Thực trạng vấn đề phát triển nông thôn ở các nước Châu Á và ở Việt Nam - Pdf 31

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA CHUYÊN ĐỀ
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề được quan tâm ở tất cả các quốc
gia. Ở những nước khác nhau, tùy theo cách giải quyết của mỗi nước trong
quá trình công nghiệp hóa mà vấn đề này tác dộng tích cực hay hạn chế đến
sự phát triển KT-XH
Ở một nước đang phát triển, gần như toàn bộ thu nhập nông thôn đều
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nông nghiệp. Do đó, tăng thu nhập khu
vực nông nghiệp sẽ có tác động lan tỏa ra cả nền kinh tế nông thôn. Tăng
trưởng của khu vực nông nghiệp đóng góp trực tiếp vào phúc lợi cho người
dân nông thôn bằng cách tăng thu nhập của người nông dân và gia đình của
họ. Tăng trưởng của khu vực nông nghiệp cũng tạo ra những lợi ích kinh tế
gián tiếp vượt ra ngoài cổng trang trại, lan tỏa ra cả nền kinh tế nông thôn
rộng lớn hơn. Phần thu nhập nông thôn tăng thêm nhờ cầu của khu vực nông
nghiệp đối với lao động và dịch vụ nông nghiệp tăng, và từ những chi tiêu
trong nền kinh tế địa phương của những người có thu nhập tăng lên nhờ cách
này. Do đó, bất cứ chiến lược phát triển nông thôn nào – nghĩa là để tăng thu
nhập nông thôn – phải dựa một cách vững chắc vào sự tăng trưởng bền vững
lợi nhuận của khu vực nông nghiệp.
Tuy nhiên, tăng khả năng lợi nhuận của khu vực nông nghiệp không
phải là con đường duy nhất để phát triển nộng thôn như những kinh nghiệm
mang tính so sánh đã cho thấy rõ. Tại các nền kinh tế trong khu vực đã theo
đuổi một cách thành công công cuộc công nghiệp hóa sử dụng nhiều lao
động , thì việc di cư của người lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp đã làm
tăng tỷ số lao động/diện tính ruộng đất và giảm tỷ lệ phụ thuộc ở nông thôn.
Yếu tố thứ nhất cho phép tích tụ ruộng đất và tái phân bổ quyền quản lý
ruộng đất cho phép tích tụ ruộng đất và giảm tỷ lệ phụ thuộc ở nông thôn.
Yếu tố thứ hai làm tăng thu nhập bình quân đầu người nhờ giảm số người
phụ thuộc vào nông nghiệp.Tại các nền kinh tế thành công nhất (như Thái
Lan, Malaixia, Hàn Quốc và Đài Loan), tăng trưởng của khu vực phi nông
nghiệp đã làm tăng tiền lương trong toàn nền kinh tế, theo đó tăng thu nhập

+ Phương pháp phân tích số liệu: Thống kê kinh tế; Phân tích kinh tế;
Dự báo thống kê.
+Phương pháp xử lý số liệu

2


PHẦN II. NỘI DUNG
I.
KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TRUNG QUỐC,
NHẬT BẢN, HÀN QUỐC
1.1. Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Trung Quốc.
1.1.1. Tình hình nông thôn trung quốc:
Trong các năm 1990 nền kinh tế của TQ đã gặp một số khó khăn làm cho
tăng trưởng 12 % năm từ 2002 đến 2005 giảm xuống 8 % năm từ 2006 đến
2002.
Năm 2004 số nông dân làm việc ở đô thị hơn 100 triệu, tăng mỗi năm 8,5 %.
Trong 15 năm tới sẽ có thêm 150 triệu ra đô thị. Lao động ra đô thị tìm việc
có việc làm không ổn định, tiền công thấp, thiếu nhà ở ổn định, không được
tiếp xúc với giáo dục và y tế.
Trong một báo cáo điều tra tình hình nông thôn năm 2004-2005 của Viện
khoa học xã hội TQ có đề ra những vấn đề của nông thôn TQ:
1.Thời gian gần đây 40 triệu nông dân mất đất do công nghiệp hoá và đô thị
hoá.
2. Khoảng cách giữa thu nhập đô thị và nông thôn tăng lên.
Năm 1978 mức chênh lệch là 1:2,57. Năm 2003 đến 2005 mức chênh lệch
này là 1:3,23, 1:3,21, 1:3,22. Năm 2006 thu nhập của dân nông thôn chỉ
bằng một phần ba của dân đô thị. Tuy vậy theo các nhà kinh tế nếu tính cả
các loại trợ cấp và lưu chuyển chi tài chính của chính phủ mà dân đô thị
nhận được thì mức chênh lệch lên đến 5

