Rèn luyện kỹ năng tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 5 qua dạy học giả các bài tập đại lượng và đo đại lượng - Pdf 31

Trường đại học sư phạm hà nội 2
KHOA GIáO Dục TIểU HọC
********************

Vũ thị lan anh

RèN LUYN K NNG T DUY SNG
TO CHO HC SINH LP 5 QUA DY
HC GII CC BI TP I LNG
V O I LNG

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Toán Tiểu học

Hà Nội - 2013

1


Trường đại học sư phạm hà nội 2
KHOA GIáO Dục TIểU HọC
********************

Vũ thị lan anh

RèN LUYN K NNG T DUY SNG
TO CHO HC SINH LP 5 QUA DY
HC GII CC BI TP I LNG
V O I LNG

Khoá luận tốt nghiệp đại học

sinh lớp 5 qua dạy học giải các bài tập Đại lượng và đo Đại lượng mà kết
quả mà em đã trực tiếp nghiên cứu, tìm tòi thông qua sự hướng dẫn của thầy
cô, sự giúp đỡ của bạn bè.
Trong quá trình nghiên cứu, em có sử dụng tài liệu của một số nhà
nghiên cứu, một số tác giả đã được trích dẫn đầy đủ. Tuy nhiên, đó chỉ là cơ
sở để em rút ra những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình.
Khoá luận này là kết quả của riêng cá nhân em, không trùng với các kết
quả của các tác giả khác. Những điều em nói ở trên là hoàn toàn đúng sự thật.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên

Vũ Thị Lan Anh

4


Mục lục

Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mở đầu .......................................................................................................... 1
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn ..................................... 7
1.1 Cơ sở lí luận................................................................................................. 7
1.1.1 Tư duy....................................................................................................... 7
1.1.2. Tư duy sáng tạo ....................................................................................... 8
1.1.3. Một số yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo......................................... 11
1.1.4. Vận dụng tư duy biện chứng để phát triển tư duy sáng tạo cho HS. ..... 16
1.1.5. Cần thiết phải phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ngay từ bậc Tiểu
học. .................................................................................................................. 17
1.1.6. Tiềm năng của đại lượng trong việc rèn luyện kĩ năng tư duy sáng tạo



Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lí luận
Thế giới ngày nay đang thay đổi theo một tốc độ luỹ thừa. Nhằm đáp
ứng được những thay đổi nhanh chóng đó trong khoa học, công nghệ, truyền
thông, chúng ta không những dựa trên các giải pháp của quá khứ mà còn phải
tin tưởng vào những quá trình giải quyết các vấn đề mới. Điều này không chỉ
hàm ý nói đến những kỹ thuật mới mà còn nói đến mục tiêu giáo dục. Mục
tiêu của giáo dục phải là phát triển một xã hội trong đó con người có thể sống
thoải mái với sự thay đổi hơn là sự xơ cứng. Vì thế bắt buộc bản thân các nhà
giáo dục phải vừa giữ gìn, lưu truyền tri thức và các giá trị của quá khứ vừa
chuẩn bị cho một tương lai mà ta chưa biết rõ.
Hơn nữa, Toán học có liên quan chặt chẽ với thực tế và có ứng dụng
rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ, sản xuất và
đời sống xã hội hiện đại. Nó thúc đẩy mạnh mẽ các quá trình tự động hoá sản
xuất, trở thành công cụ thiết yếu cho mọi ngành khoa học và được coi là chìa
khoá của sự phát triển.
Không những thế, xuất phát từ những yêu cầu xã hội đối với sự phát
triển nhân cách của thế hệ trẻ, từ những đặc điểm của nội dung mới và từ bản
chất của quá trình học tập buộc chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh. Việc học tập tự giác tích
cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải có ý thức về những mục tiêu
đặt ra và tạo được động lực trong thúc đẩy bản thân họ tư duy để đạt được mục
tiêu đó. Trong việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh ở trường Tiểu học,
môn Toán đóng vai trò rất quan trọng. Nội dung giảng dạy của Tiểu học luôn
gắn liền với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống. Mỗi môn học ở Tiểu
học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Các
kiến thức, kỹ năng của môn Toán có nhiều ứng dụng trong đời sống, giúp học

chỉnh ở lớp 5. Các bài tập về chuyển đổi đơn vị đo lường mang tính khái quát
cao, nó là một thuộc tính trừu tượng của các sự vật và hiện tượng. Đó là một
trong những bài tập có tác dụng rèn luyện tư duy tốt.

