TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
-------o0o-------
VŨ QUỐC MẠNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÍNH CHẤT VÀ HÌNH
THÁI CẤU TRUCSCUAR VẬT LIỆU
COMPOZIT TRÊN CƠ SỞ COPOLIME
ETYLEN VINYL AXETAT (EVA) VÀ SILICA
CHẾ TẠO BẰNG PHƯƠNG PHÁP SOL-GEL CÓ
VÀ KHÔNG CÓ EVAgAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Hóa hữu cơ
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS Thái Hoàng
HÀ NỘI - 2011
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nghiên cứu, số liệu trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung
thực và không trùng với kết quả của các tác giả khác. Nếu có gì sai sót
ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho em những
kiến thức cơ bản nhất để giúp em hoàn thành khóa luận của mình.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã tạo
điều kiện giúp đỡ và động viên em trong quá trình hoàn thành khóa
luận.
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2011
Tác giả khóa luận
Vũ Quốc Mạnh
iii
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................. 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN............................................................... 3
I-Tổng quan về vật liệu compozit ......................................................... 3
I.1. Khái niệm....................................................................................... 3
I.2. Phân loại vật liệu compozit ............................................................ 3
I.2.1. Phân loại theo hình học cốt ......................................................... 3
I.2.2. Phân loại theo bản chất của nền................................................... 4
CHƯƠNG II: THỰC NGHIỆM........................................................ 46
II.1. Nguyên liệu, hóa chất .................................................................. 46
II.2. Chế tạo hạt silica........................................................................... 46
II.3. Chế tạo vật liệu nano compoztit EVA/silica.................................. 46
II.4. Chế tạo mẫu EVA/EVAgAM/SiO2 ........................................................................... 47
II.5. Các phương pháp và thiết bị nghiên cứu ....................................... 47
II.5.1. Phương pháp phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR)............... 47
II.5.2. Phương pháp hiển vi điện tử quét phát xạ trường (FESEM) ....... 49
II.5.3. Phương pháp xác định tính chất cơ học...................................... 50
II.5.4. Phương pháp xác định tính chất lưu biến trạng thái rắn của vật liệu
compozit..................................................................................... 51
II.5.5. Phương pháp phân tích nhiệt khối lượng (TGA) ........................ 53
II.5.6. Phương pháp thử nghiệm oxy hóa nhiệt ..................................... 54
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN................................... 56
III.1. Hình thái và cấu trúc của hạt silica .............................................. 56
III.2. Khảo sát điều kiện chế tạo vật liệu compozit EVA/silica............. 58
III.2.1. Khảo sát nhiệt độ ...................................................................... 58
III.2.2. Khảo sát dung môi phân tán silica ............................................ 64
III.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của chất tương hợp EVAgAM đến hình thái
cấu trúc và tính chất của EVA và vật liệu compozit EVA/silica . 68
III.3.1. Phổ IR của vật liệu compozit EVA/silica và EVA/EVAgAM/silica
III.3.2.Ảnh
FESEM
của
liệu
compozit
cuả
vật
liệu
compozit
EVA/silica
và
EVA/EVAgAM/silica sau khi oxy hóa ....................................... 82
III.3.6.2. Tính chất cơ lý cuả vật liệu compozit EVA/silica và
EVA/EVAgAM/silica sau khi oxy hóa nhiệt .............................. 84
KẾT LUẬN......................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................. 89
vi
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
PET
Polyetylen terephatalat
PPy
Polypyrol
PS
Polystiren
PVA
Polyvinylaxetat
PVC
Polyvinylclorua
PU
Polyuretan
VTES
Vinyltrietoxysilan
TEOS
dẻo, độ bám dính tốt, có thể phối trộn với một lượng lớn các chất độn...
Tuy nhiên phạm vi ứng dụng của EVA còn hạn chế do EVA còn một số
nhược điểm như: dễ bị oxy hóa bởi tác động của tia tử ngoại, dễ bị phân
hủy bởi nhiệt độ cao trong không khí, độ bền kéo đứt thấp… Do vậy, để
tăng độ bền nhiệt và độ bền kéo đứt, người ta thường đưa thêm các phụ
gia nano vào nền EVA.
