Quá trình hình thành và phát triển đường lối đối ngoại của đảng cộng sản việt nam thời kỳ đổi mới (1986 2011) - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

HOÀNG THỊ PHƯƠNG

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THỜI KỲ
ĐỔI MỚI (1986 - 2011)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Hà Nội - 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

HOÀNG THỊ PHƯƠNG

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI
NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(1986 - 2011)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Vũ Quang Vinh


mọi thông tin, thông số đều được thẩm định qua tư liệu gốc và đã thông qua
Thầy giáo hướng dẫn.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!

Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2013

Hoàng Thị Phương


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB:

Ngân hàng phát triển châu Á

AFTA:

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

AIPA:

Tổ chức liên nghị viện của khu vực

APEC:

Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình

ASEAN:

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ODA:

Hỗ trợ phát triển chính thức

OECD:

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

SEV:

Hội đồng tương trợ kinh tế

UNCTAD:

Diễn đàn thương mại và phát triển Liên hợp quốc

UNDP:

Chương trình phát triển Liên hợp quốc

UNIDO:

Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc

WB:

Ngân hàng thế giới

WTO:


KẾT LUẬN ........................................................................................................ 58


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động đối ngoại Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến nay luôn kế
thừa và phát huy truyền thống ngoại giao của dân tộc. Năm 1945, nước Việt
Nam Dân chủ cộng hòa ra, đồng thời cũng đặt nền móng cho nền ngoại giao
Việt Nam hiện đại – ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh. Lịch sử ngoại giao Việt
Nam hiện đại thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đó trở thành hệ thống các quan điểm về
đường lối, chiến lược, sách lược ngoại giao, trên cơ sở kế thừa những truyền
thống tốt đẹp của nền ngoại giao Việt Nam.
Trong lịch sử từ khi có Đảng cầm quyền đến nay, Đảng ta luôn xây
dựng và không ngừng hoàn thiện đường lối đối ngoại. Trải qua hai cuộc
kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc chống Pháp và chống Mỹ thắng lợi.
Bước sang thời kỳ đổi mới sau nhiều năm bị bao vây, cô lập về chính trị, cấm
vận về kinh tế. Tình hình trong nước trì trệ và khủng hoảng nặng nề về kinh tế
- xã hội, ngoại giao Việt Nam càng trở nên mềm dẻo hơn, chuyển sang một
chặng đường mới đầy khó khăn và thách thức to lớn. Thời kỳ này Đảng ta xác
định chủ trương bình thường hóa mối quan hệ giữa các nước trong khối xã hội
chủ nghĩa, bình thường hóa quan hệ Việt – Trung, từng bước bình thường hóa
quan hệ Việt - Mỹ, phá thế bao vây cô lập, thực hiện đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế.
Đường lối đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam trong suốt thời kỳ
1986 - 2011 là một bộ phận trong đường lối đổi mới toàn diện để xây dựng và
bảo vệ đất nước, nó luôn góp phần quyết định bảo vệ và phát huy thành quả
cách mạng, bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, xây dựng
và phát triển đất nước, ra đời yêu cầu bức thiết của công cuộc đổi mới với xu
thế quan hệ quốc tế của thời đại mới, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa

Đề tài này trả lời cho ba câu hỏi: Tại sao Đảng ta cần thay đổi đường lối
đối ngoại? Chính sách đối ngoại của Việt Nam trước và sau đổi mới như thế

