Tổ chức dạy học tự nhiên và xã hội ở lớp 2 theo cách tiếp cận học sinh là chủ thể tích cực của quá trình học tập - Pdf 31

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tốc độ phát triển nhanh chóng của xã hội trên mọi lĩnh vực (kinh tế,
văn hóa, thương mại, hợp tác quốc tế,…) đã kéo theo những thay đổi của mỗi
cá nhân (con người) để thích ứng với những biến đổi của xã hội và thời đại.
Con người trong thời đại mới phải chủ động, tích cực, năng động và sáng
tạo.... để làm chủ những tiến bộ về khoa học, kĩ thuật, công nghệ,... và để đảm
bảo sự thành công của bản thân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực
tế này đã đặt ra những yếu cầu với việc giáo dục trong các nhà trường hiện
nay: các trường học chuyển từ mô hình dạy học mang tính truyền đạt (tập
trung vào người dạy) sang dạy học khám phá và thử nghiệm (nhấn mạnh vai
trò của người học).
GDTH là bậc học giữ vai trò nền tảng cho sự phát triển toàn diện của con
người. Chất lượng GDTH góp phần quan trọng đảm bảo chất lượng giáo dục
của mỗi quốc gia. Vì thế, đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói
chung và GDTH nói riêng hiện đang là mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội
và của mỗi người dân. Yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng
GDTH là đổi mới phương pháp, cách thức tổ chức dạy học. Tư tưởng chỉ đạo
đổi mới PPDH được thể hiện trong nhiều văn kiện, chủ trương của Đảng và
Chính phủ. Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong các Nghị
quyết TW từ năm 1996, được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12/1998) và
được tái khẳng định trong Luật Giáo dục (2005). Việc đổi mới PPDH ở tiểu
học về cơ bản là nhằm giúp HS hướng tới việc học tập chủ động, tích cực và
sáng tạo.
Mục tiêu của mỗi môn học trong chương trình nói chung nhằm cung
cấp kiến thức, rèn luyện các kĩ năng và giáo dục thái độ cho HS. Muốn lĩnh
hội kiến thức và vận dụng để rèn kĩ năng có hiệu quả thì đòi hỏi HS phải có
năng lực tư duy; rèn cho HS phương pháp suy nghĩ và giải quyết vấn đề một
cách độc lập, linh hoạt và sáng tạo. Ngạn ngữ cổ Hi Lạp có câu: “Dạy học