2


1.2. Cơ sở thực tiễn
Thực tế trong quá trình giảng dạy đổi các đơn vị đo lường tôi thấy có
đầy đủ các dạng: đổi từ đơn vị nhỏ sang đơn vị lớn và ngược lại rồi đổi từ danh
số đơn sang danh số phức và ngược lại v.v. Đối với lứa tuổi Tiểu học, hoạt
động nhận thức chủ yếu dựa vào hình dạng bên ngoài, chưa nhận thức rõ
thuộc tính đặc trưng của sự vật. Do đó, học sinh rất khó khăn trong việc nhận
thức Đại lượng.
Bên cạnh đó, việc dạy học giải các dạng toán về Đại lượng trong thực
tế nhiều giáo viên còn lúng túng, chưa nắm vững kiến thức khoa học của tuyến
kiến thức này, chưa khai thác được quan hệ giữa tri thức khoa học và tri thức
môn học. Học sinh còn hay nhầm lẫn trong quá trình luyện tập nên hiệu quả
học tập chưa cao mà đặc biệt các bài tập về chuyển đổi đơn vị đo lường lại có
hiệu quả cao trong việc rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh Tiểu học. Hơn
thế nữa, vấn đề rèn luyện kĩ năng tư duy sáng tạo cho học sinh đã được nhiều
tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Với tác phẩm "Sáng tạo toán
học" nổi tiếng, nhà toán học kiêm tâm lý học G.Polya đã nghiên cứu bản chất
của quá trình giải toán, quá trình sáng tạo toán học. Đồng thời trong tác phẩm
"Tâm lý năng lực toán học của học sinh",
Krutecxiki đã nghiên cứu cấu trúc năng lực toán học của học sinh. ở
nước ta, các tác giả Hoàng Chúng, Nguyễn Cảnh Toàn, Phạm Văn Hoàn,
Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Tôn Thân, Phạm Gia Đức, đã có nhiều
công trình giải quyết những vấn đề về lý luận và thực tiễn việc phát triển tư
duy sáng tạo cho học sinh. Như vậy, việc rèn luyện kĩ năng tư duy sáng tạo

toán sau này. Các bài toán vận dụng những tư liệu phương tiện này có số
lượng càng lớn, có dạng muôn màu muôn vẻ thì mức độ sáng tạo của tư duy
càng cao. Thí dụ: lúc những cố gắng của người giải vạch ra được các phương
thức giải áp dụng cho những bài toán khác. Việc làm của người giải có thể là
sáng tạo một cách gián tiếp, chẳng hạn, lúc ta để lại một bài toán tuy không
giải được nhưng tốt vì đã gợi ra cho người khác những suy nghĩ có hiệu quả".
Tác giả Trần Thúc Trình đã cụ thể hóa sự sáng tạo với người học Toán:
"Đối với người học Toán, có thể quan niệm sự sáng tạo đối với họ, nếu họ
đương đầu với những vấn đề đó, để tự mình thu nhận được cái mới mà họ chưa
từng biết. Như vậy, một bài tập cũng được xem như là mang yếu tố sáng tạo

7


nếu các thao tác giải nó không bị những mệnh lệnh nào đó chi phối (từng phần
hay hoàn toàn), tức là nếu người giải chưa biết trước thuật toán để giải và phải
tiến hành tìm hiểu những bước đi chưa biết trước. Nhà trường phổ thông có thể
chuẩn bị cho học sinh sẵn sàng hoạt động sáng tạo theo nội dung vừa trình bày.
Theo định nghĩa thông thường và phổ biến nhất của tư duy sáng tạo thì
đó là tư duy sáng tạo ra cái mới. Thật vậy, tư duy sáng tạo dẫn đến những tri
thức mới về thế giới về các phương thức hoạt động. Lene đã chỉ ra các thuộc
tính sau đây của tư duy sáng tạo:
- Có sự tự lực chuyển các tri thức và kỹ năng sang một tình huống sáng tạo
- Nhìn thấy những vấn đề mới trong điều kiện quen biết "đúng quy cách"
- Nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết
- Nhìn thấy cấu tạo của đối tượng đang nghiên cứu
- Kỹ năng nhìn thấy nhiều lời giải, nhiều cách nhìn đối với việc tìm hiểu
lời giải (khả năng xem xét đối tượng ở những phương thức đã biết thành một
phương thức mới)
- Kỹ năng sáng tạo một phương pháp giải độc đáo tuy đã biết nhưng

