Mối quan hệ giữa tòa án và viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - Pdf 31

Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2007 – 2010
ĐỀ TÀI:
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÒA ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

Sinh viên thực hiện:

Giảng viên hướng dẫn:

ThS. Mạc Giáng Châu

GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

Nguyễn Quốc Vụ
MSSV: 5075239
Lớp: Tư pháp III K33

1

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÒA ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT
TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái quát chung về Toà án và Viện kiểm sát..........................................................1
1.1.1. Khái chung về Tòa án............................................................................................4
1.1.1.1. Khái niệm Tòa án.................................................................................................4
1.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự............4
1.1.2. Khái quát chung về Viện kiểm sát..........................................................................5
1.1.2.1. Khái niệm Viện kiểm sát......................................................................................6
1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự..........................................................................................................................6
1.2 Vai trò của Toà án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.............7
1.2.1 Vai trò của Toà án trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.......................................8
1.2.2 Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử sở thẩm vụ án hình sự...........................9
1.3. Lý luận chung về mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự..............................................................................................10
1.3.1 Nhận thức chung về mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự...............................................................................................12
1.3.2 Mối quan hệ phối hợp chế ước giữa Tòa án và Viện kiếm sát trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự...............................................................................................13
1.3.2.1 Mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự.......................................................................................................14
1.3.2.2. Mối quan hệ chế ước giữa Tòa án và giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.............................................................................15

GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU


ÁN HÌNH SỰ
3.1 Một số tồn tại và hướng hoàn thiện về mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm
sát trong xét xử vụ án hình sự sơ thẩm...............................................................
3.1.1 Một số tồn tại và hướng hoàn thiện về mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm
sát trong việc trả hồ sơ điều tra bổ sung................................................................
GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

4

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

3.1.1.1 Về mặt pháp lý........................................................................................................
3.1.1.2 Về mặt thực tiễn áp dụng....................................................................................
3.1.2 Một số tồn tại và phương hướng hoàn thiện về mối quan hệ giữa Tòa án và
Viện kiểm sát trong rút quyết định truy tố............................................................
3.1.2.1 Về mặt pháp lý.........................................................................................................
3.1.2.2 Về mặt thực tiễn áp dụng.......................................................................................
3.1.3 Một số tồn tại và phương hướng hoàn thiện về mối quan hệ giữa Tòa án và
Viện kiểm sát trong giới hạn của việc xét xử.........................................................
3.1.3.1 Về mặt pháp lý........................................................................................................
3.1.3.2 Về mặt thực tiễn áp dụng.....................................................................................
3.2 Nguyên nhân...................................................................................................................
3.2.1 Nguyên nhân khách quan...........................................................................
3.1.2. Nguyên nhân chủ quan........................................................................................61
3.3 Một số đề xuất trong tương lai về mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự....................................................................62
3.3.1 Hoàn thiện mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc giới hạn xét

Mặt khác, việc xét xử các vụ án hình sự nói chung và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
nói riêng là vô cùng khó khăn và phức tạp, đồng thời cũng hưởng rất lớn đến quyền con
người, ảnh hưởng đến việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các lợi ích
khác của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân. Xuất phát từ tính chất quan trọng như vậy
nên ngoài việc quy định chức năng nhiệm vụ riêng cho Tòa án và Viện kiểm sát trong
hoạt động xét xử, thì pháp luật tố tụng hình sự còn đặt ra mối quan hệ tố tụng giữa hai cơ
quan này để phối hợp, chế ước lẫn nhau, nhằm làm cho việc xét xử vụ án một cách đúng
đắn khách quan, khắc phục sai sót, chống việc lạm quyền giữa hai cơ này trong khi thực
hiện nhiệm vụ. Với mục đích mà pháp luật đặt ra cho Tòa án và Viện kiểm sát là như vậy,
tuy nhiên thực tiễn xét xử trong những năm qua cho thấy mối quan hệ giữa hai cơ quan
này còn khá nhiều tồn tại, chưa đáp ứng được mục đích mà pháp luật đặt ra, ảnh hưởng
đến chất lượng xét xử.
Nhận thức được điều này, trong chiến lược cải cách tư pháp của Nghị quyết 08NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết
49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 đã xác định: Cần phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt
động của các cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án và Viện kiểm sát nói riêng để đảm bảo
thực hiện chức năng nhiệm vụ. Trong đó có xác định rõ, Tòa án giữa một vị trí trung tâm
và xét xử là hoạt động trọng tâm, phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương trong việc giữ
GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