2


nào? Những thành tựu đạt được và bài học kinh nghiệm trong suốt thời kỳ đổi
mới đường lối đối ngoại là gì?
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu vấn đề đường lối đối ngoại của Đảng ta trong thời kỳ
đổi mới 1986 - 2011 đã được nhiều tác giả, các nhà nghiên cứu, các hội thảo
khoa học đã bàn luận như: Bùi Trung Thành: “Chính sách đối ngoại của
Đảng thời kỳ đổi mới (1986-1996) - Luận án thạc sĩ khoa học lịch sử - Hà Nội
1994. Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 4/2000, Tường Thúy Nhân “Những thành
tựu nổi bật trong quá trình đổi mới chính sách đối ngoại của Đảng”. Phạm
Quang Minh “Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công
cuộc đổi mới” đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 9/2007.
Tạp chí Cộng sản, số 831 (1-2012) có bài viết: “Việt Nam đã, đang và
sẽ tiếp tục chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 27 với chủ đề “Chủ động, tích cực
hội nhập quốc tế và triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại, góp
phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng”. Bài viết
Phó thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại Vũ Khoan “Đổi mới tư duy và chính
sách trong lĩnh vực đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt nam” đăng trên Tạp
chí Lịch sử Đảng tháng 4/2007
Tạp chí Cộng sản số 19, 2005 : Ngoại giao thời kỳ đổi mới – một giai
đoạn phát triển quan trọng của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Tạp chí Lịch
sử Đảng, số 3/2009 có bài viết “Hồ Chí Minh với hội nhập và phát triển” của
Bùi Đình Phong. Nội dung của bài viết này nói về tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng

công cuộc đổi mới toàn diện, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, đa dạng
hóa, đa phương hóa, là bạn, đối tác tin cậy, có trách nhiệm trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

4


Đánh giá những thành tựu và hạn chế khi thực hiện đường lối đối ngoại
của Đảng trong những năm 1986 - 2011; bước đầu nêu ra những kinh nghiệm
của công tác đối ngoại nhằm phục vụ công tác đối ngoại hiện nay.
Nhiệm vụ
- Phân tích biến động của tình hình thế giới và trong nước từ năm 1986
đến năm 2011.
- Nêu lên chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng; làm rõ
sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối đó; các phương pháp, cách thức thực hiện
đường lối đối ngoại của Đảng những năm 1986 - 2011.
- Nêu lên thành tựu và một số kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo
thực hiện đường lối đối ngoại những năm 1986 - 2011.
Phạm vi
Về không gian: Phạm vi không gian mà đề tài đề cập đến khá rộng lớn,
bao gồm đất nước Việt Nam, khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thế giới.
Về thời gian: thời kỳ 1986 đến năm 2011. Đây là thời gian Đảng Cộng
sản Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI cho đến Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu 1: Là các Văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về đường lối đối ngoại.
- Nguồn tư liệu 2: Là các tài liệu lưu trữ của Văn phòng Trung ương
Đảng, Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương.

giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về đường lối ngoại giao của Đảng trong suốt
thời kì đổi mới, đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội và đặt niềm tin vào sự lãnh
đạo của Đảng, đi theo đường lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đó biết cách
ứng xử trong đời sống xã hội, ứng xử với tinh thần đoàn kết quốc tế, từ đó
càng thêm tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc.

6


6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm
có hai chương như sau:
Chương 1: Sự hình thành và phát triển đường lối đối ngoại của Đảng
Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2011
Chương I nêu lên nguyên nhân hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ
đổi mới từ năm 1986 đến năm 2011. Nội dung chính của chương I là trình bày
một cách có hệ thống từ góc độ lịch sử quá trình hình thành và phát triển
chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 - 2011), thông qua
phân tích nội dung cơ bản của các văn kiện Đại hội Đảng và các tài liệu khác
nhằm trả lời câu hỏi: chính sách đối ngoại đổi mới có những nội dung cơ bản
nào, được hình thành và điều chỉnh như thế nào qua từng giai đoạn?
Chương 2: Kết quả và một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh
đạo công tác đối ngoại (1986 - 2011)
Chương 2 tập trung đánh giá những thành tựu nổi bật, rút ra một số bài
học kinh nghiệm, đồng thời chỉ ra những hạn chế cần khắc phục nhằm hoàn
thiện chính sách đối ngoại trong thời gian tới.