hoá, khái quát hóa, cụ thể hoá và các phương pháp suy luận như: quy nạp, suy
diễn, tương tự, dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác, điều
chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ khi gặp trở ngại.
Tính mềm dẻo của tư duy còn là năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh
chóng trật tự của hệ thống tri thức chuyển từ góc độ quan niệm này sang góc
độ quan niệm khác, định nghĩa lại sự vật, hiện tượng, gạt bỏ sơ đồ tư duy có
sẵn và xây dựng phương pháp tư duy mới. Nó tạo ra sự vật mới trong những
quan hệ mới, hoặc chuyển đổi quan hệ, nhận ra bản chất sự vật và điều phán
đoán. Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc các kiến
thức kỹ năng đã có sẵn vào hoàn cảnh mới, điều kiện mới, trong đó có những
yếu tố đã thay đổi, có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm của những
9


kinh nghiệm, những phương pháp, những cách suy nghĩ đã có từ trước. Đó là
nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấy chức năng mới của
đối tượng quen biết.
Ví dụ: Một bếp ăn tập thể cần lấy ở kho ra 6 kg gạo để nấu cơm nhưng
chỉ có một cái cân có hai đĩa và một quả cân 1 kg. Hỏi người đầu bếp phải làm
thế nào để với số lần cân ít nhất lấy đựoc số gạo đó?
Khi học sinh giải bài toán này các em phải dựa vào các dữ kiện có trong
bài cùng với vốn kinh nghiệm của bản thân để suy luận, lập luận tìm cách lấy
6 kg gạo từ trong kho với số lần cân ít nhất. HS suy nghĩ và bắt đầu thử thách
cách cân khác nhau. Qua các lần cân như vậy, HS sẽ chuyển từ cách suy luận
này sang cách suy luận khác. Ngoài ra, cách giải dạng toán này cũng không
tuân theo một khuôn mẫu nào cả, giúp các em chống lối suy nghĩ rập khuôn,
máy móc.
Như vậy, tính mềm dẻo là một trong những đặc điểm cơ bản của tư duy
sáng tạo. Do đó, để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh ta có thể cho các
em giải các bài tập mà thông qua đó rèn luyện được tính mềm dẻo của tư duy.

Trong dạy học Đại lượng và đo Đại lượng để rèn luyện tính nhuần
nhuyễn của tư duy sáng tạo cho HS cần phải rèn luyện cho HS kỹ năng xử lí
khi giải toán một cách đa dạng, tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ
khác nhau. GV có thể khai thác các dạng bài tập này thông qua một số nội
dung trong mạch Đại lượng và đo Đại lượng như: khối lượng, thời gian, tiền
Việt Nam, dung tích...
1.1.3.3. Tính độc đáo
Tính độc đáo của tư duy được đặc trưng bởi các khả năng:
- Khả năng tìm ra những hiện tượng và những kết hợp mới
- Khả năng nhìn ra những mối liên hệ trong những sự kiện mà bên ngoài
liên tưởng như không có liên hệ với nhau
- Khả năng tìm ra những giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác
Các yếu tố cơ bản trên không tách rời nhau mà trái lại chúng có quan hệ
mật thiết với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau. Khả năng dễ dàng chuyển từ
hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác (tính mềm dẻo) tạo điều kiện

11


cho việc tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau
(tính nhuần nhuyễn). Nhờ đó, đề xuất được nhiều phương án khác nhau mà có
thể tìm được giải pháp lạ, đặc sắc (tính độc đáo). Các yếu tố này có quan hệ
khăng khít với các yếu tố khác như: tính chính xác, tính hoàn thiện, tính nhạy
cảm vấn đề. Tất cả các yếu tố đặc trưng nói trên cùng góp phần tạo nên tư duy
sáng tạo, đỉnh cao nhất trong các hoạt động trí tuệ của con người.
Ví dụ: Có 1 cái cân đĩa và 1 quả cân 200g. Làm thế nào để lấy ra được
2,2 kg gạo từ 1 túi gạo có 9kg với số lần cân ít nhất?
1.1.3.4. Tính hoàn thiện
Tính hoàn thiện là khả năng lập kế hoạch, phối hợp các ý nghĩa và hành
động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và kiểm chứng ý tưởng.