Hạt silica đã được sử dụng làm chất gia cường từ lâu. Đã có nhiều
nghiên cứu về vật liệu compozit/silica với các polyme nền như:
polipropilen (PP), polietylen (PE), polivinylclorua (PVC), copolime
etylen vinyl axetat (EVA)… Trong các nghiên cứu về vật liệu compozit
EVA/silica, các tác giả mới chỉ tập trung nghiên cứu hình thái cấu trúc,
tính chất lưu biến và tính chất nhiệt của vật liệu, mà chưa đi sâu nghiên
cứu tính chất cơ lý cũng như ảnh hưởng của chất tương hợp đến cấu trúc
và tính chất của vật liệu. Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu
1
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp
sol-gel có và không có EVAgAM”.
phân bố và định hướng cũng như kích thước và hình dạng sợi. Những loại
sợi thường dùng là sợi thủy tinh, sợi cacbon, sợi kim loại và sợi polyme.
Ngoài ra, người ta còn hay dùng hai hay nhiều loại sợi trong cùng một
nền.
Vật liệu compozit cốt hạt: Khi vật liệu tăng cường có dạng hạt, các
tiểu phân hạt độn phân tán vào pha nền. Hạt khác sợi ở chỗ nó không có
kích thước ưu tiên.
- Hạt thô: đa dạng và sử dụng phổ biến trong công nghiệp xây dựng.
Một số compozit cốt hạt thô thông dụng: hợp kim cứng; hợp kim làm tiếp
điểm (nền Cu – cốt W, nền Ag – cốt W (hoặc Mo)); bê tông (cốt sỏi (đá) –
nền ceramic (xi măng)).
3
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
- Hạt mịn: cốt có kích thước nhỏ (< 0,1 μm), là vật liệu bền, cứng, ổn
định nhiệt cao, thường là oxyt, nitrit, cacbit… Một số compozit cốt hạt
mịn thông dụng: SAP, SAAP (CAII, CAC): compozit nền Al – cốt Al2O3
(5 - 20 %); T – D Nicken (Thoria Disdersed Nickel): compozit nền Ni –
Có hướng Ngẫu nhiên
Hình I.1. Sơ đồ phân loại vật liệu compozit theo hình học cốt.
I.2.2. Phân loại theo bản chất của nền
+ Compozit nền hữu cơ (nhựa polyme): polyme là pha nền được dùng
phổ biến nhất với đủ chủng loại cả nhựa nhiệt rắn lẫn nhựa nhiệt dẻo:
polyeste, nylon, nhựa epoxy, nhựa phenolformanđehit, polyamit…
+ Compozit nền kim loại: kim loại dùng làm pha nền thường là nhôm và
đồng.
4
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
+ Compozit nền khoáng (gốm): hiện còn ít dùng nền là gốm
(ceramic) trừ bê tông cốt thép là loại phổ biến nhất hiện nay.
I.3. Cấu tạo vật liệu compozit
Nền của compozit nói chung có thể được sử dụng từ polyme, kim
loại, gốm và các hỗn hợp nhiều pha.
Trong phạm vi khóa luận này, em chỉ đề cập đến compozit có nền là
polyme.
I.3.1. Polyme nền
Polyme là chất kết dính, tạo môi trường phân tán, đóng vai trò truyền
ứng suất sang chất độn, chất gia cường khi có ngoại lực tác dụng lên vật
axetat, tricloetylen, dầu thông... Dù ở nhiệt độ cao, PE cũng không thể
hòa tan trong nước, trong các loại rượu béo, axeton, ete etylic, glixerol và
các loại dầu thảo mộc.
PE được ứng dụng trong công nghiệp và đời sống như: vỏ bọc dây
điện, bọc hàng, làm màng mỏng che mưa, chai lọ, chế tạo thiết bị trong
ngành sản xuất hóa học.
Polyvinylclorua (PVC): được tạo thành từ phản ứng trùng hợp vinyl
clorua (VC).
PVC có dạng bột màu trắng hoặc màu vàng nhạt. PVC tồn tại ở hai
dạng là huyền phù (PVC.S - PVC Suspension) có kích thước hạt lớn từ
20 - 150 µm và nhũ tương (PVC.E - PVC Emulsion) có độ mịn cao.