6

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong chiến lược cải cách tư pháp. Cùng với
chiến lược cải cách tư pháp, trước đó Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ

GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

7

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để
nghiên cứu đề tài là: phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh.
5. Cấu trúc của đề tài
Đề tài được Sinh viên nghiên cứu và sắp xếp thành ba chương, trong mỗ chương
được chia thành các mục nhỏ, tên cụ thể của các chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề chung về Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
Chương 2. Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự
Chương 3. Một số tồn tại và phương hướng hoàn thiện về mối quan hệ giữa Tòa
án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

8

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


niệm chung về Tòa án như sau: TA là một cơ quan tư pháp, thực hiện việc xét

1

Từ điển tiếng Việt – Tường giải và liên tưởng- Nxb Văn hóa thông tin, 1999
PGS.PTS. Đỗ Ngọc Quang – Mối quan hệ giữa cơ quan điều tra với các cơ quan tham gia tố tụng hình sự NXB
Chính trị quốc gia- 1997, tr 6
2

GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

9

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế,
hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
TA có nhiều hoạt động khác nhau như là quản lý cán bộ, quản lý cơ sở vật chất,
thực hiện việc phối hợp với các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội… trong việc
tuyên truyền và bảo vệ pháp luật, góp phần giáo dục công dân trung thành với với Tổ
quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, các vi
phạm pháp luật khác... Tuy nhiên, hoạt động chủ yếu của TA là xét xử các vụ án hình sự,
dân sự, lao động cũng như các vụ án khác. Vì vậy, ngay tại Điều 127 Hiến pháp 1992 và
Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân đã xác định: “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án
nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự khu vực và các Tòa án khác theo luật định là
các cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Bằng hoạt động của


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

thẩm vụ án hình sự TA có nhiệm vụ phải chứng minh: có hành vi phạm tội hay không,
thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện
hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình
sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho bị cán, bị cáo và những đặc điểm về nhân than của bị can, bị cáo;
tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra (Điều 63 BLTTHS).
Để thực hiện được những nhiệm vụ cụ thể nêu trên, TA phải có nhiệm vụ
thực hiện rất nhiều công việc và phải trải qua các giai đoạn khác nhau. Cụ thể, để đảm
bảo cho việc đưa vụ án ra xét xử được tiến hành một cách thuận lợi thì TA phải có nhiệm
vụ thực hiện các công việc cần thiết trước khi mở phiên tòa. Trước khi mở phiên tòa, TA
phải có nhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án và quyết định truy tố của VKS. Qua
nghiên cứu hồ sơ, nếu đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử thì TA ra quyết định đưa vụ án
ra xét xử; nếu không đủ điều kiện thì tùy trường hợp mà TA ra các quyết định trả hồ sơ
điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án (Điều 176 BLTTHS). Ngoài ra trong
thời gian này, TA còn có nhiệm vụ áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn
chặn. Tại phiên tòa, TA có nhiệm vụ điều khiển tiến hành các thủ tục tố tụng tại phiên
tòa, xét hỏi những người tham gia tố tụng và xem xét đánh giá kết quả xét xử tại phiên
tòa rồi ra bản án tuyên bị cáo có tội hay không có tội. Sau phiên tòa, TA có nhiệm vụ
thực hiện các công việc theo quy định của pháp luật như giao bản án, nhận đơn kháng
cáo, thông báo kháng cáo, kháng nghị, gửi hồ sơ lên cấp phúc thẩm3.


Tóm lại, thông qua việc thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, TA có
nhiệm vụ xác định sự thật của vụ án một cách khác quan, để xác định một người là có tội
hay không có tội. Thông qua việc xác định đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, đồng thời bảo vệ chế độ, bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa.

vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm. Còn quyền kiểm sát được hiểu là là hoạt
động thực hiện quyền lực Nhà nước, do Quốc hội giao cho VKS nhằm bảo đảm pháp chế
trong hoạt động tư pháp hình sự5 .
Từ những phân tích trên có thể khẳng định VKS là cơ quan thực hiện quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đồng thời qua đó có thể rút ra khái niệm chung về VKS
như sau: VKS là cơ quan tư pháp thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được tiến hành nghiêm chỉnh và thống nhất, là
một trong những công cụ của Nhà nước, trong phạm vi chức năng của mình có nhiệm vụ
bảo vệ pháp chế, bảo vệ pháp luật, công bằng xã hội.
1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
Trong hoạt động bảo vệ pháp luật nói chung trong phạm vi chức năng của mình
TA và VKS có một nhiệm vụ thống nhất là bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập
thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân (Điều 126 Hiến
pháp). Chính vì điều này, nên trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, BLTTHS
cũng đặt ra nhiệm vụ chung cho cả TA và VKS đó là phải xác định sự thật của vụ án một
cách khách quan, không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan người vô tội (Điều
10 BLTTHS). Tuy nhiên, như ta đã biết chức năng của TA và VKS là khác nhau, TA có
chức năng xét xử, VKS có chức năng kiểm sát xét xử và thực hành quyền công tố. Do đó,
khi thực hiện chức năng của mình, giữa hai cơ quan này có những cách tiến hành khác
4

Từ điển tiếng Việt in lần thứ 6, đợt 2 của Viện Ngôn ngữ học do GS. Hoàng Phê chủ biên (Nxb Đà Nẵng – Trung
tâm từ điển, Hà Nội-Đà Nẵng, 1998, tr. 204)
5
TSKH Lê Cảm, Những vấn đề lý luận về quyền công tố, Tạp chí luật học số 04, năm 2004, tr.10.

GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU


Với việc phân tích trên cho thấy, thông qua việc thực hiện chức năng của mình
VKS có một nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ mà pháp luật tố tụng đặt ra, ngoài việc phải thực hành
công tố để buộc tội bị cáo, VKS còn phải có nhiệm vụ kiểm sát cả hoạt động xét xử để
đảm bảo cho việc xét đúng pháp luật, nghiêm minh kịp thời.
1.2 Vai trò của Toà án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trong bộ máy Nhà nước ta, TA và VKS có tổ chức và phương thức hoạt động
khác nhau, nhưng đều là những khâu trọng yếu, cơ bản thuộc hệ thống cơ quan tư pháp.
Hơn nữa, trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ
pháp luật thì nhiệm vụ của VKS và TA là thống nhất với nhau “Tòa án nhân dân và Viện
kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng
của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng,
GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

13

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân” (Điều 126 Hiến pháp 1992). Chính vì
đảm đương nhiệm vụ đó mà TA và VKS là những cơ quan đóng vai trò quan trọng không
thể thiếu trong bộ máy Nhà nước ta.
Trong tố tụng hình sự nói chung vị trí của TA và VKS cũng đóng một vai trò chủ
đạo trong hoạt động xét xử. TA, VKS cùng với cơ quan điều tra hình thành nên các cơ
quan tiến hành hoạt động tố tụng hình sự của nước ta (Điều 33 BLTTHS). Trong hoạt
động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, cùng với bên bị buộc tội, TA và VKS hình thành nên
ba chủ thể không thể thiếu trong hoạt động xét xử. Chính vì chiếm một vị trí khá quan


SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

tại phiên tòa, cho ra phán quyết cuối cùng là bị cáo có tội hay không có tội qua đó có biện
pháp trừng trị người phạm tội, bảo vệ quyền lợi của người bị xâm hai, bảo vệ công bằng
xã hội.

Qua việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, cùng với việc ra bản án TA để răng
đe, trừng trị người phạm tội, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, qua đó có
vai trò rất lớn trong việc tuyên truyền đấu tranh, phòng chống tội phạm, nâng cao ý thức
tuân thủ pháp luật của mọi công dân.

Trong mối quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng khác, thông qua hoạt
động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự giúp cơ quan điều tra, VKS kiểm chứng lại kết quả
điều tra và truy tố một cách chính xác hơn, qua đó có biện pháp khắc phục những thiếu
xót sai lầm.
1.2.2 Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử sở thẩm vụ án hình sự
Trong hoạt động xét xử nói chung và trong xét xử vụ án hình sự sơ thẩm vụ án
hình sự nói riêng, VKS giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Điều 16 Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân quy định: “Trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát
nhân dân có trách nhiệm thực hành quyền công tố, bảo đảm việc truy tố đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội; kiểm sát việc xét xử
các vụ án hình sự, nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời.”
Cùng với quy định này, trong BLTTHS Điều 23, cũng đã ghi nhận lại vai trò của VKS
khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, để đảm bảo cho hoạt động xét xử đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan
người vô tội. Với quy định này cho thấy, VKS có vai trò rất lớn trong việc thực hiện chức

hình sự, qua đó yêu cầu, kiến nghị thực hiện lại cho đúng.

Thông qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự, VKS góp phần bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự nhân phẩm
của công dân; bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền
làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, qua đó góp phần đấu
tranh, phòng chống tội phạm.
1.3 Lý luận chung về mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.1 Nhận thức chung về mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo từ điển tiếng Việt, “mối quan hệ” là sự gắn liền một mặt nào đó giữa hai
hoặc nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động
đến sự vật kia”6. Như vậy, mối quan hệ giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng trong xã hội
thể hiện sự tác động lẫn nhau, có ảnh hưởng lẫn nhau trong sự tồn tại và phát triển.
Theo quy luật chung của sự tồn tại và phát triển đó, các sự vật, hiện tượng mặc dù
muôn hình muôn vẻ tồn tại trong thế giới khách quan nhưng không thể tồn tại độc lập, mà
chúng là một thể thống nhất, có sự tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau. Mối
quan hệ này không ngừng diễn ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy, đây là mối quan hệ
khách quan, được bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất.
Thật vậy, Nhà nước là một là một tổ chức trong xã hội nên cũng không nằm ngoài
quy luật chung đó. Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cũng phải vận động theo quy luật
của thế giới khách quan và nằm trong mối quan hệ chung đó. Bất kì nhà nước nào, do
nhu cầu bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị xã hội mà xây dựng nên những thiết chế
cần thiết trong bộ máy nhà nước đảm bảo sự cưỡng chế hữu hiệu đối với những hành vi
xâm phạm vào quyền lợi của giai cấp thống trị. Tùy theo cơ cấu của từng Nhà nước mà
bộ phận của cưỡng chế của Nhà nước được đặt ở đâu và nhiệm vụ như thế nào mà sẽ có
6

Từ điển tiếng Việt, Nxb khoa học xã hội, 1998, tr.827

có quyền kết tội đối với một người. Theo Điều 72 Hiến pháp 1992 thì “Không ai bị coi là
có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật”. Bên cạnh việc quy định chức năng riêng cho từng cơ quan ở trên thì ở Điều 126
Hiến pháp năm 1992 cũng ghi nhận: “Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ
bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế dộ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của
nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tình mạng, tài sản, tự do, danh
dự và nhân phẩm của công dân”.
Trong hoạt động tố tụng hình sự, TA và VKS giữ hai vị trí rất quan trọng, là hai
trong ba cơ quan tiến hành hoạt động tố tụng. Trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS
giữ vai trò xét xử, còn VKS giữ vai trò buộc tội, đây là hai vị trí không thể thiếu trong
một phiên tòa xét xử vụ án hình sự7. Bên cạnh việc chiếm giữ vị trí rất quan trọng trong
7

Xem Hồ Sỹ Sơn – Hoàn thiện mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sựTạp chí Nhà nước và pháp luật số 2/ 2005

GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

17

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

hoạt động tố tố tụng hình sự nói chung và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng thì TA
và VKS còn phải thực hiện nhiệm vụ chứng minh tội phạm, để đảm bảo cho việc xác
định sự thật vụ án một cách khách quan. (Điều 10 BLTTHS)
Từ những quy định trên có thể thấy, mặc dù TA và VKS là hai cơ quan ở hai vị trí
khác nhau, thực hiện chức năng khác nhau nhưng điều đó không có nghĩa là giữa TA và

18

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.3.2 Mối quan hệ phối hợp chế ước giữa Tòa án và Viện kiếm sát trong xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.2.1 Mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
Theo Đại từ điển tiếng Việt “phối hợp” là cùng chung góp, cùng hành động ăn
khớp để hỗ trợ cho nhau8. Cùng với khái niệm “mối quan hệ” như đã nêu ở trước đó cho
thấy, mối quan hệ phối hợp là mối quan hệ thể hiện sự kết hợp, hỗ trợ cho nhau để thực
hiện một công việc hay nhiệm vụ nào đó. Theo đó, mối quan hệ phối hợp giữa TA và
VKS trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc kết hợp, hỗ trợ cho nhau giữa TA và
VKS trong việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói
riêng mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có những chức năng nhiệm vụ khác nhau. Nếu như
Cơ quan điều tra chủ yếu thực hiện việc điều tra, VKS thực hành quyền công tố và kiểm
sát còn TA thực hiện việc xét xử. Trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì mặc dù TA và
VKS thực hiện nhiệm vụ khác nhau nhưng giữa hai cơ quan này có mối quan hệ phối hợp
với nhau trong khi thực hiện nhiệm vụ. Mối quan hệ phối hợp này nếu được phối hợp và
thực hiện tốt thì sẽ giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng và chính xác hơn,
không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đồng thời giúp các cơ quan này sửa
chữa những sai lầm khi thực hiện nhiệm vụ tố tụng.
Dựa vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì quan hệ phối hợp trong tố
tụng giữa TA và VKS chủ yếu được thể hiện ở hai hoạt động khởi tố và xét xét xử vụ án
hình sự. Đối với hoạt động khởi tố vụ án hình sự, mối quan hệ đó xảy ra trong trường hợp
HĐXX phát hiện ra tội phạm mới hoặc người phạm tội mới thì TA có thể tự mình hoặc