9) Cải cách thế chế về nông lâm nghiệp.
1.1.2.2. Các chính sách tam nông trong phát triển nông thôn Trung quốc
trong thời gian gần đây
Chính sách tam nông:
1) Tăng thu nhập nguời dân
2) Tiêu thụ hành hóa nông sản
3) Ổn định xã hội nông thôn.
4


Do vậy quan điểm chính sách phát triển nông thôn được xác định như sau.
1. Ủng hộ tích cực với chính sách phát triển nông thôn, khống chế ổn
định giá cả nông sản, thực phẩm, hỗ trợ nông nghiệp. Tăng cường đầu
tư cho nông thôn.
2. Quan tâm tầng lớp nông dân ra thành thị làm việc (công nhân, nông
dân). Đảm bảo xã hội, giáo dục để cân bằng đãi ngộ, ổn định cuộc
sống.
3. Vấn đề xã hội: Xóa chế độ hộ khẩu nông thôn, tạo điều kiện cho nông
dân di cư và sinh sống tại đô thị.
4. Đảm bảo công bằng, an sinh xã hội cho người già yếu, tàn tật ở nông
thôn
1.1.2.3. Chính sách đất đai
Chính sách đất đai và đô thị hóa: Nhiều địa phương đã bán đất cho
doanh nghiệp để lấy tiền, chính sách đất đai dễ dãi để thu hút đầu tư.
Để lập lại trật tự cho vấn đề này, Chính chủ xác định 180 triệu mẫu (15
mẫu=01 ha) cố định không thay đổi. Đưa ra luật bảo hộ đất đai canh tác cơ
bản. Khi đã là đất canh tác cơ bản, không được chuyển đổi mục đích sử
dụng.
Chính sách đất đai được làm rất rõ: Hiện nay, các dự án đầu tư phải
được thống nhất với người dân rồi mới triển khai dự án. Phải có chữ kí của

Kinh nghiệm thành phố Nam hải, thành phố Phật sơn tỉnh Quảng đông
- là vùng mạnh về nông nghiệp và phi nông nghiệp. Nông dân sống không
dựa vào nông nghiệp để phát triển kinh tế. Chính sách thử nghiệm tập trung
vào: 1) Cổ phần hóa đất đai, khoán, thầu; 2) Nông dân trở thành cổ đông và
được chia lợi nhuận; 3) Đất đai này được đưa ra cho đấu thầu với doanh
nghiệp địa phương và bên ngoài; 4) Thu nhập của nông dân trên cơ sở phân
chia lợi nhuận giữa doanh nghiệp và nông dân.
Kinh nghiệm Huyện Châu Độ tỉnh Sơn Đông: Huyện Châu Độ có số
dân đông, người dân có cơ hội sản xuất phi nông nghiệp. Tại vùng này đã
thử nghiệm loại chính sách hai điền: 1) kết hợp việc khoán thầu, tách rời
quyền sở hữu và quyền sử dụng đất.2) Chia ruộng ra làm nhiều loại: ruộng
nhân khẩu theo bình quân ruộng gia đình và ruông khoán để giao cho dân.
Nông dân dựa trên khả năng của mình để thầu sử dụng đất đai.Việc khoán
thầu đã sử dụng hiệu quả đất đai. Thu nhập của cấp địa phương tăng. Nhưng
6


hình thức khoán này đã lan ra các vùng nghèo, đã làm tăng thêm gánh nặng
cho dân, một số địa phương dừng lại, do vậy TW đã khuyến cáo không cổ
vũ loại chính sách này.
1.1.2.4. Chính sách tín dụng tại nông thôn Trung quốc
-

Hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nông thôn
(thủ tục vay và lãi suất), đặc biệt xác định danh sách các doanh nghiệp
đầu rồng tại từng vùng để hỗ trợ.

-

Hỗ trợ phát triển hệ thống tín dụng nhỏ kiểu Gramy Bank Băng la dét


Trung quốc thúc đẩy phát triển mạnh các HTX chuyên ngành theo
ngành hàng, phát triển các hiệp hội ngành nghề theo ngành, tăng cường
liên kết dọc.