PVC không độc, nó chỉ độc bởi phụ gia, monome VC còn dư và khi
gia công chế tạo sản phẩm do sự tách thoát khí HCl... PVC chịu va đập
kém, vì vậy, để tăng cường tính va đập cho PVC người ta thường dùng
chủ yếu các chất sau: MBS, ABS, CPE, EVA với tỉ lệ từ 5 – 15 % kl.
PVC cách điện tốt, các vật liệu cách điện từ PVC thường được sử dụng
thêm các chất hóa dẻo tạo cho PVC mềm dẻo hơn, dai và dễ gia công hơn.
PVC có nhiều ứng dụng trong đời sống tùy thuộc vào quá trình chế
tạo: áo mưa, bọc tập kẹp hồ sơ văn phòng, dùng làm ra các dòng sản
phẩm cửa nhựa lõi thép cao cấp, cửa sổ, cửa đi, vách ngăn PVC, hàng rào
nhựa bao quanh biệt thự hoặc nhà phố.
Polystiren (PS): được tạo thành từ phản ứng trùng hợp stiren. Công
thức cấu tạo của polystiren là: (CH[C6H5]-CH2)n.
6
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
dài lớn, tính đàn hồi cao, chịu lạnh tốt, có khả năng phối hợp với một
7
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
lượng lớn chất độn. Chính vì vậy, EVA được dùng khá rộng rãi trong đời
sống và trong công nghiệp.
Một số loại nhựa nhiệt rắn thông dụng
Polyeste
Nhựa polyeste được sử dụng rộng rãi trong công nghệ chế tạo
compozit ở dạng polyeste không no, có khả năng đóng rắn ở dạng lỏng
hoặc ở dạng rắn tùy thuộc điều kiện thích hợp. Thông thường người ta gọi
polyeste không no là nhựa polyeste hay ngắn gọn hơn là polyeste.
Polyeste có nhiều loại, đi từ các axit, glycol và monome khác nhau,
mỗi loại có những tính chất khác nhau, phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố:
+ Thành phần nguyên liệu (loại và tỷ lệ tác chất sử dụng).
+ Phương pháp tổng hợp.
+ Trọng lượng phân tử.
+ Hệ đóng rắn (monome, chất xúc tác, chất xúc tiến).
+ Hệ chất độn.
Bằng cách thay đổi các yếu tố trên, người ta sẽ tạo ra nhiều loại
dài mạch phân tử đều sẵn chịu tải, nghĩa là vinyleste dai và đàn hồi hơn
polyeste. Vinyleste có ít nhóm este hơn polyeste, nhóm este rất dễ bị thủy
phân, tức là vinyleste kháng nước tốt hơn các polyeste khác, do vậy nó
thường được ứng dụng làm ống dẫn và bồn chứa hoá chất, lớp phủ bên
ngoài cho sản phẩm ngập trong nước, như là vỏ ngoài của tàu, thuyền.
Epoxy
Epoxy là đại diện cho một số nhựa có tính năng tốt nhất hiện nay.
Nói chung, epoxy có tính năng cơ lý, kháng môi trường hơn hẳn các nhựa
khác, là loại nhựa được sử dụng nhiều nhất trong các chi tiết máy bay.
Với tính chất kết dính và khả năng kháng nước tuyệt vời của mình, epoxy
rất lý tưởng để sử dụng trong ngành đóng tàu, là lớp lót chính cho tàu chất
lượng cao hoặc là lớp phủ bên ngoài vỏ tàu hay thay cho polyeste dễ bị
thủy phân bởi nước.
Nhựa epoxy được tạo thành từ những mạch phân tử dài, có cấu trúc
tương tự vinyleste, với nhóm epoxy phản ứng ở vị trí cuối mạch. Nhựa
epoxy không có nhóm este, do đó khả năng kháng nước của epoxy rất tốt.