1

2


nội dung dạy học phần lớn phụ thuộc vào SGK, SGV môn học; các hoạt động
thường đơn điệu, không kích thích được hứng thú và nhu cầu khám phá của
HS;... Những hạn chế này dẫn tới hiệu quả dạy học môn học còn chưa cao,
chưa đáp ứng được các yêu cầu của đổi mới dạy học hiện nay.
Những lí do kể trên chính là căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn đề
tài: "Tổ chức dạy học Tự nhiên và xã hội ở lớp 2 theo cách tiếp cận học
sinh là chủ thể tích cực của quá trình học tâp”.
2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đổi mới dạy học bài TN&XH ở lớp 2
theo tiếp cận mỗi HS tham gia vào quá trình học tập như một chủ thể tích cực
và chủ động, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn học.
3.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy hoc TN&XH ở lớp 2 theo
tiếp cận học sinh là chủ thể tích cực của quá trình học tập.
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc tổ chức dạy học môn TN&XH ở lớp
2 theo tiếp cận học sinh là chủ thể tích cực của quá trình học tập.
- Đề xuất một số giải pháp tổ chức dạy học TN&XH ở lớp 2 theo tiếp
cận học sinh là chủ thể tích cực của quá trình học tập.
- Thiết kế một số giáo án minh họa các giải pháp đã đề xuất.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : các giải pháp tổ chức dạy học TN&XH ở lớp 2
theo tiếp cận HS là chủ thể tích cực của quá trình học tập.
- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học môn TN&Xh ở lớp 2.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài giới hạn nghiên cứu đề xuất các giải pháp tổ chức dạy học theo
tiếp cận học sinh là chủ thể tích cực của quá trình học tập trong dạy học môn
Tự nhiên và xã hội ở lớp 2.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC
DẠY HỌC TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở LỚP 2 THEO TIẾP CẬN
HỌC SINH LÀ CHỦ THỂ TÍCH CỰC CỦA QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1.1. Quá trình học tập
1.1.1. Bản chất của việc học
Khái niệm “học” được dùng với những ý nghĩa khác nhau. Nhận thức
luận coi quá trình con người nhận biết, hiểu về thế giới khác quan là kết quả
phản ánh hiện thực khách quan vào trong tư duy người. Sự phản ánh đó của
con người về hiện thực khách quan được hình thành qua nhiều con đường
khác nhau về mức độ, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính. Quá trình
phát triển nhận thức về thế giới khách quan là quá trình tiếp cận chân lý và
làm phát triển sức mạnh của con người, của nhân loại. Nói tóm lại, học là một
quá trình nhận thức của cá nhân về thế giới khách quan.
Theo từ điển giáo dục Greenwood (2003) học được xác định là một quá
trình tâm lí diễn ra những thay đổi ở kiến thức hay ở hành vi của cá nhân nhờ
kinh nghiệm của chính người học thông qua tương tác với môi trường xung
quanh. Định nghĩa này chỉ ra rằng, học là một quá trình hoạt động, diễn ra
những thay đổi ở chủ thể. Hơn nữa, tương tác của người học với môi trường
xung quanh được coi là nguyên nhân làm thay đổi kinh nghiệm của người
học. Điều đó có nghĩa là tương tác giữa chủ thể và môi trường là điều kiện co
quá trình thay đổi của chủ thể.
Từ điển bách khoa về nghiên cứu giáo dục “1982” đã giải thích rõ hơn
về quá trình thay đổi bên trong của chủ thể học khi xác định rằng “học” là sự
chiếm lĩnh tri thức hoặc hành vi và dẫn đến kết quả là sự thay đổi tương đối
bền vững ở kiến thức, ở hành vi của cá nhân nhờ kinh nghiệm của chủ thể. Từ
định nghĩa này ta thấy: học là sự giành lấy tri thức, giữ lấy nó, sở hữu nó của
chủ thể học; kết quả của việc học là sự thay đổi ở nội dung và cấu trúc của
kiến thức trong bộ nhớ hay ở hành vi của cá nhân, tức là học gắn với quá trình
thay đổi bên trong của chủ thể. Hơn nữa, sự thay đổi đó của chủ thể không
phai chỉ diễn ra trong chốc lát mà tương đối bền vững, ổn định.

tâm lí học dạy học chủ yếu nhằm mô tả và giải thích cơ chế tâm lí của việc
học tập, trên cơ sở đó mà vận dụng tổ chức cho HS thực hiện các hoạt động
học có hiệu quả.

6


Thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov
Năm 1889, nhà sinh lí học người Nga Pavlov thông qua nghiên cứu
thực nghiệm phản xạ tiết nước bọt của chó khi có các kích thích khác nhau đã
xây dựng nên lí thuyết phản xạ có điều kiện. Với lí thuyết này, lần đầu tiên
người ta có thể giải thích một cách khách quan cơ chế của việc học tập, đó là
cơ chế “kích thích - phản ứng”. Mặc dù chỉ là những giải thích về mặt sinh lí
cơ chế của việc học tập, chưa phải là một lí thuyết tâm lí học dạy học song
thuyết phản xạ được xem là căn cứ để phát triển lí thuyết hành vi.
Thuyết hành vi (behaviorism): học tập là sự thay đổi hành vi
Thuyết hành vi được phát triển dựa trên lí thuyết phản xạ của Pavlov
nhằm giải thích cơ chế tâm lí của việc học tập mà trọng tâm là sự tác động
qua lại giữa kích thích và phản ứng. Lí thuyết này gắn với các tên tuổi như
Watson (thuyết hành vi cổ điển), Skinner (1904 - 1990), Thorndike (1864 1949),…
Lí thuyết này chỉ ra rằng thông qua những kích thích về nội dung,
phương pháp dạy học, người học có những phản ứng tạo ra những hành vi học
tập và nhờ đó thay đổi hành vi của mình. Vì vậy, quá trình học tập được hiểu
là quá trình thay đổi hành vi của người học. Mô hình học tập theo thuyết hành
vi tuân theo cơ chế:
Thông tin đầu vào
(kích thích)