7





Ngoại giao Việt Nam truyền thống bắt nguồn từ ý chí đấu tranh kiên
cường cho độc lập, tự do của dân tộc với nhiều tấm gương điển hình như Lý
Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi…và nhiều bài học sâu sắc, bổ
ích về ứng xử trong đối ngoại. Lịch sử đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại
xâm của dân tộc Việt Nam đã mang lại cho ngoại giao Việt Nam tính chiến
đấu cao, bản chất hòa bình, hòa hiếu, nhân nghĩa, thủy chung, “Lấy đại nghĩa
thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”.
Ngoại giao Việt Nam hiện đại bắt đầu từ khi Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ra đời và được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo. Trải
qua những giai đoạn khác nhau, trong thời chiến cũng như trong thời bình,
ngoại giao Việt Nam hiện đại đã kế thừa xứng đáng truyền thống cha ông, góp
phần không nhỏ vào bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng đất
nước ngày càng phồn thịnh.
Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới kế thừa truyền thống trọng đạo lý,
nghĩa tình, giàu tính nhân văn và cởi mở của dân tộc: củng cố và phát triển
quan hệ với bạn bè quốc tế đã từng đoàn kết và ủng hộ Việt Nam trong sự
nghiệp đấu tranh chống đế quốc xâm lược; bình thường hóa và phát triển quan
hệ với các nước từng xâm lược Việt Nam như Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Trung
Quốc. Vì thế các nước này trở thành đối tác quan trọng của nước ta trong quá
trình hội nhập quốc tế vì hòa bình và phát triển.
Truyền thống ngoại giao của dân tộc ta, đó là:
Một là, kiên quyết, kiên trì đấu tranh cho mục tiêu cơ bản của dân tộc,
với mục tiêu dân tộc: độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Mục tiêu độc lập là
về lãnh thổ.
Hai là, nêu cao chính nghĩa, phát huy trền thống yêu nước, điều kiện của
dân tộc.
Ba là, biết thắng từng bước trên đấu tranh ngoại giao.
Bốn là, triệt để khai thác những mâu thuẫn, khó khăn trong nội bộ của kẻ thù.

chính trong từng thời kỳ cách mạng.
Nhận thức về vai trò của vũ khí đối ngoại, kể cả trong những xu hướng
mới của thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Ngày nay ngoại giao ai

10


thuận hơn thì thắng”. Trong tình hình quốc tế mới, mỗi quốc gia đều có “linh
hồn riêng”, có vận mệnh riêng, và đòi hỏi phải có bản lĩnh, có chính sách đối
ngoại của riêng mình. Đây chính là cách ứng xử của một quốc gia đối với thế
giới. Thành công sẽ đến với quốc gia nào có cách ứng xử thông minh. Từ đó
có thể thấy chính sách đối ngoại có một vị trí rất lớn đối với chiến lược phát
triển của một quốc gia, và chú trọng tới các chính sách đối ngoại là một yêu
cầu cần thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp những giá trị văn hóa truyền
thống ngoại giao Việt Nam với tinh hoa văn hóa và ngoại giao thế giới.
1.2. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
1.2.1. Đặc điểm tình hình quốc tế
Thế giới từ năm 1986 đến năm 2012 tồn tại một số đặc điểm cơ bản như
sau:
Chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào khủng hoảng và đổ vỡ ở Liên Xô và
Đông Âu. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đẩy mạnh công cuộc cải cách, đổi
mới, giữ vững con đường xã hội chủ nghĩa.
Thế giới đa cực (trước đó là trật tự 2 cực Yalta) hình thành với xu thế đối
thoại, hội nhập, toàn cầu hóa. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược phù hợp với
tình hình thế giới và khu vực (bao gồm một số cực tiêu biểu: Hoa Kỳ, Trung
Quốc, Ấn Độ, Nga, EU, chủ nghĩa khủng bố).
Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức
xúc của mọi dân tộc và quốc gia trên thế giới. Tuy ít khả năng xảy ra chiến
tranh thế giới nhưng chiến tranh sử dụng vũ khí hạt nhân, chiến tranh cục bộ,
xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố còn

Nếu so với hơn 300 năm phát triển của chủ nghĩa tư bản và hơn 80 năm
phát triển của xã hội chủ nghĩa thì sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ đó đưa loài người từ nền văn minh công nghiệp chuyển sang nền
văn minh tin học.
Khủng hoảng kinh tế, tài chính khu vực (1997 - 2000) và thế giới (2008 2012) tác động mạnh mẽ tới tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ. Suy thoái
kinh tế từ những năm 2008 cho đến nay vẫn chưa khắc phục được. Nợ công ở