Ngoài ra, do có hai vòng thơm ở vị trí trung tâm nên nhựa epoxy chịu ứng
suất cơ và nhiệt nó tốt hơn mạch thẳng, do vậy, epoxy rất cứng, dai và
9
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
năng chịu được va đập; độ giãn nở cao; khả năng cách âm tốt; tính chịu
ma sát- mài mòn; độ nén, độ uốn dẻo và độ bền kéo đứt cao; khả năng
chịu được trong môi trường ăn mòn như: muối, kiềm, axít… Những khả
năng đó đã chứng tỏ tính ưu việt của vật liệu compozit so với các loại
polyme thông thường.
Trong công nghiệp, người ta thường đưa các chất độn gia cường vào
để nâng cao tính chất cơ lý và hạ giá thành sản phẩm. Mỗi loại chất gia
cường với những hàm lượng thích hợp có thể nâng cao một số tính năng
nào đó của vật liệu. Các chất gia cường thường được sử dụng được giới
thiệu dưới đây [2].
Than hoạt tính
Than hoạt tính kỹ thuật là sản phẩm cháy không hoàn toàn của các
hợp chất hyđrocacbon, được phân thành 3 nhóm chính: than lò, than nhiệt
phân, than máng. Than hoạt tính là chất gia cường chủ yếu trong công
nghiệp, sự có mặt của than hoạt tính trong hợp phần với hàm lượng cần
thiết làm tăng tính chất cơ lý của vật liệu: độ bền kéo đứt, xé rách, khả
năng chống mài mòn, độ cứng… Than hoạt tính được sản xuất rất đa
dạng. Khả năng tăng cường tính chất cho vật liệu được quyết định bởi cấu
trúc hoá học, mức độ phân tán và khối lương riêng của than [2, 3].
Bột talc
Đây là dạng bột có màu trắng mịn, trích lấy từ quặng mỏ. Thông
thường được dùng làm chất cách ly kháng dính cho hỗn hợp bởi tính trơn
hiệu quả cao nhất. SiO2 được đưa vào trong vật liệu ở dạng bột mịn, được
điều chế bằng phương pháp ướt hoặc phương pháp sương mù. Một số tác
giả đã nghiên cứu quá trình gia cường SiO2 trong vật liệu polyme cho
thấy tính chất cơ lý và khả năng cách điện của vật liệu được cải thiện
đáng kể [2].
SiO2 còn được sử dụng như một chất tăng cường độ trắng rất tốt cho
vật liệu polyme nói chung.
Bột CaCO3
Chất gia cường đi từ đá phấn, đá vôi thường được nghiền nhỏ và xử
lý đến cỡ hạt thích hợp để sử dụng làm chất gia cường cho vật liệu. Bột
CaCO3 là tập hợp các hạt có kích thước 1 – 10 µm với hình dạng hạt đa
dạng, người ta thường phân biệt CaCO3 làm 2 loại:
12
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
CaCO3 thiên nhiên được nghiền trực tiếp từ đá vôi.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
Nền sử dụng trong chế tạo polyme compozit rất đa dạng, phong phú,
bao gồm cả nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt rắn. Các polyme thường sử
dụng trong chế tạo polyme compozit là: nhựa polyetylen( PE), nhựa
polypropylen (PP), nhựa etylen vinyl-axetat (EVA), nhựa polyeste, nhựa
epoxy, nhựa polystyren (PS), cao su thiên nhiên, cao su butadien…
Trong chế tạo polyme compozit cho đến nay, đa phần cốt được dùng
dưới dạng hạt. Sau đây là một số loại hạt thường được sử dụng:
Khoáng thiên nhiên: chủ yếu là đất sét vốn là các hạt silicat có cấu
tạo dạng lớp như montmorillonit, vermiculit, fluoromica, bentonit kiềm
tính, các hạt grafit…
Các hạt độn thu được từ con đường nhân tạo: thường là các hạt tinh
thể như CdS, PbS, CaCO3, bột than…
I.4.2. Đặc điểm của vật liệu polyme compozit
Với pha phân tán là các loại bột có kích thước nano nên chúng phân
tán rất tốt vào trong polyme, tạo ra các liên kết ở mức độ phân tử giữa các
pha với nhau nên cơ chế tương tác khác hẳn với compozit thông thường.