trọng hơn là giải pháp hay kết quả cuối cùng. Các bước của quá trình sáng tạo
được tổng kết ở 5 giai đoạn sau:
1. Kích thích: Những kích thích tư duy sáng tạo bắt nguồn từ tính tò mò
hay thắc mắc và thích hỏi.
2. Khám phá: Tư duy sáng tạo căn cứ vào những điều đã biết để biết để
tìm ra những điều chưa biết. Trẻ em cần được giúp đỡ và hướng dẫn để trẻ có
khả năng khám phá, đôi khi phải xem xét lại từ đầu tất cả những gì mà các em
đã tiếp nhận một cách tự nhiên. Có nhiều nguyên tắc và kỹ năng có thể sử
dụng cho khám phá như:
- Đa dạng hoá tư duy
- Có xét đoán khác nhau
- Phát huy nỗ lực
- Bố trí thời gian
- Khích lệ tham gia
3. Lập kế hoạch: Giai đoạn này liên quan đến ba bộ phận thường đan
xen nhau:
- Xác định vấn đề hay nhiệm vụ
- Thu thập thông tin
- Làm cho sự vật xuất hiện rõ ràng

13


4. Hoạt động: Quá trình sáng tạo bắt đầu từ một ý tưởng hay một loạt ý
tưởng. Chúng ta cần tạo điều kiện để trẻ em hiện thực hoá tư duy sáng tạo
bằng các hoạt động.
5. Tổng kết: Khi một ý tưởng đã thực hiện hoá, một vấn đề đã được giải
quyết, một khám phá đã kết thúc thì tiếp đó là việc đánh giá và tổng kết bằng
những câu hỏi: Chúng ta đã làm gì? Chúng ta đã đạt được mục đích chưa?...
Các giai đoạn này có thể đan xen nhau và trẻ em có thể bắt đầu hoặc kết

rèn luyện tư duy biện chứng cho học sinh từ đó có thể rèn luyện được tư duy
sáng tạo cho học sinh.
1.1.5. Cần thiết phải phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ngay từ cấp
Tiểu học
Theo Luật Giáo dục 2005, những mục tiêu cơ bản của bậc học phổ
thông nói chung, bậc học Tiểu học nói riêng là hình thành và phát triển được
nền tảng tư duy của con người trong thời đại mới, bao gồm: Những kiến thức
và kĩ năng cơ bản như: đọc, viết, tính toán và những kiến thức cơ bản của các
môn học trong nhà trường phổ thông; những kĩ năng tư duy và hoạt động sáng
tạo như: biết cách suy luận, phát hiện và giải quyết vấn đề, biết cách học và tự
học, có tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,...; phẩm chất và nhân cách con
người mới như: có bản lĩnh, có ý thức và tinh thần trách nhiệm, trung thực,
biết tự quản lý và làm chủ bản thân, có đời sống nội tâm phong phú, có nhân
cách cao cả... Trong đó, mục tiêu phát triển năng lực giải quyết vấn đề, tư duy
sáng tạo ở người học được vô cùng coi trọng. Điều này thể hiện trong nhà
trường chính là thông qua dạy kiến thức để hình thành và phát triển năng lực
tư duy, phát triển trí tuệ, tư duy sáng tạo và các phẩm chất nhân cách khác của
học sinh. Như vậy, thông qua dạy và học để tạo nền móng trí tuệ, cách thức
giải quyết vấn đề, hoạt động sáng tạo ở người học được xem như một trong
những mục tiêu cơ bản, trọng tâm của giáo dục ở nhà trường phổ thông nói
chung, nhà trường Tiểu học nói riêng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước hiện nay.

