mà các em gặp phải để
giúp các em tiến bộ hơn trong học tập và tham gia các hoạt động trong trường.
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÍ CỦA HỌC SINH
ĐẦU LỚP 1
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1 Học sinh lớp 1
Theo quy định tuyển sinh vào lớp 1 của Sở GD&ĐT Hà Nội , học sinh lớp 1
là những trẻ em đủ 6 tuổi đối với trẻ bình thường và độ tuổi từ 7 -9 tuổi với các
trường hợp trẻ khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em ở nước
ngoài về nước.
Trẻ lớp 1 có các đặc điểm tâm sinh lí sau:
Đặc điểm sinh lí
Hệ xương: hệ xương của trẻ lớp 1 còn nhiều mô sụn. Xương sống, xương
hông, xương chân, xương tay đang trong thời kì phát triển (thời kì cốt hóa) nên dễ
bị cong vẹo, gẫy dập. Vì thế trong các hoạt động vui chơi của các em, cha mẹ và
thầy cô cần chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh,
an toàn.
Hệ cơ: đang trong thời kì phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi
vận động như chạy nhảy, nô đùa. Vì vậy mà các nhà giáo dục ( phụ huynh, giáo
viên) nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp
và đảm bảo sự an toàn cho trẻ.
Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của
các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu
tượng. Do đó các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui, các cuộc thi
trí tuệ…. Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các
câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em.
Chiều cao của trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi có chiều cao khoảng 106 cm (nam)
và 104 cm (nữ); cân nặng đạt 17,5 kg (nam) và 15,1 kg (nữ). Đây là chỉ số trung
Nhận thức lý tính:
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan
hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng
khái quát, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học
sinh lớp 1
Tưởng tượng của học sinh lớp 1 đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm
non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên,
hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi.
Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 1:
Hầu hết học sinh lớp 1 có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu
xuất hiện ngôn ngữ viết. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự
học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh
thông tin khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính
và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của
trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của
trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát
triển trí tuệ của trẻ. Chú ý và sự phát triển nhận thức: Học sinh lớp 1 chú ý có chủ
định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai
đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này
chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động,
hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,...Sự tập
trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ
bị phân tán trong quá trình học tập.
Trí nhớ và sự phát triển nhận thức: Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm
ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic. Giai đoạn lớp 1ghi nhớ máy móc phát triển tương
đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ
chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết
thiếu thốn [tr35].
Theo “Từ điển láy tiếng Việt”: khó khăn nghĩa là có nhiều trở ngại làm mất
nhiều công sức [tr 201].
Từ đây ta có thể hiểu khó khăn nghĩa là những cản trở, trở ngại đòi hỏi nhiều nỗ
lực để vượt qua.
Từ đây, chúng tôi đưa ra định nghĩa về khó khăn tâm lí như sau: Khó
khăn tâm lí là những thiếu thốn, những biểu hiện tâm lí tiêu cực và những thói
quen có ảnh hưởng xấu (gây trở ngại) đến quá trình và kết quả của hoạt động.
Trong cuộc sống hàng ngày, với bất kỳ hoạt động nào mà con người tham gia
không phải bao giờ cũng đạt được những mục tiêu như đã đề ra. Bởi trong hoạt động,
con người có thể gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, thiếu thốn cả về mặt vật chất lẫn
tinh thần. Đặc biệt, trước một môi trường sống mới, một hoạt động mới, con người
chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí, sức khoẻ, vật chất... của bản thân cũng như
những điều kiện, áp lực từ môi trường bên ngoài làm cho con người không thể thích
ứng một cách kịp thời, có thể bị “choáng”, bị “sốc”. Chính những yếu tố này làm cho
hoạt động trí tuệ chệch hướng hoặc không thể tiếp tục được nữa, kết quả không được
như mong muốn. Những khó khăn, đặc biệt là khó khăn tâm lý làm xuất hiện những
hiện tượng tâm lý tiêu cực, gây ra sự choáng váng, chán nản, mệt mỏi làm ảnh hưởng
xấu đến tâm thế và chất lượng, hiệu quả công việc, đôi khi gây cho con người sự nhụt
chí không thể vượt qua được, có thể ảnh hưởng đến các nét nhân cách.
