HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------------------------

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTM
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
LỚP ĐÊM 2 - K21

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRẦN HUY HOÀNG
Nhóm 4:
Tạ Văn Hiệu
Trần Ngô Minh Hùng
Nhan Thị Hương
Phan Tuyết Trinh
Nguyễn Thị Mai Trường


Hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM giai đoạn hiện nay
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 11/2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................................................4
CHƯƠNG 1:.........................................................................................................................................5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI...........................5
1.1 Rủi ro tín dụng..........................................................................................................................5
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng...................................................................................................5
1.2.1 Phân loại rủi ro tín dụng.....................................................................................................5
1.1.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng..............................................................................................7
1.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế xã

3.1.4 Hạn chế, bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra:.......................................................................27
3.1.5 Về nhân sự và cơ cấu tổ chức..........................................................................................28
3.1.6 Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin hiệu quả trong toàn hệ thống..................................31
3.1.7 Hoàn thiện hệ thống thông tin đánh giá khách hàng.......................................................32
3.1.8 Phát triển hệ thống công nghệ thông tin.........................................................................32
3.2 Giải pháp hỗ trợ từ phía ban, ngành liên quan.......................................................................34
3.2.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước............................................................................34
3.2.2 Kiến nghị đối với chính phủ..............................................................................................37
KẾT LUẬN..........................................................................................................................................40
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................................41

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 3


Hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM giai đoạn hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU

Quá trình toàn cầu hóa làm tăng thêm mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền
kinh tế trên thế giới. Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng không ngoại lệ. Với
những biến động khôn lường của nền kinh tế, nhất là thị trường tài chính đã tạo ra
những rủi ro khó tránh khỏi cho các DN. Nhằm hạn chế những điều này, các
quốc gia phải thực hiện cải cách, xây dựng hệ thông quản lý tài chính và cơ chế
phòng ngừa rủi ro tài chính, công khai, minh bạch trong hoạt động ngân hàng
để tránh những nguy cơ biến động mạnh của thị trường tài chính.
Trong những năm gần đây, tình hình tăng nóng tín dụng đã chứa đựng nhiều nguy
cơ rủi ro cao trong hoạt động của các ngân hàng. Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và
nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hàng
hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người.

nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối
quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện
hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ nghĩa trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra
trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho
thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng. Đây còn được gọi là rủi ro
mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt
động tín dụng của ngân hàng.
1.2.1 Phân loại rủi ro tín dụng
1.1.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro
-

Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên

nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt
cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 5


ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ:
• Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng
khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định
cho vay.
• Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều
khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,
hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
• Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt


cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan
khác.

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 6


1.1.2.3 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng
-

Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín

dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả
nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi
được vốn vay.
-

Rủi ro do không có khả năng trả nợ: Là rủi ro xảy ra trong

trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng chi trả, ngân hàng phải thanh
lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ.
-

Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các

hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh,
cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân
hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ…

Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với

hoạt động tín dụng của NHTM. Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động
ngân hàng. Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối
quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng
với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân
hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được, nằm trong phạm vi khả năng các
nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng.
1.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng và nền kinh tế xã hội
1.2.1 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và
lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi
đến hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay
vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của ngân
hàng tăng lên so với dự kiến.
Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sử
dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực
nào đấy, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân
hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi
ro thanh khoản. Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính
giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn
lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể
dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 8





Quản lý rủi ro tín dụng (QLRRTD) là quá trình ngân hàng hoạch định, tổ
chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng
nhằm tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro có thể chấp nhận.
1.3.2 Sự cần thiết của quản lý rủi ro tín dụng
• RRTD là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự tổn thất về vốn của các
NHTM
Thường thu nhập của các NHTM được đem lại chủ yếu là từ nguồn thu nhập
của hoạt động tín dụng. Thực tế, RRTD là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự tổn
thất về vốn cho các NHTM. Vì vậy, RRTD được xem là một trong những nhân
tố hết sức quan trọng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá
và QLRRTD hiệu quả. Một khi ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có
RRTD cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tính
thanh khoản thấp. Điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh cũng như lợi
nhuận của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn đến phá sản. Cho nên, các NHTM cần
phải chú trọng hơn nữa đến QLRRTD để có những giải pháp cụ thể nhằm ngăn
ngừa và hạn chế tối đa RRTD xảy ra.
• QLRRTD là thước đo năng lực kinh doanh của các NHTM
Tình hình kinh tế ngày càng có nhiều biến động, thị trường tài chính, tiền
tệ và ngân hàng cũng diễn biến phức tạp hơn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là RRTD.
Mặc dù, trước khi cho vay nhân viên ngân hàng đã tìm hiểu thị trường và dự đoán
những rủi ro có thể xảy ra nhưng sự tiên liệu, phát hiện rủi ro tiềm ẩn và ứng phó
của nhân viên ngân hàng là có giới hạn, trên thực tế RRTD phát sinh do nhiều
nguyên nhân, có thể do nguyên nhân khách quan, chủ quan hay do bất khả kháng…
Vì vậy, QTRRTD phải được xem là một nghiệp vụ chủ đạo và là thước đo năng
lực kinh doanh của các NHTM để ngăn ngừa và hạn chế tối đa những tổn thất do
RRTD gây ra.

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

tại những nơi có điều kiện mở rộng tín dụng và chất lượng tín dụng bảo

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 11


đảm, giới hạn một mức tối đa ở những khu vực có chất lượng tín dụng thấp.
-

Phân bổ theo kỳ hạn cho vay và loại tiền cho vay: Việc cấp tín

dụng phải bảo đảm sự phù hợp giữa cơ cấu kỳ hạn và loại tiền cho vay.
Chẳng hạn, như việc quy định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử
dụng để cho vay trung và dài hạn.
-

Phân bổ theo loại hình sản phẩm cho vay, đối tượng khách hàng,

mặt hàng và lĩnh vực đầu tư: Đa dạng hóa các sản phẩm cho vay theo
nguyên tắc hạn chế tối đa rủi ro, đa dạng hóa các đối tượng khách hàng
nhằm giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra, đa dạng lĩnh vực cho vay theo nguyên
tắc phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế và chính sách vĩ mô của Nhà
nước.
 Lãi suất
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngân
hàng, đồng thời gắn liền với mọi hoạt động kinh tế có liên quan. Lãi suất là một
trong những công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia do NHNN điều
hành. Nó có tác động rất lớn đối với việc thu hẹp hay mở rộng tín dụng, kích thích
hay cản trở đầu tư, tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động ngân hàng. Vì vậy,


Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 13


CHƯƠNG 2 :
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Khả năng quản trị rủi ro tín dụng khi các ngân hàng được công bố tăng
hạn mức tín dụng:
Đầu tiên, TienPhong Bank vừa công bố được tăng trưởng tín dụng tối đa
27%. Ngay sau đó, OceanBank cũng đã được tăng trưởng tín dụng tối đa 27%. Mạnh
hơn, VPBank cũng được điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2012 lên 30%,
tương đương mức dư nợ tín dụng đến cuối năm là 51.000 tỷ đồng. HDBank cũng đã
được chấp thuận việc điều chỉnh dư nợ tín dụng đến ngày 31/12/2012 tối đa là
23.115 tỷ đồng, tương đương tăng 30% so với cuối năm 2011.
Nếu thực hiện chỉ tiêu tăng tín dụng từ 8-10% trong thời gian ngắn thì giải
ngân tín dụng sẽ ồ ạt, rất dễ dẫn đến thiếu thận trọng trong các hợp đồng tín dụng,
làm tăng rủi ro tín dụng và nợ xấu trong tương lai, đi đôi với nguy cơ lạm phát cao
và bất ổn kinh tế vĩ mô quay trở lại.
Trong mấy năm gần đây thì tốc độ tăng trưởng tín dụng đã lên tới khoảng
30%/ năm. Tốc độ tăng tín dụng quá cao trong khi hiệu quả sử dụng vốn tín dụng
chưa cao … là cội nguồn dẫn đến lạm phát. Vì thế, cần cẩn trọng để việc tăng vốn
nhưng mang lại tăng trưởng thực tế và bền vững.
Tín dụng tăng cao chưa chắc kinh tế tăng trưởng tương ứng vì hiệu quả sử
dụng vốn không cao do tín dụng đưa ra thêm mà chưa điều phối dòng vốn vào khu
vực sản xuất, doanh nghiệp hiệu quả … Như vậy rất có thể xảy ra lạm phát.
Vì vậy, các ngân hàng phải tính toán kỹ và ước lượng khả năng quản trị rủi ro
tín dụng. Khi một lượng vốn đổ ra ào ạt nếu không có sự quản lý chặt chẽ dòng tiền

cho vay tối đa 70% giá trị Bất động sản thế chấp. Để an toàn hơn thì giá trị Bất động
sản thường được định giá thấp hơn so với giao dịch thực tế. Tuy nhiên nhiều trường
hợp khi Bất động sản nằm ở vị trí không tốt, hay gặp phải quy hoạch thì ngân hàng
không thể phát mại để thu hồi vốn.

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 15


Nếu như hầu hết các tài sản thế chấp đều là Bất động sản thì việc thị trường
Bất động sản đi xuống, mất thanh khoản sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới giá trị tài sản thế
chấp. Do đó quản lý rủi ro có nguyên tắc rất quan trọng là tài sản thế chấp chỉ là
nguồn trả nợ thứ yếu, nguồn chính phải là doanh thu và dòng tiền trả nợ của người
vay.
2.3 Tư duy mới về quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng:
Quản trị rủi ro tín dụng được coi là có nhiều kinh nghiệm nhất thì các Ngân
hàng thương mại cũng chưa có nhận thức đầy đủ. Rủi ro tín dụng hiện mới được các
Ngân hàng thương mại hiểu là rủi ro khi khách hàng không trả được nợ. Thực tế thì
còn một loại rủi ro tín dụng khác là rủi ro danh mục. Rủi ro danh mục tín dụng là khi
tín dụng Ngân hàng thương mại tập trung quá nhiều vào một loại tín dụng không đa
dạng hóa mà thường “bỏ trứng vào một giỏ”. Nhiều Ngân hàng thương mại hiện gặp
phải vấn đề này khi mà dư nợ cho vay Bất động sản quá cao và thị trường Bất động
sản có những biểu hiện suy giảm, mất thanh khoản.
Ngân hàng nhà nước đã có thực hiện lấy ý kiến chuyên gia để ban hành thông
tư quản lý rủi ro nhưng nhiều ý kiến cho rằng cần phải sửa đổi nhiều để thông tư ban
hành thực sự nâng cao chất lượng quản lý rủi ro trong hệ thống Ngân hàng thương
mại.
Điều quan trọng hiện giờ là hình thành văn hóa quản lý rủi ro và nâng cao
nhận thức của Hội đồng quản trị về quản lý rủi ro cho chính ngân hàng của mình.

lãi suất huy động. Một bộ phận tổ chức tín dụng có nợ xấu lớn đã đẩy mạnh huy
động vốn trên thị trường làm chậm quá trình giảm lãi suất trong thời gian qua.
Thứ ba, nợ xấu lớn gắn liền với giảm/thiếu thanh khoản cũng là một trong
những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế khả năng cấp tín dụng của tổ chức tín
dụng cho nền kinh tế trong các tháng đầu năm 2012. Khách hàng có nợ xấu, nợ quá
hạn tại các tổ chức tín dụng cũng gặp khó khăn hơn trong việc vay mới tại tổ chức
tín dụng. Do đó, trong những tháng đầu năm 2012 dư nợ của hệ thống các tổ chức
tín dụng tăng không đáng kể.