-

Chính sách hỗ trợ liên kết nông dân-doanh nghiệp: nhà nước cổ vũ, hỗ
trợ các doanh nghiệp đầu rồng liên kết với nông dân để phát triển.

1.1.2.6. Chính sách xóa đói giảm nghèo
7


-

Giai đoạn những năm 80: xóa đói giảm nghèo mang nặng tính chất
cứu tế, ban cho

-

Giai đoạn cuối thế kỉ 20: Tập trung giúp đỡ các vùng nghèo ít có khả
năng phát triển kinh tế về đào tạo, đưa nghề mới vào, dịch chuyển người
nghèo ở vùng ít tài nguyên sang vùng khác giàu tài nguyên hơn. Kết quả
có tác động khả quan, giúp giải quyết 200 triệu hộ nghèo đói. Tuy nhiên
ở vùng núi cao do tập quán di dân nên không có khả năng phát triển.

-

Từ năm 2007, chính phủ Trung quốc đưa ra chính sách hỗ trợ người

1.1.2.8. Chính sách môi trường

8


-

Đại hội 17 Đảng CS Trung quốc, TBT Hồ Cầm Đào đã đề cập cần cải
thiện tình hình môi trường nông thôn. Nếu các cơ sở sản xuất không đạt
yêu cầu về môi trường, sẽ đóng cửa không cho sản xuất.

-

Bồi thường khu vực sinh thái: Nhà nước khoanh vùng bảo hộ sinh
thái, trên cơ sở đó nhà nước tiến hành đánh thuế, bỏ tiền ra để cải tạo môi
trường.

1.1.2.9. Mô hình nông thôn mới
Tại các khu vực thử nghiệm, các mô hình nông thôn mới được chú trọng xây
dựng theo các mức độ, qui mô khác nhau. Để định hướng cho nội dung này,
cuối năm 2004, TW Trung quốc đưa ra mục tiêu xây dựng nông thôn mới.
1. Sản xuất và phát triển
2. Sinh họat và giàu có
3. Văn minh nông thôn
4. Nông thôn, nông nghiệp sạch sẽ: đường, trường, phong cảnh nông
thôn...
5. Quản lí dân chủ
1.1.3. Thành tựu đạt được
a) Thu nhập và tiêu dùng của cư dân nông thôn
Điều tra mẫu trên 68000 hộ nông thôn ở 31 tỉnh thành, khu vực tự trị và đô

năm 2005, chi phí cuộc sống bình quân của người nông dân là 2555 Nhân
dân tệ, tăng 11,5% hay 371 Nhân dân tệ trên thực tế đã tính đến các yếu tố
giá và mẫu.
1.2. Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Nhật Bản
1.2.1. Khái quát về nông thôn Nhật Bản
Hiện nay, Nhật Bản đang phải đối mặt với một thách thức vô cùng khó
khăn, đó là lực lượng sản xuất già cỗi và không được bổ sung, tình trạng số
nông dân trồng lúa ngày càng ít đi. Những cánh đồng, thửa ruộng bị bỏ
hoang, cỏ mọc um tùm là cảnh thường gặp. Tờ New York Times cho biết,
trong 15 năm qua, giá đất nông nghiệp tại nhiều vùng SX trọng điểm đã
giảm 70%, số lượng nông dân cũng giảm đi một nửa kể từ năm 1990. Sản
lượng gạo và ngũ cốc chủ lực cũng giảm 20% trong một thập kỷ. Theo số
liệu của Cục Thống kê Nhật Bản, hiện quốc gia này phải nhập đến 61%
lương thực. Hệ thống kinh tế nông nghiệp già cỗi đang chịu lực cản từ các
mô hình trang trại cá thể, gia đình nhỏ bé, kém hiệu quả. Theo tính toán,
nông trường thương mại ở Nhật Bản có diện tích trung bình chỉ 4,6ha, kém
nhiều lần so với con số 440ha ở Mỹ.
10


Cũng giống như thành thị, nông thôn Nhật Bản đang đối mặt với sức ép
của tình trạng tỷ lệ dân số già ngày càng tăng. Nhưng trong khi thành phố
vẫn được bổ sung lực lượng, thậm chí là ưu tú nhất thì nông thôn không chỉ
giảm mà còn bị "chảy máu" người ra thành thị. 70% trong 3 triệu nông dân
nước này có độ tuổi 60, thậm chí già hơn. Từ năm 2000, sự thiếu hụt lao
động nông nghiệp đã buộc Nhật Bản phải cắt giảm nhân công ở các dự án
công cộng để bổ sung cho các trang trại, cánh đồng. Lực lượng lao động tại
Nhật Bản là 66,44 triệu người, trong đó lao động nông nghiệp chỉ chiếm
4,6%, tạo ra tỷ trọng giá trị chiếm 1,6% GDP.