thời hạn luật định Thẩm phán được phân công ra quyết định đưa vụ án ra xét xử điều này
được ghi nhận ở điều 176 BLTTHS 2003. Và cũng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu
thấy có những căn cứ theo Điều 181 BLTTHS thì VKS cũng có quyền rút quyết định truy
tố và đề nghị TA đình chỉ vụ án.
Với việc luật quy định cho phép TA và VKS ra các quyết định nêu trên thể hiện
mối quan hệ phối hợp giữa TA và VKS trong việc xác định sự thật trong xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự một cách chính xác, nhanh gọn đỡ tốn chi phí không cần thiết. Cụ thể như
trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung của TA sẽ vừa giúp cho TA có cơ sở khi xét xử tại
phiên tòa, đồng thời cũng qua việc trả hồ sơ điều tra góp phần làm cho VKS thấy được
những thiếu sót mà rút kinh nghiệm. Đồng thời đảm bảo không phải hoãn phiên tòa một
cách không cần thiết. Chẳng hạn như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu TA phát hiện ra
có tội phạm khác có liên quan đến việc xét xử của vụ án mà trong quyết định truy tố của
VKS không có thì ngay trong giai đoạn chuẩn bị xét xử TA trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Vì thế khi xét xử tại phiên tòa HĐXX không phải hoãn phiên tòa để trả hồ sơ điều tra bổ
sung, góp phần làm cho việc giải quyết vụ án nhanh gọn. Hay trong trường hợp rút quyết
định truy của VKS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sẽ giúp cho TA không phải phải mở
phiên tòa, tốn thời gian công sức. Còn tại phiên tòa, ngoài việc TA trả hồ sơ cho VKS để
điều tra bổ sung khi còn thiếu chứng cứ quan trọng hoặc có tội phạm khác hoặc đồng
phạm khác thì giữa TA và VKS phải phối hợp với nhau trong việc xét xử Kiểm sát viên
phải có mặt để kiểm sát phiên tòa và thực hành quyền công tố, nếu vắng mặt thì bắt buộc
phải hoãn phiên tòa. Kiểm sát viên nhân danh Nhà nước buộc tội đối với bị cáo bằng
những hoạt động như đọc bản cáo trạng, tham gia xét hỏi và tranh luận, luận tội tại phiên
tòa. Nếu qua xét xử mà VKS xét thấy bị cáo không có tội thì rút quyết định truy tố và đề
nghị TA tuyên bị cáo không có tội (khoản 2 Điều 222 BLTTHS). Việc đề nghị này của
VKS mang tính chất tham khảo đối với TA, còn việc xem xét có tội hay không và thực
hiện như thế nào thì do TA quyết định. Tại phiên tòa, Thẩm phán được phân công chủ tọa
GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

20


thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Tuy nhiên, do hoạt động tố
tụng được thực hiện bởi những con người cụ thể, mà con người được giao giải quyết vụ
án, thường chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có những vấn đề về
trình độ, kinh nghiệm, khả năng của bản thân người đó. Ngoài ra, những người tiến hành
tố tụng có thể chịu sự tác động của nhiều yếu tố môi trường, xã hội. Tất cả những điều đó
ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Những khuyết điểm của
những người tiến hành tố tụng trong giai đoạn này dễ mắc phải trong quá trình giải quết
9