Các phần tử nhỏ phân tán tốt vào các pha nền dưới tác dụng của lực bên
ngoài tác động, làm tăng độ bền cuả vật liệu, đồng thời làm cho vật liệu
cũng ổn định ở nhiệt độ cao [5].
Do kích thước nhỏ ở mức độ phân tử nên khi kết hợp với các pha
nền có thể tạo ra các liên kết vật lý nhưng tương đương với liên kết hoá
học, vì thế cho phép tạo ra các vật liệu có tính chất mới, ví dụ tạo ra các
hòa, tránh được hiện tượng nhiệt cục bộ.
+ Khi phản ứng kết thúc sản phẩm tạo thành ở trong dung môi nên
dễ dàng xử lí tiếp.
+ Phương pháp này thuận tiện cho quá trình nghiên cứu động học và
cơ chế phản ứng.
- Nhược điểm:
+ Giá thành sản phẩm cao.
+ Gây ô nhiễm môi trường.
+ Không tạo ra được sản phẩm có kích thước lớn, tốn kém dung môi.
15
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu một số tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở
copolyme etylen vinyl axetat (EVA) và silica chế tạo bằng phương pháp sol-gel có và
không có EVAgAM
b. Phương pháp tổng hợp từ monome
Nguyên liệu ban đầu là các monome được monome hóa hoặc
được ghép vào trong các mạch đại phân tử lớn khác trong các thiết bị
phản ứng.
- Nhược điểm: quá trình trùng hợp diễn ra rất phức tạp nên khó kiểm
soát.
- Ưu điểm: có nhiều phương pháp dùng monome để chế tạo vật liệu
như phương pháp trùng hợp khối, trùng hợp nhũ tương…
dựa trên những ưu thế đặc biệt như giảm trọng lượng, tiết kiệm nhiên liệu,
tăng độ chịu ăn mòn, giảm độ rung, tiếng ồn và tiết kiệm nhiên liệu cho
máy móc. Ngành hàng không vũ trụ sử dụng vật liệu này vào việc cuốn
cánh máy bay, mũi máy bay và một số linh kiện, máy móc khác của các
hãng như Boing 757, 676 Airbus 310… Trong ngành công nghiệp điện tử,
vật liệu polyme compozit được sử dụng để sản xuất các chi tiết, các bảng
mạch và các linh kiện. Ngoài ra vật liệu này còn được ứng dụng trong rất
nhiều lĩnh vực khác như ngành công nghiệp đóng tàu, xuồng, ca nô; các
ngành dân dụng như y tế (hệ thống chân, tay giả, răng giả, ghép sọ…),
ngành thể thao (các đồ dùng thể thao như gậy gôn, vợt tennit…), và các
ngành dân dụng, quốc kế dân sinh khác.
Ở nước ta, vật liệu compozit được áp dụng hầu hết ở các ngành, các
lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Tính riêng nhựa dùng để sản xuất vật
liệu compozit được tiêu thụ ở Việt Nam khoảng 5.000 tấn mỗi năm; tại
Hà Nội đã có 8 đề tài nghiên cứu về compozit cấp thành phố được tuyển
chọn, theo đó vật liệu compozit được sử dụng nhiều trong đời sống xã
hội. Tại Khoa Răng của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã sử dụng
vật liệu compozit vào trong việc ghép răng thưa, ngành giáo dục sử dụng
làm bàn ghế, ngành giao thông sử dụng làm các giải phân cách đường
giao thông, hệ thống tàu xuồng, ngành văn hóa, thể thao sử dụng làm hệ
thống máng trượt, máng hứng và ghế ngồi, mái che của các nhà thi đấu,
các sân vận động và các trung tâm văn hoá… Việt Nam cũng đã và đang
ứng dụng vật liệu compozit vào các lĩnh vực điện dân dụng như làm hộp
công tơ điện, sào cách điện, đặc biệt là sứ cách điện...
17
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
polyme (kị nước) và silica (ưa nước). Phương pháp hay sử dụng nhất là
biến tính silica trước khi cho phân tán trong polyme nền. Có hai phương
pháp biến tính silica là: phương pháp hóa học và phương pháp vật lý [6].
18
GVHD : PGS. TS. Thái Hoàng
SVTH : Vũ Quốc Mạnh
Lớp : K33A
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP