TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2007 - 2011
Đề Tài:
VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA TẠI
PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Mạc Giáng Châu
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thanh Nhân
MSSV: 5075208
Lớp: Tư pháp II K33
Cần Thơ, 11/2010
.........................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
Luật sư bào chữa, là người trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị
can, bị cáo, trong các vụ án hình sự ở các giai đoạn tố tụng: khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án. Vì chức năng, nhiệm vụ của luật sư đã được quy tại định Luật luật
sư ngày 29/6/2006 Điều 3 ghi: “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần
bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Như vậy, bằng hoạt động nghề nghiệp của mình, tổ chức luật sư hoặc luật sư bào chữa
góp phần tích cực bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng
pháp luật, thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân
chủ xã hội chủ nghĩa. Nghị định 15/HĐBT ngày 21/2/1989 (đã hết hiệu lực) của Hội
đồng Bộ trưởng từng nói: “Luật sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Con người là vốn quý của tự nhiên
và của xã hội. Bảo vệ quyền con người là mục tiêu của các thiết chế Nhà nước dân chủ
và tiến bộ. Bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền công dân là tiêu chí đánh giá sự văn
minh, tiến bộ của một xã hội hiện đại. Ngày nay, đất nước ta đang trên đà phát triển về
mọi mặt. Song song với việc phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng chăm lo xây
dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, xây dựng một hệ thống
pháp luật bảo đảm cho việc phát triển các quyền tự do dân chủ của công dân.
Việc đảm bảo có luật sư bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một
quyền quan trọng của công dân nếu họ không tự mình thực hiện quyền bào chữa khi
tham gia tố tụng với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Nguyên tắc bảo đảm
quyền bào chữa là nguyên tắc Hiến định được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp
đã ban hành của nước ta. Đồng thời đây cũng là một nguyên tắc đặc thù của Luật Tố
tụng hình sự. Việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế đã góp phần không nhỏ vào
việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; giúp
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn
diện và đầy đủ.
Để đạt được mục đích đó, việc xét xử của Toà án phải đảm bảo công lý. Luật sư
bào chữa, qua việc làm sáng tỏ sự thật về vụ án và vận dụng đúng đắn pháp luật có liên
quan, góp phần tích cực cùng với Toà án, bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người,
bào chữa.
Do chỉ giới hạn trong thời gian cho phép của luận văn nên với đề tài này người
viết chỉ tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, thực tiễn về quyền và nghĩa vụ của luật
sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Đề tài còn đề cập đến thực trạng áp dụng
luật, những quy định làm hạn chế vai trò luật sư bào chữa trong luật tố tụng hình sự.
Qua đó nhằm làm rõ cơ sở lý luận cũng như ý nghĩa, vai trò của luật sư bào chữa và
hướng khắc phục giúp luật sư bào chữa thực hiện tốt hơn quyền và nghĩa vụ mà pháp
Luật Tố tụng hình sự Việt Nam quy định.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận pháp lý cũng như thực
tiễn về quyền và nghĩa vụ của luật sư bào chữa. Từ đó chỉ ra những vấn đề chưa phù
hợp, chưa hiệu quả trong các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư
bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Đồng thời chỉ ra những hạn chế, thiếu sót,
vướng mắc trong quá trình áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật cũng như thực
tiễn về vai trò của luật sư, luật sư bào chữa trong giai đoạn hiện nay để từ đó đưa ra
những biện pháp, phương hướng hoàn thiện, khắc phục và đảm bảo cho việc tham gia
tố tụng của luật sư, luật sư bào chữa được thực thi một cách hiệu quả triệt để và hoàn
thiện hơn.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
2
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về vai trò
của luật sư bào chữa nói riêng và pháp luật về tố tụng hình sự nói chung, gớp phần xây
dựng và hoàn thiện cũng cố pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
3
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT SƯ BÀO CHỮA
Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, bên cạnh thẩm quyền của các cơ quan
tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng với tư cách là người đại diện cho Nhà
nước thì sự tham gia của luật sư bào chữa có vai trò rất quan trọng. Thông qua vai trò
của luật sư bào chữa có nghĩa vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội,
đồng thời còn góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và sự thật khách quan của
vụ án, bằng hoạt động mang tính chất đặc thù của nghề nghiệp mình.
1.1. Khái niệm chung về luật sư bào chữa
Trong những người tham gia tố tụng hình sự quy định tại chương 4 Bộ luật tố
tụng hình sự 2003 thì người luật sư là người có vị trí, vai trò và chức năng đặc biệt.
Tuy nhiên, cho đến nay trong lý luận pháp lý và thực tiễn tố tụng hình sự vẫn chưa có
khái niệm chính thức và thống nhất về luật sư bào chữa. Đồng thời, những quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự về phạm vi những người tham gia tố tụng với tư cách luật
sư bào chữa còn giới hạn. Hơn nữa, xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nên người bào
chữa trong thực tiễn tố tụng hình sự hiện nay chủ yếu là luật sư, còn bào chữa viên
nhân dân và người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chỉ tồn tại trong pháp luật thực
định.
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm luật sư
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về luật sư, nhưng cơ bản ta có thể
hiểu khái quát nhất như sau:
“Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của
có sự nhìn nhận khác nhau về vị trí, vai trò của luật sư.
Từ khi có sự ra đời của Luật luật sư 2006, khái niệm luật sư xuất hiện hoàn
chỉnh hơn các quy định trước đó nhưng vẫn chưa đưa ra được khái niệm nào chính xác
cụ thể về luật sư. Nhưng đây cũng là văn bản mở đầu cho quá trình chuyên nghiệp hoá
và hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam, đã tạo một bộ mặt mới với triển
vọng phát triển mạnh mẽ nghề luật sư ở nước ta.
Trong những năm đầu của thiên niên kỷ XXI, cùng với bước phát triển và những
yêu cầu mới của xu thế toàn cầu hoá, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của nước
ta đã có những bước phát triển nhanh và mạnh mẽ với những sự kiện quan trọng mang
tính chất đột phá. Việc Việt Nam gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới đã tạo ra vị
thế và những cơ hội mới phát triển đất nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức
mới to lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là
phải chuyển đổi hệ thống pháp luật và các thiết chế cùng với cơ chế vận hành theo lộ
trình phù hợp với các cam kết khi gia nhập nền kinh tế thế giới. Tổ chức, hoạt động tư
pháp nói chung và hoạt động luật sư, luật sư bào chữa nói riêng cũng nằm trong bối
cảnh chung đó. Trong các năm 2005, 2006, 2007, Nhà nước ta đã ban hành một số
lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay thế các đạo luật không còn phù hợp, trong đó có
Luật luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 01/01/2007.
Luật luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở
pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng một đội ngũ luật sư, nghề luật sư mang tính
chuyên nghiệp, ngang tầm với luật sư và nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới.
Đặc biệt Luật luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ thống các tổ chức xã hội nghề nghiệp
của luật sư từ Trung ương tới các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm Tổ
chức luật sư toàn quốc và các Đoàn luật sư. Với quy định này, Luật luật sư đã tạo cơ sở
pháp lý nâng cao vai trò tự quản của nghề luật sư. Trải qua hơn 60 năm xây dựng và
trưởng thành, đội ngũ luật sư Việt Nam đã vượt qua khó khăn, thử thách, gắn bó với sự
nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Chặng đường phát triển tiếp theo đã được
mở ra, nhiều cơ hội và thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, thử thách đòi hỏi chúng
ta phải phấn đấu vượt qua.
bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong việc bảo vệ các quyền của họ.
Luật sư bào chữa vận dụng các quyền và nghĩa vụ pháp luật cho phép dùng lý lẽ
hay chứng cứ bênh vực cho thân chủ của mình trước cơ quan tiến hành tố tụng, hoạt
động bào chữa của luật sư bào chữa còn có ý nghĩa to lớn trong việc giúp các cơ quan
tiến hành tố tụng tìm ra sự thật của vụ án. Việc điều tra, truy tố, xét xử cho thấy không
phải mọi trường hợp buộc tội trong tố tụng hình sự điều chính xác mà vẫn còn có
những trường hợp buộc tội oan. Do vậy, họ có quyền tự bào chữa cho mình hoặc nhờ
luật sư để thực hiện quyền bào chữa cho họ là một yêu cầu khách quan trong hoạt
động tố tụng hình sự nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn. Như đã
rõ, trong xã hội xã hội chủ nghĩa công dân không chỉ được hưởng quyền và lợi ích
rộng lớn mà còn có quyền được pháp luật bảo vệ khỏi mọi sự vi phạm đối với các
quyền và lợi ích hợp pháp đó. Quyền được pháp luật bảo vệ các quyền lợi ích hợp
pháp là: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về
tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định
hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc
3
Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
6
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục
hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”4. Khi các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân có thể hoặc đã bị xâm phạm, họ có thể bằng nhiều cách khác nhau
4
Điều 71 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001.
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/26631/VKS%C2%A0phe-binh-luat-gia-bao-chua-nham%C2%A0phankhong-quy%C2%A0ket.html.
6
Văn kiện lần thứ ba ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội-1997.
5
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
7
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
liệu bênh vực cho một hoặc nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự
trước cơ quan tiến hành tố tụng, là tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy
định cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hoặc
toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý.”
1.1.1.3. Khái niệm luật sư bào chữa
Trong các vụ án hình sự, mọi người vẫn hay đề cập đến "luật sư bào chữa", thế
nhưng hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự cũng chưa nêu chính thức khái niệm thế nào là
luật sư bào chữa. Phạm vi người bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự tương đối
rộng, không phải chỉ dành riêng cho giới luật sư.
Vậy tại sao khi nói đến người bào chữa, người ta chỉ nghĩ đến luật sư mà không
phải là người đại điện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên
nhân dân. Bởi lẽ luật sư là nhân vật trung tâm trong hoạt động bào chữa, là người có
đủ kiến thức pháp luật, đủ tiêu chuẩn, đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật
luật sư nhằm bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, văn
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đã có sự phân biệt giữa luật sư bào chữa vời người
bảo vệ quyền lợi của đương sự. Tiêu chí để phân biệt chính là chức năng của họ và đối
tượng mà họ bào chữa, bảo vệ8. Luật sư bào chữa tham gia tố tụng chủ yếu để chứng
minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo. Trong khi đó, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự tham gia tố tụng chủ yếu là để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Như đã trình bày, luật sư bào chữa không có quyền và lợi ích trong vụ án hình
sự. Việc họ tham gia tố tụng bất luận trong trường hợp nào cũng chỉ để nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội. Cơ sở cho sự hiện diện của họ trong
tố tụng hình sự xuất phát từ hợp đồng bào chữa giữa họ với người bị buộc tội (hoặc
với người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội) và phải được sự chấp thuận của cơ
quan tiến hành tố tụng. Trong trường hợp đặc biệt do Bộ luật tố tụng hình sự quy định,
nếu người bị buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời luật sư bào
chữa thì các cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật sư cử luật sư bào chữa cho
họ và dĩ nhiên ngay trong trường hợp này sự tham gia của luật sư bào chữa cũng phải
được sự đồng ý của người bị buộc tội.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm luật sư bào chữa trong tố tụng
hình sự như sau: “Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự là người tham gia tố tụng để
chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của người bị buộc tội,
giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ,
thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
1.1.2. Nghề luật sư và đặc điểm nghề luật sư
Người hành nghề luật sư là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm trong hoạt
động pháp luật, có kỹ năng nghề nghiệp và tính chuyên môn cao. Trong giai đoạn hiện
nay luật sư là người am hiểu hệ thống pháp luật một cách tổng thể và nắm vững một
hoặc một số lĩnh vực pháp luật chuyên ngành thì mới có đủ khả năng hành nghề. Mặt
của luật sư.
Về mặt ngữ nghĩa, thuật ngữ “nghề luật sư” được tổ hợp từ từ đơn “nghề” với
tính chất là một nghề nghiệp và từ ghép “luật sư” chỉ những người đủ điều kiện hành
nghề luật sư theo quy định của pháp luật về luật sư. Theo Từ điển tiếng Việt9, nghề là
“công việc làm theo sự phân công của xã hội” hoặc hiểu theo nghĩa thứ hai là “thành
thạo trong một công việc nào đó”. Nghề nghiệp được hiểu là “nghề nói chung”, còn
“nghề tự do” có nghĩa là “tự mình làm để kiếm sống, không thuộc tổ chức, cơ quan
nào”. Nếu theo giải thích nêu trên hiểu nghề luật sư như là một nghề tự do là không
hoàn toàn phản ánh đầy đủ bản chất và đặc trưng của nghề nghiệp này, chỉ đặc nặng
khía cạnh “kiếm sống” mà không bao hàm được vị trí, vai trò của nghề nghiệp trong sự
phát triển của xã hội.