Từ điển tiếng Việt, Nxb khoa học xã hội, 1998, tr.827

GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

21

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

vụ án hình sự như sự phiến diện một chiều, thiên vị, lồng ý thức chủ quan để có thể dẫn
đến sai lệch sự thật của vụ án. Chính vì vậy, trong pháp luật tố tụng hình sự quy định
những điều mang tính chế ước, đảm bảo cho hoạt động tố tụng đạt được mục đích.
Xem xét mối quan hệ chế ước lẫn nhau giữa TA và VKS hầu như chúng ta thấy rất
ít các quy định mang tính chế ước, mà chủ yếu là thể hiện tính phối hợp. So với mối quan
hệ chế ước giữa cơ quan điều tra và VKS và mối quan hệ chế ước giữa TA và VKS thì
tính chế ước trong quan hệ giữa cơ quan điều tra và VKS mạnh mẽ hơn. Nhưng điều đó
không có nghĩa là tính chế ước giữa TA và VKS không được bộc lộ mà trái lại tính chế
ước giữa TA và VKS cũng thể hiện tương đối rõ nét. Cụ thể, theo quy định tại Khoản 2, 3
Điều 109 BLTTHS 2003: “Trong trường hợp quyết định quyết định khởi tố của vụ án

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

lại đối với VKS, cụ thể đó là nếu xét thấy việc truy tố của VKS không có cơ sở thì tại
phiên tòa, TA có thể tuyên bị cáo vô tội; còn xét thấy VKS truy tố chưa
đúng người, đúng tội thì TA có thể trả hồ sơ yêu cầu VKS điều tra bổ sung, nếu
VKS vẫn không bổ sung được mà vẫn giữ nguyên truy tố mà TA thấy chưa đúng người,
đúng tội thì TA có thể xét xử và kiến nghị lên cấp trên để xem xét. Hay theo quy định tại
Điều 222 của BLTTHS 2003 thì trong trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định
truy tố thì HĐXX vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án theo trình tự của pháp luật. Nếu
có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì HĐXX tuyên bố bị cáo không có tội; nếu thấy
việc rút truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với VKS
cấp trên trực tiếp. Chính điều này cho thấy, tình chế ước trong tố tụng hình sự nói chung
và trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng có những nét đặc trưng, việc chế ước
được đặt ra không phải để trừng trị hay chống lại nhau mà chủ yếu là khống chế, kiềm
chế sự vận động của nhau không để sai phạm diễn ra, nhằm làm cho hoạt động xét xử
được diễn ra đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời qua việc chế ước này sẽ làm
bộc lộ thêm tính phối hợp trong giải quyết vụ án hình sự vì suy cho cùng việc chế ước
giữa hai cơ quan này cũng đều đều hướng đến mục đích giúp cho việc việc xét xử đúng
người đúng tội, đúng pháp luật.
Cùng với việc phân tích mối quan hệ tố tụng phối hợp chế ước giữa TA và VKS
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có ý nghĩa trong việc xác định sự thật khách quan của
vụ án, đảm bảo cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần nang cao
chất lượng xét xử.

CHƯƠNG 2
GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU


2.1 Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trước khi mở phiên tòa xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự
Trong tố tụng hình sự nói chung và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng, nhiệm
vụ chung mà pháp luật tố tụng hình sự đặt ra cho cả TA và VKS là phải xác định sự thật
11

Trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta, quá trình tố tụng hình sự bao gồm các giai đoạn kế tiếp nhau: khởi tố vụ
án hình sự; điều tra vụ án; xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm); thi hành án hình sự; xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Sự phân chia các giai đoạn này gắn liền với trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng. Mỗi giai đoạn tuy độc
lập nhưng vẫn năm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành hoạt động thống nhất. Giai đoạn trước là
tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Kết thúc mỗi
giai đoạn lại phải có kết luận dưới hình thức văn bản tố tụng hình sự để giải quyết vụ án hình sự hay chuyển sang
giai đoạn kế tiếp. Tất cả hoạt động trong các giai đoạn trên phải được tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng
hình sự

GVHD: TH.S. MẠC GIÁNG CHÂU

24

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Đề tài - Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

vụ án một cách khách quan, không để lọt tội phạm và cũng không làm oan người vô tội
(Điều 10 BLTTHS). Do đó, để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong giai đoạn xét
xử sở thẩm vụ án hình sự, trước khi mở phiên tòa pháp luật có quy định một khoảng thời
gian để chuẩn bị một cách tốt nhất cho việc xét xử công khai tại phiên tòa. Trong thời
gian này, TA có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các công việc cần thiết khác và
khi hết thời hạn này Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các

SVTH: NGUYỄN QUỐC VỤ


Trích đoạn Về mặt pháp lý Hoàn thiện mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc giới hạn xét Hoàn thiện mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc rút quyết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status