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 17


Khi nhìn nhận về những hạn chế, yếu kém của năm 2012, Chính phủ cũng tỏ
ra quan ngại về tổng dư nợ tín dụng tăng thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra và
chênh lệch lớn so với tốc độ tăng huy động vốn. Tình trạng nợ xấu của hệ thống
ngân hàng chậm được giải quyết.
Tùy từng ngân hàng sẽ tính toán để giảm lãi suất vay thấp nhất giúp tháo gỡ
khó khăn trong doanh nghiệp, giảm chi phí giá thành, giảm chi phí cho ngân hàng.
Dư nợ cho vay bất động sản những tháng cuối năm có tăng, nhưng mức tăng không
đáng kể.
Tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2012 ước khoảng 6.17%. Hiện tại nợ xấu đã có xu
hướng giảm so với những tháng đầu năm nhờ: các ngân hàng đã tích cực xử lý nợ
xấu của họ; xử lý bằng nguồn trích lập dự phòng rủi ro tín dụng; phối hợp với các
doanh nghiệp thực hiện theo Nghị quyết 13 – cho vay mới, thu hồi khoản cũ nhằm
giảm nợ xấu; các ngân hàng đã định kỳ lại các khoản nợ, cho vay lĩnh vực ưu tiên.
Mục tiêu giảm nợ xấu ngân hàng xuống dưới 3% vào năm 2013 được đưa ra
tại báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 2012, kế hoạch 2013 của Bộ Kế hoạch Đầu tư
trình lên Ủy ban Kinh tế Quốc hội. Phần nhiệm vụ, giải pháp cho năm sau, báo cáo

công khai lấy ý kiến.
Một số giải pháp xử lý nợ xấu:

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 19


- Về phía ngân hàng, chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện đúng các quy định của
pháp luật về hoạt động cho vay, tỷ lệ an toàn vốn và giới hạn cấp tín dụng, không
cho vay mới để trả nợ cũ với mục đích che giấu nợ cũ.
Yêu cầu các tổ chức tín dụng chủ động phối hợp với khách hàng vay để thực
hiện việc đánh giá chất lượng và khả năng thu hồi các khoản nợ để có biện pháp xử
lý phù hợp, như: Cơ cấu lại nợ một cách cách hợp lý để giảm khó khăn tài chính tạm
thời cho doanh nghiệp, trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định, thực
hiện tốt việc mua bán nợ.
Trường hợp tổ chức tín dụng có nhu cầu chào mua, bán các khoản nợ nhưng
chưa tìm được bên bán nợ/bên mua nợ, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín
dụng tổng hợp, báo cáo để Ngân hàng Nhà nước thông tin, khuyến nghị các tổ chức
tín dụng khác tham gia mua/bán.
Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, chia sẻ khó khăn cho doanh
nghiệp thông qua giảm lãi suất tiền vay đối với cả lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh khác.
Rà soát, hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam,
đồng thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về cấp tín dụng và an toàn hoạt
động ngân hàng nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng.
Tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để bảo
đảm các tổ chức tín dụng tuân thủ đúng các quy định về hoạt động ngân hàng, đặc

doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử
lý nợ xấu của các doanh nghiệp này;
Phối hợp với các địa phương hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh,
quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
2.5 Trích lập dự phòng:

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 21


Theo báo cáo tài chính nhiều ngân hàng, lợi nhuận giảm khá mạnh do phải
tăng trích lập dự phòng rủi ro xử lý nợ xấu hoặc nợ liên quan đến vàng.
Đến cuối quý III, tỷ lệ nợ xấu của Sacombank tăng mạnh so với cuối năm
2011, từ 0,57% lên 1,4%. Trong đó, nhóm nợ dưới tiêu chuẩn tăng gấp 3 lần. Tuy
trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Sacombank trong quý III giảm hơn 23%,
xuống 113,9 tỷ đồng, nhưng lũy kế 9 tháng, khoản trích dự phòng của ngân hàng này
vẫn lên tới 484 tỷ đồng. Tân Chủ tịch HĐQT Sacombank, ông Phạm Hữu Phú cho
biết, do nợ xấu gia tăng, nên khả năng lợi nhuận sau trích lập dự phòng của ngân
hàng năm nay chỉ có thể đạt mức 2.800 tỷ đồng, thay vì 3.400 tỷ đồng theo kế hoạch
đại hội đồng cổ đông giao.
Tại Navibank, trong khi dư nợ tín dụng giảm, thì tỷ lệ nợ xấu lại tăng lên
3,97% vào cuối quý III, buộc Navibank phải trích dự phòng rủi ro tín dụng hơn 6,2
tỷ đồng trong quý III/2012, lũy kế 9 tháng, dự phòng của ngân hàng này lên đến 31
tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế của Navibank, vì thế, chỉ đạt 6,57 tỷ đồng trong quý III,
giảm 87%; lũy kế 9 tháng đạt 98 tỷ đồng, giảm 33,5% cùng kỳ năm 2011.
Kết thúc hoạt động 9 tháng đầu năm 2012, dư nợ tín dụng của DaiA Bank tăng
11,6%, huy động tăng 15,8%. Lợi nhuận sau thuế của DaiA Bank trong quý III đạt
61 tỷ đồng, bằng một nửa so với cùng kỳ năm ngoái, lũy kế 9 tháng đạt 225,4 tỷ
đồng, giảm 21% so cùng kỳ. Trong khi đó, dự phòng rủi ro tín dụng của DaiA Bank

động sản xuất của doanh nghiệp chịu lãi suất đến hơn 20%, tiêu dùng cá nhân từ 2224%.
Ở nhiều ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu tăng nhưng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro nợ
xấu lại giảm. Cụ thể số dư dự phòng rủi ro tín dụng cuối 2011 bằng 62,8% tổng nợ
xấu, giảm 17,15% so với 2010. Báo cáo đưa ra ví dụ cụ thể tại Habubank. Ngân
hàng này báo cáo nợ xấu 4,69% và vẫn lãi vào cuối 2011, khác hẳn với số liệu trong
đề án sáp nhập với SHB, nợ xấu lên tới 16%, và nếu trích lập dự phòng đầy đủ thì
Habubank lỗ trên 4.000 tỉ đồng.
Con số nợ xấu (nhóm 3, 4, 5) gia tăng mạnh vào cuối 2011, lên 3,72% so với
2,29% của năm 2010. Nợ quá hạn (nhóm 2) cũng tăng mạnh vào cuối 2011, chiếm

Nhóm 4 – Đêm 2 – K21

Trang 23


11,09% tổng dư nợ và tăng 3,32% so với 2010. Trong đó Habubank và Vietcombank
có nợ quá hạn tăng nhanh nhất. Và theo báo cáo, một phần nợ quá hạn năm 2011 sẽ
có thể thành nợ xấu trong 2012.
Trong khi đó các ngân hàng có thể tự quyết định phân loại nợ dựa trên đánh
giá khả năng trả nợ của khách hàng, vì vậy có nhiều tổ chức tín dụng áp dụng
chuyển các khoản nợ từ nhóm cao sang nhóm thấp để giảm trích lập dự phòng. Vì
vậy, nếu thực hiện phân loại nợ và trích lập đủ dự phòng rủi ro theo quy định thì kết
quả kinh doanh nhiều ngân hàng sẽ giảm mạnh và sẽ có không ít ngân hàng bị thua
lỗ, thậm chí thua lỗ nặng.
Ngoài ra, một vấn đề khá nghiêm trọng trong hoạt động ngân hàng năm 2011
là đến hết năm, nợ quá hạn tăng mạnh trên thị trường liên ngân hàng, tăng đến
94,24% so với 2010 và chiếm 10,8% tổng dư nợ cho vay. Tuy vậy, nếu loại trừ
trường hợp một ngân hàng nước ngoài có nợ quá hạn chiếm đến 82% nợ quá hạn của
toàn ngành thì nợ quá hạn của tổ chức tín dụng trong nước tăng 17,07% so với cùng
kỳ.


Trang 25


Trích đoạn Kiến nghị đối với chính phủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status