15


Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh cũng chính là đỏi hỏi của chính
bản thân học sinh để có thể có cơ hội học tập tốt hơn, được thừa nhận và tôn
trọng, có điều kiện tốt hơn để thành công. Có tư duy sáng tạo là điều kiện tiên
quyết giúp học sinh có cái nhìn phê phán, biện chứng đối với mọi vấn đề để từ

một đòi hỏi của chính quá trình giáo dục, là nhiệm vụ trọng tâm cơ bản trong
mục tiêu giáo dục toàn diện. Tư duy sáng tạo không chỉ đáp ứng quá trình
nhận thức, chiếm lĩnh những tri thức khoa học nền tảng với yêu cầu ngày một
cao mà nó còn là đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ học tập, hoạt
động thực tiễn ngày một cao và phức tạp đối với sự phát triển toàn diện nhân
cách cá nhân, đồng thời thích ứng nhanh với cuộc sống năng động ngày nay
ngay từ khi còn là học sinh đầu bậc học phổ thông.
1.1.6. Tiềm năng của Đại lượng và đo Đại lượng trong việc bồi dưỡng tư
duy sáng tạo cho học sinh.
Trong quá trình học Toán thì kỹ năng vận dụng Toán học là quan trọng
nhất, nhà trường phổ thông không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức
Toán học, mà còn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tính độc lập, sự độc
đáo và khả năng sáng tạo.
Các nhà tâm lý học cho rằng: "Sáng tạo bắt đầu từ thời điểm mà các
phương pháp logic để giải quyết nhiệm vụ là không đủ và gặp trở ngại hoặc
kết quả không đáp ứng được các đòi hỏi đặt ra từ đầu hoặc xuất hiện giải pháp
mới tốt hơn giải pháp cũ". Chính vì vậy, điều quan trọng là hệ thống bài tập
cần phải được khai thác và sử dụng hợp lý nhằm rèn luyện cho học sinh khả
năng phát triển tư duy sáng tạo biểu hiện ở các mặt như: khả năng tìm hướng
đi mới (khả năng tìm nhiều lời giải khác nhau cho một bài toán), khả năng tìm
ra kết quả mới (khai thác các kết quả của một bài toán, xem xét các khía cạnh
khác nhau của một bài toán).
Chủ đề Đại lượng chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn trong việc bồi
dưỡng và phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh. Bên cạnh việc giúp học
sinh giải quyết các bài tập sách giáo khoa, giáo viên có thể khai thác các tiềm
năng đó thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập mới trên cơ sở hệ thống bài
tập cơ bản, tạo cơ hội cho học sinh phát triển năng lực sáng tạo của mình.

17


18


1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh lớp 5 thông qua dạy
học Đại lượng và đo đại lượng ở trường Tiểu học Ngô Quyền.
1.2.1.1 Điều tra thực trạng
1.2.1.1.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng rèn luyện kĩ năng tư duy sáng tạo cho học sinh lớp
5 thông qua việc dạy học Đại lượng và đo đại lượng ở trường Tiểu học Ngô
Quyền.
1.2.1.1.2 Đối tượng và địa điểm điều tra
Giáo viên đang trực tiếp giảng dạy khối 5 tại trường Tiểu học Ngô
Quyền. Tổng số giáo viên là 4.
1.2.1.1.3 Nội dung điều tra
Để điều tra thực trạng rèn luyện kỹ năng tư duy sáng tạo cho học sinh
lớp 5 thông qua dạy học giải các bài toán về Đại lượng và đo đại lượng ở
trường Tiểu học Ngô Quyền tôi đã sử dụng phiếu điều tra và đề nghị giáo viên
trả lời các câu hỏi. Bên cạnh đó, tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số
giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 5 trường Tiểu học Ngô Quyền.
1.2.1.2 Phân tích kết quả điều tra
Qua bảng thống kê kết quả điều tra( phụ lục 2), có thể rút ra một số kết
luận sau:
- Theo kết quả điều tra, tôi nhận thấy rằng hiện nay nhiều giáo viên đã
hiểu đúng về tư duy sáng tạo, tuy nhiên tỉ lệ giáo viên hiểu sai nghĩa về tư duy
sáng tạo vẫn còn khá đông. Có rất nhiều giáo viên vẫn quan niệm rằng: Tư
duy sáng tạo là tư duy hợp lý để nhanh chóng đưa ra cách giải đúng cho một
bài toán.
- Hầu hết giáo viên đều chú ý đến việc rèn kĩ năng tư duy sáng tạo cho
học sinh không chỉ trong dạy học toán mà còn trong dạy học nói chung. Và họ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status