Khó khăn tâm lý xuất hiện do nhiều yếu tố khác nhau: những yếu tố bên ngoài
(yếu tố khách quan) và những yếu tố bên trong (yếu tố chủ quan).
Những yếu tố bên ngoài được kể đến như là những điều kiện, phương tiện của
hoạt động, đó là môi trường gia đình, nhà trường và xã hội. Những yếu tố này ảnh
hưởng gián tiếp đến quá trình hoạt động của con người. Tuy nhiên, trong một số trường
hợp nào đó, nó có vị trí hết sức quan trọng đến quá trình và kết quả hoạt động tâm lí của
chủ thể hoạt động.
Những yếu tố bên trong: là những yếu tố xuất phát từ bản thân mỗi chủ thể
cầu lĩnh hội những tri thức và kỹ năng để đáp ứng với yêu cầu học tập. Tuy nhiên,
trong giai đoạn đầu ở nhà trường tiểu học, trẻ phải tuân thủ những yêu cầu của nhà
trường hình thành những hành vi và hứng thú học tập. Trẻ gặp phải một số khó
khăn ở mức độ nhất định. Những khó khăn tâm lí mà học sinh lớp 1 thường gặp
phải là:
Thứ nhất, “những khó khăn liên quan đến việc thay đổi chế độ sinh hoạt do
hoạt động học tập đòi hỏi”. Trẻ phải hình thành thói quen sinh hoạt mới đặc biệt là
chế độ học tập. Những quy định trong sinh hoạt của trẻ trước khi đến trường
thường chỉ là những ước định mang tính cá thể. Trước đó, trẻ thường được thỏa
mãn các nhu cầu vui chơi, nghỉ ngơi và ăn uống... Việc tham gia các hoạt động
chung cũng xuất phát phần lớn từ nhu cầu cá nhân.
Ở trường phổ thông, các quy định trong sinh hoạt hoàn toàn mang tính
nguyên tắc, quy định đối với giờ học, giờ chơi, quy định các yêu cầu về kiến thức,
kỹ năng trong mỗi tiết học, bài học được định lượng và định tính rõ ràng trở thành
yêu cầu bắt buộc phải thực hiện đối với học sinh. Khó khăn đầu tiên với trẻ khi vào
học lớp 1 là sự thay đổi thói quen trong sinh hoạt mà điểm đáng chú ý là thói quen
về chế độ học tập. Trong các giờ học đầu tiên ở lớp 1 (khoảng nửa thời gian của
học kỳ I) phần lớn trẻ còn ngơ ngác, lúng túng trước yêu cầu của giáo viên. Nhiều
trẻ lơ đãng, ngủ gật, mệt mỏi, bứt rứt ngồi học không yên. Kết quả là nhiều trẻ đã
gặp thất bại trong học tập, sau đó là chán học. Những khó khăn này gắn với thói
quen và nề nếp sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Nếu ở tuổi mẫu giáo lớn các bậc cha
mẹ và cô giáo đã có sự rèn luyện, chuẩn bị trước thì trẻ đầu lớp 1 sẽ dần vượt qua
mọi trở ngại. Đến hết lớp 1, tình trạng lúng túng với chế độ học tập mới về cơ bản
đã chấm dứt, dần dần trẻ đi vào nề nếp học tập. Theo A.V.Petrovxki: khó khăn này
sẽ được khắc phục bằng việc “chỉ cần giáo viên và cha mẹ học sinh diễn đạt dễ
hiểu và rõ ràng những yêu cầu mới đối với đời sống của trẻ, thường xuyên kiểm tra
việc trẻ thực hiện các yêu cầu đó, dùng những biện pháp khích lệ và trừng phạt có
tính đến những đặc điểm cá nhân của trẻ”.