nông nghiệp tăng trưởng ổn định.
Bước ngoặt chính sách nông nghiệp của Nhật Bản thực sự bắt đầu khi
Luật nông nghiệp cơ bản được ban hành năm 1961, với hai phương hướng
chính sách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản
xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất
những nông phẩm có sức tiêu thụ kém; hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp kể cả
việc phát triển những nông hộ và HTX có năng lực quản ký kinh doanh và
canh tác.
Trong những năm 1960-1970 sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật đã
đấy thu nhập của nhân dân tăng đáng kể. Cũng trong thời gian này lao động
trong nông nghiệp giảm xuống khoảng 50%, song năng suất lao động lại
tăng bình quân hằng năm 5-8% nhờ tăng cường cơ giới hóa và cải tiến quy
trình kĩ thuật. Đây là tỷ lệ tăng bình quân cao nhất ở những nước phát triển.
Các ngành chế biến thực phẩm phát triển giúp cho người dân ở nông thôn có
thêm nhiều việc làm, thu nhập được cải thiện, do đó Nhật Bản đã tạo cho
mình một thị trường nội địa đủ lớn cho hàng hóa công nghiệp tích lũy lấy đà
chuyển sang xuất khẩu. Khi sản xuất hàng hóa lớn phát triển, Nhật Bản tập
trung đất đai, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nông hộ lớn hoặc trang
trại để tạo điều kiện cơ giới hóa, tăng năng suất lao động, tăng khả năng
cạnh tranh.
12


Bên cạnh đó, cải cách ruộng đất 1945 và 1948 đã tạo động lực kích
thích mạnh mẽ nông nghiệp phát triển, mở rộng việc mua bán nông phẩm và
tăng nhanh tích lũy. Để duy trì những vùng đất tốt phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp, năm 1969 nhà nước đã ban hành Luật cải tạo và phát triển
những vùng đất có khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp. Đến năm 1970,
Luật đất đai nông nghiệp và Luật hợp tác xã nông nghiệp được sửa đổi bổ
sung đã nới rộng quyền hạn cho thuê, phát canh đất sản xuất nông nghiệp

triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng
lợi rực rỡ. Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không
chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực,
quốc gia khác trên thế giới. Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong
khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát
triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm”. Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng
một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để
ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong
chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình
công nghiệp hóa đất nước mình.
1.2.2.3. Chính sách “Ly nông bất ly hương”
Với chính sách “Ly nông bất ly hương” Nhật Bản đã thực hiện thành công
với hai nhóm chính sách chính: phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa
công nghiệp lớn về nông thôn để tạo sự gắn bó hài hòa phát triển nông thôn
với phát triển công nghiệp, xóa bỏ khoảng cách giữa đô thị và nông thôn.
Đây là một thành công chưa từng có ở các nước công nghiệp hóa trước đây
và hiện tại đây vẫn là thách thức cho mỗi quốc gia trong quá trình công
nghiệp hóa. Ở Nhật Bản không chỉ các ngành chế biến nông sản mà cả các
ngành cơ khí, hóa chất đều được phân bố trên toàn quốc. Từ khi bắt đầu
công nghiệp hóa (năm 1983), 80% nhà máy lớn đã được xây dựng ở nông
thôn; 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, năm
1960 tỷ lệ này tăng lên 66%. Nhờ chủ trương này mà công nghiệp sử dụng
được một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có thu nhập cao. Năm 1950
thu nhập phi nông nghiệp đóng góp gần 30% tổng thu nhập của cư dân nông
thôn Nhật Bản, năm 1990 tăng lên tới 85%.
1.2.2.4.

Phát triển cộng đồng nông thôn qua các tổ chức HTX


ổn định hàng chục năm, giá nông sản được duy trì ở mức cao, giá vật tư
được giữ thấp.
Tầng lớp nông dân nhỏ cạnh tranh thành công trên thị trường là nhờ
kinh tế hợp tác rất phát triển. Gần 100% nông dân ở Nhật bản là hội viên
nông hội và xã viên HTX. Hệ thống HTX và nông hội được tổ chức theo
nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và dân chủ ra quyết định. Các
cấp quản lý có trách nhiệm thực hiện đúng nhiệm vụ được nông dân ủy thác,
bảo vệ và phản ánh quyền lợi của nhân dân. Trên cơ sở là tổ chức thực sự
của dân, vì dân và do dân, HTX và nông hội được nhà nước hỗ trợ và trao
cho các quyền hết sức quan trọng, quyết định vận mệnh sống còn của sản
15


xuất và đời sống nông dân. HTX là kênh tiêu thụ chính cho phần lớn nông
sản, cung ứng vật tư, máy móc, thiết bị, tín dụng, bảo hiểm rủi ro, khuyến
nông. Từ 1990 HTX còn mở rộng ra các lĩnh vực phúc lợi xã hội như y tế,
giáo dục, văn hóa, cảu thiện điều kiện sống, du lịch, tư vấn nông nghiệp và
đặc biệt là thương mại.
1.3. Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Hàn Quốc
1.3.1. Thưc trạng tình hình nông thôn ở Hàn Quốc.
Vào những năm 1960, nông thôn Hàn Quốc còn hết sức lạc hậu, đời
sống nhân dân còn gặp vô vàn khó khăn. Trong cả nước có 34% dân thuộc
vào nhóm nghèo đói ,GDP bình quân đầu người thời bấy giờ chỉ có 85 USD.
Phần lớn người dân không đủ ăn, 80% người dân nông thôn vẫn phải sống
trong mái nhà lá và 80% không có điện thắp sáng mà vẫn phải dùng đèn dầu.
Xã hội Hàn Quốc bị phân chia thành hai khối có đời sống tinh thần
khác hẳn nhau. Trong khi một bộ phận cư dân thành thị tích cực học tập, với
quyết tâm đổi đời thì đại bộ phận nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn,
mang trong mình tư tưởng bi quan, ỷ lại, lối thoát duy nhất của họ là rời bỏ
quê hương, di chuyển về đô thị. Nhân dân trong nước chưa có nhận thức về

vượng.
Các làng xã và xí nghiệp đều được trang bị thư viện Saemaul và các phương
tiện vui chơi giải trí khác. Đặc biệt, thư viện ở nông thôn đều có sách về các
phương pháp canh tác mới. Đây là bước đột phá lớn ở nông thôn và là
nguyên nhân chính gia tăng thu nhập. Năm 1974, sản lượng lúa tăng đến
mức độ có thể tự cấp tự túc. Phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một
cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác. Nuôi lợn, bò, gà cũng đem lại
lợi nhuận đáng kể. Các làng chài cũng chuyển từ đánh bắt sang nuôi trồng
thủy sản. Tập quán trồng lúa và lúa mạch xưa kia đã được thay thế triệt để
bằng các phương pháp canh tác tổng hợp.

17


Thành công của phong trào Seamaul ở nông thôn lan tới các vùng không làm
nông nghiệp như trường học, công sở, thành phố, nhà máy với nhiều lĩnh
vực khác nhau. Các thành phố bắt đầu các dự án chống tham nhũng và xây
dựng một đô thị hoàn hảo. Ba chiến dịch Seamaul Udong đã được phát động
là chiến dịch tinh thần, cư xử và môi trường.
Tại nhà máy, phong trào Seamaul hướng tới khôi phục niềm tin và nâng cao
khẩu hiệu “ mọi công nhân trong nhà máy đều là thành viên trong một gia
đình, việc của nhà máy là việc của bản thân”, đoàn kết, đồng lòng cùng xây
dựng nhà máy phát triển vững mạnh. Việc củng cố nền tảng cho sự ổn định
của các ngành công nghiệp được chú trọng bằng cách thu hẹp khoảng cách
về hệ thống giá trị giữa công nhân và giới chủ và xây dựng những quy tắc
ứng xử lành mạnh. Thêm vào đó, dịch vụ công cộng ở nông thôn cũng là
một cách để xây dựng những quy tắc đạo đức đúng đắn.
1.3.2.2. Kích thích sự tham gia bằng những lợi ích thiết thực:
Giai đoạn đầu của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, Chính phủ Hàn
Quốc không có nhiều kinh phí, do đó, Chính phủ đã khéo léo sử dụng chính

- 68.797 cầu nông thôn (bê tông, cốt thép);
- 7.839 km đê được cứng hóa;
- 24.140 hồ chứa nước được xây dựng;
- 98% hộ được dùng điện.

19


Nhờ khơi dậy nội lực của nông dân mà nông thôn Hàn Quốc đã có những
biến đổi to lớn. Cuối những năm 80, nông thôn Hàn Quốc đã có những dấu
hiệu của sự phát triển và đô thị hóa.
Chính phủ cho xây dựng các nhà máy ở nông thôn để gia tăng thu nhập. Các
nhà máy đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều phụ nữ. Kết quả là thu
nhập ở nông thôn tăng đều đặn. Năm 1977, có 98% các xã đã có thể độc lập
về kinh tế.
-Chiến dịch tinh thần bao gồm mối quan hệ thân thiện hơn với láng giềng, kế
thừa và phát huy những truyền thống dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo và
nâng cao ý thức cộng đồng. Chiến dịch cư xử nhấn mạnh tới trật tự công
cộng trên đường phố, những cách ứng xử tích cực, hành vi nơi công cộng và
cấm say rượu dẫn tới cư xử không đúng đắn. Chiến dịch môi trường nhấn
mạnh vấn đề vệ sinh khu vực đang sống và làm việc, gìn giữ môi trường
đường phố và phát triển màu xanh ở thành phố cũng như các con sông.
-Tại nơi làm việc, các chiến dịch tập trung chủ yếu vào việc tạo ra các giá trị
và niềm tin lành mạnh cùng với cung cách ứng xử xã hội đúng mực giữa
những người đồng nghiệp. Mục tiêu chính là tạo ra sự thống nhất và kỷ
cương, giúp phát triển nông thôn và giúp những người vô gia cư.
1.3.2.3 Thực hiện các chính sách hỗ trợ cho nông dân:
Để nông thôn có đủ nguồn lực và liên tục phát triển, Hàn Quốc đã tìm
mọi cách. Cụ thể là:
– Áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy nông nghiệp, điện giá

hàng năm, Nhà nước chọn khoảng 1.000 lao động trẻ dưới 35 tuổi cho họ
tiếp nhận khoản vốn vay ưu đãi với mức tối đa tương đương 75.000 USD để
họ tham gia hoạt động nông nghiệp.
- Áp dụng chính sách chỉ bán đất sản xuất nông nghiệp cho những người
đăng ký là nông dân.
- Thực hiện chính sách người từ thành phố về sinh sống ở nông thôn được
trợ cấp lần đầu 50.000 USD và nhiều ưu đãi khác.
1.3.2.4. Hệ thống HTX ở Hàn Quốc, quyền lực của nông dân
21


Trước đây, HTX cơ sở cấp xã đã hình thành tự phát nhưng do những
hạn chế về quan niệm lịch sử, về hình thức hoạt động, và ảnh hưởng của
chiến tranh nên hoạt động của các HTX dần trở nên không phù hợp. Sau nội
chiến năm 1961, nhận thấy lực lượng nông dân có ý nghĩa sống còn về kinh
tế và chính trị với đất nước, Chính phủ Hàn Quốc đã thiết lập Liên đoàn
HTX Nông nghiệp Quốc gia (NACF) dựa trên hai tổ chức hoạt động độc lập
lúc đó là Ngân hàng Nông nghiệp và tổ chức HTX cũ. Sau đó, Liên đoàn
tiến hành thiết lập mạng lưới HTX từ trung ương xuống cơ sở nhằm thực
hiện 2 mục tiêu cơ bản:
·
Cung cấp vốn cho nông dân. Trong giai đoạn này, thị trường vốn
hoạt động yếu, đặc biệt trên địa bàn nông thôn, nông dân thường phải vay
nặng lãi, ảnh hưởng xấu tới sản xuất và đời sống. Chính phủ Hàn quốc đã
ban hành luật cấm cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn và muốn thông
qua hoạt động của các HTX nông nghiệp hỗ trợ vốn cho nông dân mua
nguồn vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất.
·
Tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Để thúc đẩy đa dạng hoá sản
phẩm nông nghiệp như một biện pháp nâng cao đời sống của cộng đồng

cũng như tham gia HTX.
Đến cuối thập kỷ 70, các chức năng hay qui mô hoạt động của các HTX căn
bản đã được hình thành. Các hoạt động này bao gồm từ khâu hỗ trợ tín dụng,
bảo hiểm, cung cấp vật tư nông nghiệp cho đến các hoạt động xúc tiến
thương mại, thông tin thị trường…

II. BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Như chúng ta đã biết cả thế giới đang nín thở với sự phát triển thần kỳ
của Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản. Để làm được tốc độ phát triển kỳ
diệu các quốc gia này đã thực hiện chinh sách phát triển nông nghiệp, nông
thôn làm nền tảng cho công cuộc phát triển đất nước. Qua đó Việt Nam đã
rút ra được kinh nghiêm cho mình.
1. Cần có chính sách xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững tai các
khu vưc thuộc 62 huyện nghèo như nghị quyết 35a giai đoạn I va II. Nhà
nước cần hỗ trợ vốn taị các huyên để phát triển kinh tế, cải thiện mức sống,
và có các chính sách kêu goi nguồn nhân lưc vê các huyên phát triển kinh tế.
kêu goi đầu tư, hỗ trợ và ưu đãi về vốn.
2. Nhà nước ban hành pháp luật điều chỉnh thuế, giảm khoảng cách
chênh lêch giàu nghèo, về hỗ trợ nông dân bảo vệ quyền lợi và hòa nhập
vào đời sống đô thị.
- Đồng thời, Nhà nước cũng sẽ giảm bớt những hạn chế đối với hộ khẩu
thường trú để có thêm nhiều nông dân có thể chuyển về thành phố và được
hưởng các quyền lợi cũng như dịch vụ công cộng giống như các cư dân
thành phố gốc.
23


- Người lao động nhập cư cũng sẽ được tham gia các chương trình bảo hiểm
y tế và lương hưu cơ bản tại các thành phố. Chính phủ cũng sẽ nỗ lực giải
quyết các vấn đề ảnh hưởng xấu đến lợi ích của nông dân như việc thu hồi

chuyển đổi tính chất của tăng trưởng kinh tế đất nước, Trung Quốc chủ
trương:
- Tăng cường đầu tư công nghệ, hiện đại hóa nông nghiệp, nghiên cứu các
loại giống mới, hỗ trợ chương trình biến đổi gien, đầu tư hệ thống tưới tiêu,
cải tạo đất nhằm tăng sản lượng và chất lượng nông sản.
- Thúc giục các bộ, ngành liên quan nghiên cứu các chính sách ưu đãi để
hướng thêm các nguồn nhân lực được đào tạo và các viện nghiên cứu khoa
học về các khu vực nông thôn.
- Kêu gọi và khuyến khích các nhà đầu tư và các hoạt động đầu tư phát triển
bất động sản và các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khác ở nông thôn.
6. Tăng cường vai trò của Chính phủ trong các hoạt động tín dụng
nông nghiệp và nông thôn, thể hiện ở các nội dung sau:
- Xây dựng và quản lý các quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn, sử
dụng đất, thực hiện chính sách giao đất và cấp chứng nhận quyền sử dụng
đất tạo thuận lợi cho các hoạt động xúc tiến đầu tư và cho vay, thế chấp
trong tín dụng nông thôn. Đặc biệt, cần khuyến khích quá trình tích tụ ruộng
đất cho kinh doanh lớn thông qua những điều chỉnh thích hợp và mạnh dạn
về hạn điền và thời gian, phương thức giao đất. Việt Nam thời Pháp thuộc,
chỉ có 2,7 triệu mảnh ruộng, nhưng hiện tại, mặc dù quá trình công nghiệp
hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể,
nhưng số lượng mảnh ruộng lại gia tăng lên 3,5 - 3,7 triệu mảnh.
- Thực hiện các hỗ trợ trực tiếp tài chính - tín dụng trong những trường hợp
đặc biệt, như khắc phục hậu quả thiên tai, phát triển vùng sâu, vùng xa, miền
núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; thực hiện các chương trình thí điểm xây
dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp...
- Hỗ trợ đào tạo cán bộ và hoạt động của các tổ chức tổ chức tín dụng, nhất
là ở vùng khó khăn, như tuyên truyền chính sách vay vốn đến từng hộ gia
đình; thực hiện đơn giản hoá và rút ngắn thời hạn thủ tục đăng ký và cấp sổ
đỏ xác nhận chủ quyền đất, hoàn thiện Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm,
giảm bớt quy định quản lý (nhất là những áp đặt về lãi suất) đối với các tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status