12


Mỹ, Tây Âu và các nước tư bản chủ nghĩa đang diễn ra gay gắt. Nhìn sâu sa thì
có thể thấy kinh tế thế giới đang diễn ra một quá trình cơ cấu lại.
Những khía cạnh quốc tế của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á gần
đây cho thấy sự phát triển của những mối quan hệ kinh tế đó buộc các nước
ngày càng phải chia sẻ vận mệnh kinh tế của nhau tốt cũng như xấu, đòi hỏi
phải có chính sách tập thể. Sự hợp tác có tính xây dựng có thể đảm bảo ngăn
chặn sự kéo dài của những khó khăn, và việc đối phó với sự tăng trưởng chậm
lại và những thách thức điều chỉnh không dẫn đến sự khủng hoảng hoặc suy
thoái kéo dài.
Tình hình châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói
riêng cũng có nhiều chuyển động. Đây cũng là khu vực rộng lớn tập trung
những nước đông dân nhất thế giới, với nguồn nhân lực, cần cù, sáng tạo, tài
nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, nằm trên trục đường giao thông
quan trọng bậc nhất thế giới vẫn được coi là khu vực tiềm năng có tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao hơn các khu vực khác. Châu Á - Thái Bình Dương là khu
vực phát triển năng động và vẫn tiếp tục phát triển với tốc độ tăng trưởng cao
như các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Xingapo, Thái Lan,
Malayxia. Đông Nam Á vẫn thu hút sự chú ý của các nước lớn như Hoa Kỳ,
Nga, Trung Quốc, Nhật và các nước Tây Âu. Tình hình khu vực này cũng từng
bước chuyển động theo hướng giảm đối đầu, từ đó xây dựng khu vực hoà bình,

Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, phải gồng mình tiến hành
hai cuộc kháng chiến 30 năm liên tục chống hai đế quốc xâm lược giàu mạnh
nhất thế giới, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nước ta đứng trước nguy cơ tụt
hậu ngày càng xa về trình độ phát triển kinh tế.
Hơn nữa, sau khi đất nước thống nhất cả nước định hướng đi lên chủ
nghĩa xã hội thì các thế lực thù địch thực hiện sự bao vây, cấm vận, gây xung
đột vũ trang, làm mất ổn định chính trị. Các thế lực thù địch cũn lợi dụng vấn
đề Campuchia để cô lập Việt Nam với thế giới và khu vực. Ngoài ra, bọn phản
động kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo gây mất ổn định xã hội ở Tây Nguyên,
Tây Bắc, Tây Nam Bộ…

14


Việt Nam trong tình trạng trầm trọng nhất của khủng hoảng kinh tế - xã
hội: sản xuất đình đốn, lạm phát tăng vọt tới 774,7% năm 1986, đất nước bị bao
vây cấm vận về kinh tế, cô lập về chính trị, đời sống nhân dân hết sức khó
khăn, niềm tin giảm sút. Đầu năm 1988 đó xảy ra nạn đói ở nhiều vùng và lạm
phát vẫn còn ở mức cao (393,8%). Trong khi đó, lực lượng thù địch vẫn tìm
mọi cách làm “Việt Nam chảy máu” và đe dọa, cho nên Việt Nam vẫn phải duy
trì lực lượng vũ trang lớn và tư thế sẵn sàng chiến đấu cao.
Trước thời kỳ đổi mới, hệ thống chính sách kinh tế và đối ngoại của
nước ta có nhiều bất cập do chủ quan, duy ý chí và khó khăn khách quan chồng
chất. Về kinh tế, chúng ta áp dụng mô hình kế hoạch hóa tập trung kiểu Liên
Xô trên quy mô toàn quốc, phủ nhận các quy luật của kinh tế thị trường. Sự lựa
chọn này không tạo ra được điều kiện cần thiết và cơ hội để ta phát triển mạnh
mẽ quan hệ kinh tế đối ngoại và tham gia sâu rộng vào thị trường thế giới và
khu vực.
Môi trường quốc tế không có lợi cho ta: đối đầu căng thẳng giữa hai hệ
thống chính trị - xã hội thế giới tiếp theo việc Liên Xô và một số nước xã hội