Học sinh


Như vậy, trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ bên
trong (phân tích, hệ thống, phát hiện, giải quyết vấn đề…). Mỗi người có cấu
trúc nhận thức riêng và có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức của mình. Lí
thuyết này chỉ ra rằng nhiệm vụ của người dạy là tạo ra môi trường học tập
thuận lợi, thường xuyên khuyến khích các quá trình tư duy. Trong dạy học
cần có sự cân bằng giữa những nội dung do GV truyền đạt và các nhiệm vụ tự
lực của HS. Lí thuyết này cũng khẳng định không chỉ kết quả học tập (sản
phẩm) mà quá trình học tập, quá trình tư duy của HS cũng là điều quan trọng.
Thuyết nhận thức được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong dạy học
(dạy học giải quyết vấn đề, dạy học khám phá, làm việc nhóm…). Tuy nhiên,
việc vận dụng lí thuyết này là có giới hạn bởi vì dạy học nhằm phát triển tư
duy, trí tuệ cần nhiều thời gian và đòi hỏi nhiều ở năng lực của GV. Ngoài ra,

8


cấu trúc của quá trình tư duy không trực tiếp quan sát được nên việc tối ưu
hóa nhận thức trong dạy học chỉ mang tính giả thuyết.
Thuyết kiến tạo (constructionalism): học tập là tự kiến tạo tri thức
Thuyết kiến tạo có thể coi là bước phát triển tiếp theo của thuyết nhận
thức với các đại diện như Piagiê, Vưgôtxki…
Tư tưởng cốt lõi của thuyết kiến tạo là đặt vai trò chủ thể nhận thức lên
vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức. Khi học tập, tri thức được lĩnh hội
thông qua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình
(do chủ thể tự kiến tạo). Do đó, cần tổ chức sự tương tác giữa người học và
đối tượng học tập, tạo điều kiện cho HS tự tìm hiểu, từ đó mà cấu trúc mới tư
duy của mình. Mô hình học tập theo thuyết kiến tạo như sau:
GV tạo môi trường học
tập và nội dung phức hợp
Học sinh

tập như sau:
- Việc học tập chỉ có thể được thực hiện qua hoạt động tích cực của
người học. Tổ chức dạy học cần quan tâm đúng mức tới vai trò của HS.
- Nội dung, lĩnh vực học tập cần hướng vào hứng thú của người học với
mức độ phức hợp khác nhau. Vì người học dễ tự nhận thức (chủ động khám
phá, tư duy) với những vấn đề gây được hứng thú và có tính thách thức.
- GV cần tạo sự tương tác giữa người học và nội dung học tập, sự hợp lí
giữa vai trò cố vấn của GV với vai trò tự giác, tự lực và tích cực của HS.
Trong dạy học, cần có niềm tin vào khả năng của HS, tạo cho HS cơ hội để
được tự giải quyết các vấn đề, qua đó mà phát triển năng lực của bản thân.
- Học tập hợp tác là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng.
1.1.3. Mối quan hệ giữa dạy và học
Khái niệm dạy học:
- Dạy học được hiểu là việc thế hệ đi trước truyền lại những kinh nghiệm xã
hội cho thế hệ sau, và thế hệ đi sau lĩnh hội những kinh nghiệm đó để tham
gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất và các lao động xã hội khác”
[Đặng Vũ Hoạt (chủ biên) (1997), Giáo dục học đại cương I, nhà xuất bản
giáo dục, tr 40]. Ở đây, hiện tượng dạy và hiện tượng học được gộp chung với
nhau.