Nghề luật sư có đặc điểm chung là nghề của những người làm công việc liên
quan đến pháp luật, sử dụng công cụ hành nghề là “kiến thức pháp luật”. Do đó tạo
nên vai trò tác động của hoạt động luật sư , nên tại Điều 3 Luật luật sư năm 2006 nêu
rõ: “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh
tế xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nghị quyết số 08/2002 NQ-TW
của Bộ Chính trị 2/1/2002 có viết: “Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện
để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: “tham gia hỏi cung bị can, bị cáo, nghiên
cứu hồ sơ vụ án tranh luận dân chủ tại phiên tòa…”. Và trong cuộc sống hàng ngày
khi nói đến nghề luật sư là chúng ta đang nhắc đến tính chất nghề nghiệp của nghề luật
sư. Do sự phát triển không đồng đều cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần, bất kỳ xã
hội nào trong cộng đồng dân cư cũng tồn tại những người có trình độ pháp lý và những
người không có trình độ pháp lý và liệu những người yếu kém về trình độ pháp lý thì
họ không có đủ khả năng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa và chỉ
cần một người nào đó “lệch” khỏi “đường ray” pháp luật thì người đó phải trả giá cho
hành động của mình. Chính điều này đòi hỏi sự trợ giúp của luật sư.
9
Nguyễn Như Ý (chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, NXB. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội 1999.
quy định: “Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định
để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo”. Phản biện là phải dựa trên sự thông hiểu
tường tận về pháp lý và đạo lý. Hoạt động phản biện của luật sư là lấy pháp luật và đạo
đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ
phải trái, đúng sai… từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ cái
sai, bảo vệ công lý. Ở đây có thể có câu hỏi đặt ra là trong trường hợp không phát hiện
ra điều gì sai, không có cơ sở để phản biện thì luật sư sẽ làm gì. Luật sư không còn chỗ
để phản biện, cũng giống như thầy thuốc không có bệnh nhân để chữa thì thật là hạnh
phúc. Hoạt động của luật sư trong trường hợp này chỉ còn ý nghĩa là người chứng kiến.
Việc chứng kiến của luật sư không phải là không quan trọng. Trong nhiều trường hợp,
sự hiện diện của luật sư là chỗ dựa tin cậy của bị can, bị cáo. Sự chứng kiến của luật sư
trong khi hỏi cung, khi đối chất, khi xét xử đảm bảo chắc chắn rằng quyền và lợi ích
hợp pháp mà pháp luật dành cho bị can, bị cáo sẽ được bảo đảm. Người phạm tội phải
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
11
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
chịu sự trừng phạt của pháp luật, nhưng không thể bị tra tấn, đánh đập, hành hạ về thể
xác cũng như xúc phạm nhân phẩm. Sự có mặt của luật sư là cần thiết bởi những
người đã lâm vào vòng lao lý, phải đối mặt với uy lực của cơ quan công quyền, không
phải ai cũng có đủ can đảm tự bảo vệ quyền hợp pháp của mình. Người xưa đã có câu:
“Khôn ngoan đến cửa quan mới biết”.
Tóm lại, xuất phát từ những đặc thù của nghề luật sư, nó đòi hỏi luật sư ngoài
các phẩm chất chung là Chân, Thiện, Mỹ, luật sư còn phải là người có khối óc thông
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
12
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
an, công chứng…Tuy nhiên, nghề luật sư có những khác biệt với những nghề liên
quan đến pháp luật nói trên không chỉ ở chức năng, theo sự phân công của xã hội mà
còn ở chỗ nó còn thể hiện qua các phương thức hành nghề một cách tự do. Luật sư
không phải là một công chức, không phải là một chức vụ được đề cử hay được đề bạt,
mà là một danh xưng được đặt ra theo sự phát triển của lịch sử và được pháp lý hóa.
Nghề luật sư bao hàm ý nghĩ chỉ những người hội đủ điều kiện theo quy định của pháp
luật mới được hành nghề luật sư. Điều này cũng phân biệt được với một số trường hợp
được coi là người bào chữa hoặc là người đại diện theo ủy quyền như quy định trong
pháp luật tố tụng (như bào chữa viên nhân dân, người thân thích của bị can, bị cáo…)
nhưng không phải là người hoạt động trong nghề luật sư nhằm giúp cho quá trình hành
nghề được hợp pháp.
Nghề luật sư gắn liền với số phận con người
Có thể nói, nghề luật sư, cũng như các nghề luật khác, từ bao đời nay được coi
là một nghề nghiệp gắn bó với số phận con người. Đồng chí Lê Duẩn đã từng căn dặn
cán bộ ngành Kiểm sát, Tòa án, Công an: “Lý tưởng của chúng ta là chống áp bức,
bóc lột, một lòng một dạ vì nhân dân mà phục vụ. Phải thấu suốt lý tưởng đó, kiên
quyết không dung thứ những điều oan ức và không làm điều oan cho bất cứ một ai.
Một người bị tội oan, chẳng những người ấy đau khổ, mà gia đình con cái họ càng
đau khổ hơn. Làm điều oan cho một người nào đó thì chúng ta không còn lẽ sống nữa,
bởi vì chúng ta là những người cộng sản. Cán bộ các nhành Công an, Tòa án, Kiểm
sát, phải thấy hết trách nhiệm cao cả và nặng nề của mình”10.
Phần nhiều các ý kiến điều quan niệm luật sư bào chữa có nhiệm vụ bảo vệ
bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm”. Quyền này được nêu thành
những nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố tụng hình sự và được xếp lên hàng đầu. Sự
gắn bó của nghề nghiệp luật sư với số phận con người, bất luận trong trường hợp nào,
cũng được coi là sự kết nối tự nhiên, mang tính bản chất. Đối tượng của nghề nghiệp
luật sư, vì thế không đơn thuần mang tính dịch vụ và chỉ nghĩ đến việc kiếm lời từ dịch
vụ đó, mà trước hết là nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân cần được sự
trợ giúp về mặt pháp lý.
Nghề luật sư là một nghề bất khả kiêm nhiệm
Thông lệ hành nghề luật sư trên thế giới là bất khả kiêm nhiệm. Tuy nhiên, do
đặc điểm lịch sử của đất nước và quá trình hình thành nghề luật sư ở Việt Nam, nên
trong một thời gian khá dài, pháp luật về luật sư vẫn cho phép duy trì chế độ luật sư
kiêm chức12. Những luật sư kiêm chức này thực chất vẫn bảo đảm các tiêu chẩn hành
nghề luật sư, nhưng họ là công chức hoặc những người làm việc liên quan đến pháp
luật khác, chiếm tỷ lệ gần 40% số lượng luật sư trong cả nước13. Khiếm khuyết của
tình trạng kiêm nhiệm này trong thời gian qua là luật sư kiêm chức không thật sự sống
với nghề và bằng nghề, thời gian giành cho hoạt động luật sư bị chi phối bởi thời gian
làm việc mang tính bắt buộc của công chức, thậm chí gây phiền hà cho các cơ quan
tiến hành tố tụng khi vắng mặt tại phiên tòa xét xử bị cáo mà mình đã nhận trách
nhiệm bào chữa. Tính không chuyên nghiệp trong hoạt động của luật sư về phương
diện này còn làm cho người cần hỗ trợ pháp lý, bị can, bị cáo cảm thấy không tin
tưởng vào sự tận tâm của luật sư bào chữa, các cơ quan tiến hành tố tụng vì thế mà có
đánh giá không tốt về hoạt động nghề nghiệp luật sư, giảm thiểu vai trò của luật sư
trong đời sống và xã hội.
Bất khả kiêm nhiệm như một đặc điểm trong hoạt động của nghề luật sư không
chỉ bảo đảm hoạt động này mang tính chuyên nghiệp, mà còn góp phần nâng cao vị trí,
vai trò của luật sư trong xã hội. Quan điểm của những nhà làm luật cho rằng, để tiến
tới chuyên nghiệp hóa đội ngũ luật sư có thể chuyên tâm với nghề nghiệp, đáp ứng nhu
cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng phong phú phức tạp của nhân dân.
hàng, nếu không giới hạn rủi ro sẽ rất lớn, trách nhiệm luật sư chỉ nên có thể đến mức
trần của giá trị bảo hiểm, đặc biệt là đối với các tranh chấp lớn.
Hành nghề luật sư là hoạt động đòi hỏi tính trách nhiệm cao, gây thiệt hại là phải
bồi thường do vậy luật sư tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là một nghĩa vụ
cần thiết. Việc quản lý nghề luật sư phụ thuộc vào đặc điểm và tính truyền thống của
mỗi quốc gia. Nghề luật sư còn được điều chỉnh bởi những quy tắc do luật định và
những quy tắc không do luật định. Tuy nhiên việc vận dụng tính độc lập đối với nghề
luật sư vẫn còn phụ thuộc vào nhiều quan điểm, ý kiến trái ngược nhau theo điều kiện
của từng nước. Ở Việt Nam một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư là bảo đảm
tính độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan và tính tự chịu trách nhiệm của
luật sư.
1.2. Vai trò của luật sư bào chữa
Để thực hiện tốt vai trò bào chữa của luật sư bào chữa trong các vụ án, đòi hỏi
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tôn trọng, hợp tác chặt chẽ với các luật sư bào
chữa ngay từ đầu. Phối hợp tốt sẽ chỉ giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử thực hiện
theo đúng quy định của pháp luật, bản chất của vụ án được phản ánh đúng trong hồ sơ
cũng như khi đưa ra xét xử. Luật sư bào chữa có vai trò quan trọng góp phần bảo vệ
công lý, công bằng xã hội. Hoạt động của luật sư bào chữa không phải là hoạt động tư
pháp nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư
pháp, là hoạt động bổ trợ tư pháp. Luật sư bào chữa có vai trò phản ánh các chuẩn
14
Luật luật sư 2006 tại Điều 52 “Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về kinh
doanh bảo hiểm”
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
15
Nghề luật sư được tổ chức theo nhiều hình thức và rất đa dạng. Sự đa dạng này
xuất phát từ đặc thù lịch sử, văn hóa, cách suy nghĩ cũng như hệ thống pháp luật của
mỗi nước. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về nghề luật sư nhưng điều có chung
một điểm cho rằng, luật sư là một nghề trong xã hội, là công cụ hữu hiệu góp phần
đảm bảo công lý. Nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tính nghề nghiệp của
luật sư và tính chất của nghề tự do trong tổ chức hành nghề luật sư. Luật sư bào chữa
cần phải coi trọng và giữ gìn phẩm giá và uy tính nghề nghiệp; không ngừng trao dồi
đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn để hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của luật
sư, tôn vinh nghề nghiệp luật sư. Luật sư bào chữa làm gì phải đường hoàng, chính
đáng, thẳng thắng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trên cơ sở bảo
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
16
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
vệ lợi ích của Nhà nước, tôn trọng sự thật khách quan tuyệt đối tuân thủ pháp luật.
Luật sư không được gian dối khi hành nghề. Trong khi hành nghề cũng như trong đời
sống riêng tư luật sư không được có những hành vi làm hoen ố danh dự, nhân phẩm
của mình. Luật sư phải ứng xử đúng mực, có văn hóa trong nghề và trong lối sống để
luôn luôn tạo được sự tin cậy và tôn trọng của xã hội đối với luật sư và nghề luật sư.
Những quy tắc văn hóa ứng xử trong hành nghề của luật sư không có một văn bản cụ
thể nào nhưng trên thực tế nó được điều chỉnh bằng các quy tắc đạo đức nghề nghiệp
và cả những quy tắc đạo đức xã hội nói chung.
Tùy thuộc vào điều kiện của mỗi nước mà có nhận thức khác nhau về vai trò, vị
trí của luật sư. Nghề luật sư và vai trò của luật sư luôn có sự thay đổi và phụ thuộc vào
sự phát triển kinh tế khách quan của mỗi xã hội. Nhiệm vụ của luật sư, luật sư bào
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
được sự hỗ trợ pháp lý đầy đủ. Vì vậy phải dành thời gian và ảnh hưởng để giúp đỡ họ.
Nghĩa vụ nghề nghiệp của luật sư được thể hiện trong việc chấp hành những quy
định về đạo đức nghề nghiệp. Ngoài ra mỗi luật sư phải có lương tâm nghề nghiệp và
phải dành được sự tôn trọng của đồng nghiệp. Luật sư phải cố gắng để có kỹ năng
hành nghề cao nhất, để hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp của chính mình.
Luật sư đóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản
của công dân và phát triển xã hội. Cùng với thời gian, đội ngũ luật sư Việt Nam dần
khẳng định rõ vị trí vai trò của mình trong xã hội. Luật sư bào chữa với tư cách là
người có kiến thức sâu, rộng về mặt pháp luật có chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của bị can, bị cáo trước Tòa đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, tham gia tích cực trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần khẳng định
mình hơn nữa trong công cuộc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ văn minh ở
Việt Nam.
1.2.3. Vai trò xã hội của luật sư bào chữa
Luật sư là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng theo yêu cầu
của họ. Qua đó, góp phần bảo vệ pháp luật, giảm thiểu tình trạng oan sai của các cơ
quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ việc có liên quan đến thân chủ của mình.
Ngoài ra, luật sư còn giúp đỡ mọi người tuân thủ pháp luật thông qua việc thực hiện tư
vấn pháp lý và các dịch vụ pháp lý khác. Chức năng cụ thể của luật sư được quy định
tại Điều 3 Luật luật sư 2006: “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo
vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Nói tới chức năng xã hội của luật sư là đề cập đến thiên chức và sứ mệnh của
luật sư trong xã hội, tới cách thức mà luật sư hành nghề hướng đến những giá trị cơ
bản làm nền tảng cho sự phát triển của xã hội. Chức năng xã hội của luật sư được thể
hiện thông qua khả năng đáp ứng nhu cầu pháp lý cho người dân một cách minh bạch
và tạo cho người dân nhận biết được sự chân thực và công bằng về các nhu cầu pháp
danh của luật sư, kỹ năng hành nghề và cuối cùng là chuẩn mực ứng xử của luật sư
trong khi hành nghề. Nghề nghiệp của luật sư bao gồm những quy định chung về đạo
đức của bản thân luật sư trong các mối quan hệ với khách hàng , cơ quan nhà nước và
đồng nghiệp trong hành nghề. Vì vậy bằng hoạt động của mình luật sư bào chữa góp
phần tích cực vào bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường quản lý xã hội theo
pháp luật; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức; góp phần vào
việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật; góp phần thực hiện quyền
bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; giáo
dục công dân tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tôn trọng những quy tắc cuộc sống xã
hội chủ nghĩa. Bằng khả năng của mình luật sư bào chữa vận dụng kiến thức pháp luật
và nghiệp vụ của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng. Đó là khả năng, năng lực,
kinh nghiệm...của luật sư bào chữa trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị
cáo trước phiên Tòa hình sự.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
19
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
CHƯƠNG 2
VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
Điều 132 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm”. Quyền bào chữa là cơ sở của các
quyền khác mà pháp luật quy định cho bị can, bị cáo khi tham gia tố tụng hình sự.
Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có
quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
20
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
phải báo cáo ngay cho bị can và luật sư bào chữa biết”. Nếu hồ sơ chuyển sang Viện
kiểm sát thì luật sư bào chữa vẫn có quyền đọc toàn bộ hồ sơ vụ án, kể cả tài liệu, hồ
sơ được bổ sung mới. Luật sư bào chữa có trách nhiệm tham gia mỗi giai đoạn tiến
hành tố tụng, khi thu thập tài liệu đồ vật liên quan đến vụ án, có trách nhiệm giao cho
các cơ quan tiến hành tố tụng. Khi tham gia bào chữa tại phiên tòa, luật sư bào chữa
được quyền hỏi, tham gia tranh luận tại phiên tòa. Được phân tích đánh giá chứng cứ
kiến nghị với Tòa án về việc áp dụng pháp luật, kiến nghị về việc trả hồ sơ điều tra bổ
sung (Điều 179), tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án (Điều 176) để đảm bảo quyền lợi
chính đáng cho bị can, bị cáo.
Khi đọc hồ sơ vụ án, luật sư bào chữa có quyền ghi chép những điều cần thiết có
trong hồ sơ hoặc bổ sung thêm tài liệu chứng cứ mà luật sư bào chữa quan tâm. Việc
ghi chép sẽ giúp cho luật sư bào chữa có tư liệu chính xác để tự tin trong việc xây
dựng phương án bào chữa.
Để đảm bảo quyền này, được thực thi có hiệu quả tốt nhất, tại Điều 58 Bộ luật tố
tụng hình sự đã ghi nhận “ngoài quyền được đọc, ghi chép hồ sơ vụ án, người bào
chữa được quyền sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào
chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật”. Với những vụ án đơn
giản, ít tài liệu đọc hoặc ghi chép thì luật sư bào chữa có thể đọc, ghi chép tại chỗ.
Nhưng đối với những vụ án lớn, phức tạp và nghiêm trọng, hồ sơ vụ án quá nhiều thì
quy định tại điểm g khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành sẽ tạo điều kiện
cho luật sư bào chữa thu thập đủ tài liệu, tình tiết để chuẩn bị chu đáo, cặn kẻ hơn cho
việc bào chữa của mình và “giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”. Tại khoản 3 Điều 58 luật sư bào chữa sử
Hà Nội viện hết lý do này đến lý do khác hẹn lần hẹn lữa để cản trở nhóm luật sư tiếp
xúc với hồ sơ. Khi bị Luật sư chất vấn thì cán bộ Tòa án Thành phố Hà Nội tên Bùi Thị
Hồng viết tiếp giấy hẹn “ngày 23/2/2009 Luật sư đến nghiên cứu hồ sơ”. Tuy nhiên,
ngày 18/2/2009, cán bộ Thư ký Tòa án Thành phố Hà Nội lại gọi điện thoại thông báo
rằng ngày 23/2/2009 Luật sư vẫn chưa có thể tiếp xúc hồ sơ vì “Vụ án sẽ hoãn vô thời
hạn và ngày 23/2/2009 các Luật sư vẫn chưa có thể đọc được hồ sơ”, “Đây là ý kiến
chỉ đạo của cấp trên”. Không hiểu cái gọi là “cấp trên” mà cô Thư ký Tòa án Thành
phố Hà Nội nói là cá nhân nào mà lại có quyền “chỉ đạo” trái pháp luật như thế. Có
vẻ như Tòa án Thành phố Hà Nội không muốn cho luật sư bào chữa được nghiên cứu
hồ sơ vụ án thì làm sao các luật sư có sự chuẩn bị luận cứ bào chữa chặt chẽ nhằm
bảo vệ tốt nhất cho các bị cáo”15.
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của luật sư bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Ngoài các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự
hiện hành, trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử luật sư bào chữa còn có các quyền
được quy định nằm rải rác ở các điều luật khác như: Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và
liên tục. “Tòa án xét hỏi trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và
nghe ý kiến của bị cáo,...ý kiến của kiểm sát viên, luật sư bào chữa...” (Điều 184). Đây
là quyền quan trọng để luật sư bào chữa nêu ra ý kiến của mình về vụ án để Hội đồng
xét xử xem xét cân nhắc, để việc xét xử vụ án được chính xác khách quan; giúp cho
Hội đồng xét xử tập trung ý chí ra bản án, quyết định trên cơ sở điều tra chính thức tại
phiên tòa thông qua việc xét hỏi, tranh luận của luật sư bào chữa. Việc xét xử phải
được tiến hành bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án luật sư bào chữa có
quyền xét hỏi những người này để làm rõ sự thật của vụ án, tìm ra phương hướng bào
chữa tốt nhất để bào chữa cho bị cáo. Trong phần tranh luận tại tòa giữa luật sư bào
15
http://.tin247.com/76338/Kh%E1%BB%9Fi+t%E1%BB%91+h%C3%ACnh+s%E1%BB%B1+v%E1%BB%A
5+%C3%A1n+g%C3%A2y+r%E1%BB%91i+c%E1%BB%A7a+gi%C3%A1o+d%C3%A2n+Th%C3%A1i+H
%C3%A0.html
tòa để xem quyền lợi của bị cáo có được thể hiện đầy đủ không, về hình phạt chính,
phụ, xem có quá nặng phù hợp với hoàn cảnh khách quan, phù hợp với việc xem xét
chứng cứ tại tòa, có đảm bảo được tính khách quan, chính xác của chứng cứ để buộc
tội bị cáo không.
Quyền yêu cầu xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
(Điều 205). Luật sư bào chữa có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làn chứng, hoặc
đưa thêm tài liệu vật chứng ra xem xét. Nếu người làm chứng đó quan trọng, hoặc
chứng cứ yêu cầu xem xét quan trọng đến việc gõ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, giúp cho việc giải quyết vụ án một cách đúng đắn khách quan, bảo đảm cho bị
cáo được sử đúng người đúng tội mà nếu không được xem xét thì có thể dẫn đến oan
sai ảnh hưởng quyền lợi của bị cáo, thì luật sư bào chữa có thể đề nghị hoãn phiên tòa.
Phải có lời bào chữa “bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì
người này bào chữa cho bị cáo” (Điều 217). Luật sư bào chữa phát biểu lời bào chữa
trên cơ sở nghiên cứu những chứng cứ ở giai đoạn điều tra, xem xét những chứng cứ
gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xem xét những lời khai
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
23
SVTH: Nguyễn Thanh Nhân