Trước thời kỳ đổi mới, khi đất nước còn chưa độc lập, Đảng ta đã sáng
suốt giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc với chủ trương: Quyền lợi của bộ
phận, giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. nên đã
lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng Tháng Tám thành công. Trong tình huống
vô cùng khó khăn của những năm 1945 – 1946, ta đã khôn khéo tạm hạ bớt cả
hai ngọn cờ dân tộc và giai cấp xuống một nấc: Ngày 11/11/1945, Đảng rút vào
hoạt động bí mật dưới hình thức tuyên bố “tự giải tán” và trong Hiệp định Sơ
bộ 6/3/1946, đã chấp nhận độc lập hạn chế, chủ quyền hạn chế, thống nhất có
điều kiện, do đó đã thành công.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, do xác định đúng
mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc ta – dù
thuộc giai cấp, tầng lớp nào – bọn thực dân, đế quốc xâm lược nên Đảng ta
giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc để tập hợp toàn thể nhân dân vào Mặt trận
Việt Minh và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Mặt khác, ta

16


cũng thấy rõ bốn mâu thuẫn cơ bản của thời đại biểu hiện thành công đấu tranh
giữa các lực lượng chính trị - xã hội tiến bộ chống lại các lực lượng thù địch,
bảo thủ. Từ đó Đảng ta đó đề ra hai nhiệm vụ chiến lược cho nước ta là xây
dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, đồng thời ta cũng
nêu cao sách lược “miền Nam độc lập, hòa bình, trung lập” nên đã đặt nước ta
đúng dòng chảy của thời đại, tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ vật chất to
lớn, có hiệu quả của tất cả đất nước xã hội chủ nghĩa, của phong trào giải phóng
dân tộc và của mọi tầng lớp nhân dân trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ.
Việc chấm dứt chiến tranh và thống nhất đất nước năm 1975 đã mở ra cơ
hội to lớn cho sự nghiệp tái thiết đất nước và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt
Nam. Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) đã đưa ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta là phấn đấu hoàn thành cơ bản về quá trình đưa kinh tế nước ta
từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong vòng 20 năm và chủ

trong hệ thống phát triển của Liên hợp quốc.
Thứ tư, duy trì đàm phán với Trung Quốc, tìm cách thúc đẩy đối thoại
với các nước ASEAN. Về vấn đề Campuchia có được lối thoát hay không phụ
thuộc một phần không nhỏ vào thái độ của Trung Quốc. Chính vì vậy những cố
gắng của Việt Nam nhằm nối lại đàm phán bình thường hóa quan hệ với Trung
Quốc chưa có kết quả.
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V khẳng định Việt
Nam mong muốn xây dựng quân hệ láng giềng tốt với các nước ASEAN và
cùng với các nước này tìm biện pháp giải quyết vấn đề khu vực. Tuy nhiên,
quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN không tiến nhanh được do phía
ASEAN còn chịu tác động mạnh của Hoa Kỳ, Trung Quốc. Phía Việt Nam vẫn
còn nặng nề về đấu tranh phê phán ASEAN, gắn việc rút quân với yêu cầu Thái
Lan chấm dứt viện trợ, chấm dứt việc dành cho lực lượng ba phái Campuchia
sử dụng đất thánh trên lãnh thổ của mình.
Thứ năm, tìm cách cải thiện quan hệ với các nước phương Tây khác.
Mục tiêu của Hoa Kỳ và các nước phương Tây là đòi Việt Nam rút quân, bảo
đảm hòa bình, ổn định và cân bằng lực lượng mới có lợi cho khu vực sau khi

18


vấn đề Campuchia được giải quyết. Vì vậy, lúc đầu Hoa Kỳ, phương Tây và
Trung Quốc, ASEAN bao vây, cô lập Việt Nam. Tuy nhiên, mức độ tham gia
của các bên có khác nhau. Do đó, từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, Việt
Nam thúc đẩy sự chuyển biến của Hoa Kỳ.
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng để mở rộng quan hệ
hợp tác quốc tế, quan hệ đối ngoại của Đảng trong giai đoạn này vẫn là quan hệ
“khép kín” hoặc mở ra ở một số nước xã hội chủ nghĩa và các nước trong khu
vực. Kết quả của những hoạt động đối ngoại trong thời kỳ 1976 – 1985 còn khá
khiêm tốn, chủ yếu do các nguyên nhân, đặc biệt là chính sách đối ngoại của ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status