10


Theo từ điển Tiếng Việt “Dạy học (đgt): Dạy để nâng cao trình độ văn
hóa và phẩm chất đạo đức theo chương trình nhất định” [12, tr 244]. Theo đó,
dạy học được hiểu là quá trình truyền lại tri thức hoặc kĩ năng một cách có hệ
thống, có phương pháp. Cách hiểu này quan tâm đến vai trò của người dạy,
đến quá trình truyền đạt của người dạy hơn là quá trình tiếp nhận của người
học.
Dạy học được xác định như một nỗ lực để giúp một người nào đó có được

Quá trình dạy học tuân theo những quy luật nhất định, trong đó có quy
luật về sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học. Dạy và học là hai thành tố
cơ bản vì nếu thiếu một trong hai hoạt động thì quá trình dạy học sẽ không
diễn ra. GV và HS với vai trò tương ứng là chủ thể của các hoạt động dạy và
học được nhấn mạnh như những nhân tố trung tâm trong quá trình dạy học
[Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GVTH (2007), Đổi mới phương
pháp dạy học ở Tiểu học, tài liệu đào tạo GVTH, Nxb GD, Hà Nội].
Tóm lại, dù cách thức diễn đạt khác nhau song các quan niệm
trên đều nhấn mạnh tính chất hai mặt của quá trình dạy học. Quá trình dạy
học nào cũng gồm hai hoạt động: hoạt động dạy và hoạt động học. Bằng hoạt
động dạy, GV tổ chức cho HS thực hiện các hoạt động học để chiếm lĩnh nội
dung bài học theo mục tiêu đã định. Bản chất mối quan hệ giữa hoạt động dạy
của GV và hoạt động học của HS là quan hệ “thầy tổ chức - trò hoạt động”,
chúng thống nhất với nhau trong cùng một cơ chế phân công và hợp tác,
hướng tới mục tiêu là sự phát triển nhân cách của HS.
Phân tích mối quan hệ giữa dạy và học, các tác giả cũng chỉ ra rằng bản
chất quá trình dạy học tiểu học là quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức
của HS và kết quả dạy học thể hiện ở kết quả nhận thức của HS [3]. Thực chất
quá trình dạy học là quá trình GV tổ chức cho HS tiến hành các hoạt động
nhận thức. Do đó, việc đánh giá hiệu quả dạy học phải xem xét cả những biến
đổi tâm lí bên trong người học (thể hiện ở cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng
tượng…). Nói cách khác, không chỉ kết quả học tập bên ngoài (sản phẩm) mà
quá trình HS “học” ra sao, tư duy thế nào để rút ra kết quả đó cũng rất quan
trọng.

12


Hoạt động học tập là hoạt động trực tiếp hướng vào việc lĩnh hội tri
thức và rèn luyện kĩ năng, từ đó làm thay đổi chủ thể hoạt động. Nó là hoạt

giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương
pháp tự học…”. [điều 24.2, Luật Giáo dục].
Vấn đề đổi mới PPDH được miêu tả bằng thuật ngữ “phương pháp dạy
và học tích cực”. Thuật ngữ này cũng tương tự như “giáo dục lấy HS làm
trung tâm”, nó nhấn mạnh đến sự tham gia tích cực của từng cá nhân HS
trong giờ học. Ở tiểu học, điều này đã được đề cập trong chương trình mới
như sau: “Phương pháp giáo dục tiểu học là phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động và sáng tạo của HS”. Như vậy, định hướng đổi mới PPDH đã được
khẳng định rõ, không còn là vấn đề tranh luận. Việc đổi mới PPDH ở tiểu học
về cơ bản là nhằm giúp HS hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói
quen học tập thụ động.
1.2.2. Quan điểm HS là chủ thể tích cực của QTHT
Thực chất dạy học theo quan điểm HS là chủ thể tích cực của QTHT
cũng chính là dạy học theo quan điểm lấy HS làm trung tâm hay dạy học tích
cực, chúng không khác nhau về bản chất (dạy học lấy HS làm trung tâm, dạy
học tích cực và dạy học hiệu quả là những cách diễn đạt khác nhau của cùng một
ý). Dạy học phát huy tính tích cực của người học nhấn mạnh đến vai trò chủ
thể tích cực của người học trong QTHT. Vì thế, làm rõ “tính chủ thể” của
người học trong QTHT được coi là cơ sở để xây dựng những nguyên tắc tổ
chức QTHT cho người học phù hợp với quan điểm này.
Tính chủ thể của người học:
Thuật ngữ ‘tính chủ thể’ ở đây được dùng để nhấn mạnh cả 2 khía
cạnh: (1) tính chủ động, độc lập của người học trong QTHT; (2) tính độc đáo
(không trùng nhau), khác biệt của chủ thể này so với chủ thể khác trong

14


QTHT [36]. ”Tính chủ thể” của người học trong QTHT được biểu hiện một số

của GV, HS và phong cách học tập của HS làm cho giáo dục lấy HS làm trung
tâm hoàn toàn khác biệt với giáo dục truyền thống [Cơ quan hợp tác quốc tế
Nhật Bản (JICA) và Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Bắc Giang (2007), sách bồi
dưỡng GV Tiểu học, dự án hợp tác kĩ thuật nhằm tăng cường bồi dưỡng GV
theo cụm và quản lí nhà trường tại Việt Nam]. Biểu hiện tính tích cực học tập
của HS kể trên là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục lấy HS làm
trung tâm. Ngoài ra, để thấy rõ hơn đặc trưng khác biệt của quan điểm này, còn
phải kể đến 3 nội dung không thể thiếu, đó là:
Hứng thú của HS:
“Hứng thú” ở đây không chỉ là sự thích thú, vui vẻ mà ở đây còn có nghĩa
là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy học tập, làm cho HS háo hức tiếp thu kiến thức
mới. Khi HS có hứng thú thì thái độ học tập của các em lúc này hết sức tích cực
và chủ động. Những học sinh có hứng thú thường hỏi “tại sao?”, “như thế nào?”
hoặc “sao lại như vậy?”... Do đó, “hứng thú” không chỉ là sự cuốn hút mà là
nguồn động lực mạnh mẽ thúc đẩy HS suy nghĩ và khiến các em phải đào sâu
suy nghĩ. Đây mới là ý nghĩa thực sự của từ “hứng thú” trong giáo dục lấy HS
làm trung tâm. “Hứng thú” ở đây biểu thị mức độ cao của khái niệm này chứ
không phải ở mức độ thấp giống như sự hấp dẫn mang tính giải trí (chẳng hạn
như HS bị thu hút vì nhiều loại đồ dùng trực quan minh họa cho bài học hơn là
thấy thích thú vì tò mò muốn tìm hiểu thêm về nội dung bài học).
Giáo dục lấy HS làm trung tâm khuyến khích mạnh mẽ việc giáo dục nên
bắt nguồn từ sự hứng thú và mối quan tâm của trẻ. Nếu không có hứng thú và
động lực thì HS sẽ không thể học thực sự. Chỉ qua học tập thực sự HS mới có thể
học tập hết mình và khát khao mạnh mẽ để thu thập điều gì đó cần thiết cho bản
thân.
Kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày của HS:

16



Dạy học lấy HS làm trung tâm đòi hỏi người GV phải tư duy theo cách
nghĩ mới và tự trang bị những kỹ năng mới. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả ,
ngoài việc nắm được các kĩ thuật và PPDH tích cực, GV cần hiểu đúng quan
niệm dạy học lấy HS làm trung tâm để quán triệt nó trong mọi suy nghĩ và hành
động giáo dục.
1.2.3. Tổ chức dạy học theo cách tiếp cận HS là chủ thể tích cực của QTHT
“Tổ chức” (đgt): làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào
đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất [12, tr1007]. Theo đó, tổ chức dạy học là
những việc làm cụ thể của GV và HS để thực hiện hiệu quả các hoạt động dạy
học. Nói cách khác, tổ chức dạy học là việc tiến hành các hoạt động dạy học
(cách thức tổ chức hoạt động của GV và HS) theo một trình tự nhất định
nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
Ở nhà trường, quá trình dạy học luôn gắn với các môn học cụ thể. Quá
trình đó có thể được tính trong phạm vi cả môn học hay thu hẹp ở phạm vi
mỗi bài học. Điều này thực ra không phải là vấn đề vì việc dạy học cả môn
học sẽ được thực hiện qua tổ chức dạy học từng bài cụ thể. Ở đây, đề tài tập
trung nghiên cứu việc tổ chức dạy học ở phạm vi mỗi bài học.
Để tổ chức dạy học một bài cụ thể, GV cần làm hai việc chủ yếu: thiết
kế bài học (soạn giáo án) và dựa vào thiết kế để tổ chức các hoạt động trên
lớp. Hai việc này thực ra không tách rời nhau bởi tiến hành bài lên lớp chỉ là
sự hiện thực hóa của thiết kế. Như vậy, đề tài xác định tổ chức dạy học (gồm
cả việc thiết kế bài học trước đó) là việc tiến hành các hoạt động dạy học trên
lớp nhằm đạt được mục tiêu bài học.
“Tiếp cận” (đgt): là từng bước, bằng những phương pháp nhất định tìm
hiểu một vấn đề. Ở đây, tiếp cận HS là sử dụng các phương pháp phù hợp để
sử dụng giảng dạy. Hay tiếp cận HS là chủ thể tích cực của QTHT là việc
soạn giáo án bài học phải có những phương pháp giảng dạy đảm bảo HS tham

18


- Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương.

19


Nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, 2, 3):
Chương trình Tự nhiên và Xã hội 1, 2, 3 gồm 3 chủ đề lớn là: (1) Con
người và sức khỏe, (2) Tự nhiên và (3) Xã hội - được cấu trúc đồng tâm và
mở rộng dần theo nguyên tắc từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu
tượng. Nội dung ba chủ đề là sự tích hợp của nhiều kiến thức giúp HS có cách
nhìn toàn diện về con người, thiên nhiên, và cuộc sống xung quanh. Cụ thể:
- Con người và sức khoẻ: các cơ quan trong cơ thể, cách giữ vệ sinh
thân thể, cách ăn, ở, nghỉ ngơi vui chơi điều độ và an toàn, phòng tránh bệnh
tật. Thực hành chăm sóc răng miệng, đầu tóc, rửa tay, chân …
- Xã hội: các thành viên và các mối quan hệ của các thành viên đó
trong gia đình,lớp học và nhà trường ; cảnh quan tự nhiên và hoạt động của
con người ở địa phương nơi HS sống. Cách giữ vệ sinh nhà ở, lớp học, trường
học, nơi công cộng; cách giữ an toàn cho bản thân…
- Tự nhiên: đặc điểm cấu tạo và môi trường sống của một số thực vật,
động vật phổ biến; ích lợi hoặc tác hại của chúng đối với con người. Một số
hiện tượng tự nhiên (thời tiết, ngày, đêm, các mùa …); sơ lược về Mặt Trời,
Mặt Trăng, sao và Trái Đất.
Cấu trúc nội dung môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 gồm các chủ đề
với số lượng các bài học được phân phối trong bảng sau:
Stt

Chủ đề

Lớp 1


12

31

35 tiết

35 tiết

70 tiết

Tổng số

1.3.2. Mục tiêu, nội dung môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2
Mục tiêu:
i) Về kiến thức: HS có một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:
Con người và sức khỏe:
- Nêu được ví dụ sự phối hợp cử động của cơ và xương.

20


- Nêu tên và chỉ được vị trí các bộ phận chính của cơ quan vận động trên
tranh vẽ hoặc mô hình.
- Nêu được tác dụng của các việc cần làm.
- Biết được buổi sáng nên ăn nhiều, buổi tối ăn ít, không nên bỏ bữa ăn.
- Nêu tác dụng của 3 sạch để cơ thể khỏe mạnh và chóng lớn.
Xã hội:
- Nêu tác dụng các việc làm của em đối với gia đình.
- Biết phân loại một số đồ dùng trong gia đình theo vật liệu làm ra chúng:
bằn gỗ, nhựa, sắt,…

- Biết đưa ra lời khuyên trong một số tình huống có thể xảy ra tai nạn giao
thông khi đi xe máy, ô tô, thuyền bè, tàu hỏa.
- Mô tả được một số nghề nghiệp, cách sinh hoạt của dân vùng nông thôn
hay thành thị.
- So sánh về cảnh quan thiên nhiên, nghề nghiệp, cách sinh hoạt của người
dân vùng nông thôn và thành thị.
Tự nhiên:
- Kể được tên một số cây có rễ cắm sâu trong bùn.
- Kể được tên một số con vật hoang dã sống trên cạn và một số vật nuôi.
- Hình dung (tưởng tượng) được điều gì xảy ra nếu Trái Đất không có mặt
trời.
- Dựa vào Mặt Trời, biết xác định phương hướng ở bất cứ địa điểm nào.
iii) Về thái độ: hình thành và phát triển ở HS những thái độ và thói quen:
- Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia
đình và cộng đồng.
- Có ý thức yêu thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên.
1.3.2. Nội dung môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2
Nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội 2 gồm 3 chủ đề lớn là: Con
người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên. Nội dung và kế hoạch giảng dạy cụ thể
được thống kê theo bảng sau:
Bảng1.1: Bảng phân phối nội dung môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Chủ đề
Con người
và sức khỏe

Tên bài

Tuần

Bài 1: Cơ quan vận động

Bài 7: Ăn uống đầy đủ

Tuần 7

Bài 8: Ăn, uống sạch sẽ

Tuần 8

Bài 9: Đề phòng bệnh giun

Tuần 9

Bài 10: Ôn tập: Con người và sức khỏe

Tuần 10

Bài 11: Gia đình

Tuần 11

Bài 12: Đồ dùng trong gia đình

Tuần 12

Bài 13: Giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở

Tuần 13

Bài 14: Phòng tránh ngộ độc khi ở nhà



Bài 22: Cuộc sống xung quanh (tiếp theo)

Tuần 22

Bài 23: Ôn tập: Xã hội

Tuần 23

Bài 24: Cây sống ở đâu?

Tuần 24

Bài 25: Một số loài cây sống trên cạn

Tuần 25

Bài 26: Một số loài cây sống dưới nước

Tuần 26

Bài 27: Loài vật sống ở đâu?

Tuần 27

Bài 28: Một số loài vật sống trên cạn

Tuần 28

Bài 29: Một số loài vật sống dưới nước

phát triển kĩ năng trong học tập như quan sát, nêu nhận xét, thắc mắc, đặt câu
hỏi và diễn đạt hiểu biết của bản thân về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong
tự nhiên và trong xã hội. Ngoài việc hình thành những kiến thức, kĩ năng cần
thiết; môn học còn góp phần giáo dục thái độ, thói quen và hành vi đúng đắn
của HS với cuộc sống xung quanh.
Sự phong phú, đa dạng của các đối tượng trong các chủ đề tạo cho trẻ
hứng thú được tìm hiểu, khám phá đối tượng. Song những đối tượng đó cũng
là những sự vật, hiện tượng gần gũi, gắn với cuộc sống hàng ngày của trẻ, qua
đó giúp trẻ có cơ hội được liên hệ, vận dụng kiến thức với thực tiễn cuộc
sống. Mặt khác, quá trình nhận thức của HS lớp đầu tiểu học mang tính trực
quan cụ thể, tư duy gắn liền với hoạt động trực tiếp, hình ảnh cụ thể. Để tiếp
thu được kiến thức tổng hợp trên thì GV phải tổ chức cho HS được hoạt đông
trực tiếp sử dụng các giác quan trực tiếp sờ, mó, nghe, nhìn, ngửi, nếm…
Thông qua quá trình học tập chủ động, tích cực đó mà các năng lực cá nhân
HS được bộc lộ và phát triển.

24


CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC
DẠY HỌC TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở LỚP 2 THEO CÁCH TIẾP CẬN
HỌC SINH LÀ CHỦ THỂ TÍCH CỰC CỦA QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
2.1. Mục đích khảo sát thực trạng
Tìm hiểu thực trạng dạy học TN&XH và dạy học TN&XH với việc đáp ứng
yêu cầu của đổi mới dạy học theo quan điểm HS là chủ thể tích cực của
QTHT.
2.2. Đối tượng khảo sát thực trạng
Người nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin qua điều tra giáo viên và học
sinh ở một số trường tiểu học thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3. Nội dung khảo sát thực trạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status