Thực trạng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất giống cam sành tại huyện quang bình, tỉnh hà giang - Pdf 31

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cây cam sành (Citrus nobilis lour) có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và
cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á. Vùng có thể trồng đƣợc cây cam sành từ 35
vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam. Đa số các giống cam, quýt có thể sinh trƣởng
đƣợc trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39oC, nhiệt độ thích hợp là 23 - 29oC, cây
ngừng sinh trƣởng khi có nhiệt độ nhỏ hơn 10oC hoặc lớn hơn 40oC.
Đối với Việt Nam cây cam sành cũng có thể trồng đƣợc khắp nơi trên
cả nƣớc trong đó có một số nơi nổi tiếng với cây cam nhƣ: cam sành Bắc
Quang, Quang Bình (Hà Giang), cam sành Bố Hạ (Bắc Giang), cam sành
Hàm Yên (Tuyên Quang), cam sành đồng bằng sông Cửu Long… Sản phẩm
cam sành đƣợc coi là một trong những loại cây đặc sản của một số địa
phƣơng mang tính hàng hóa cao.
Vùng Trung du - Miền núi phía Bắc có nhiều lợi thế về khí hậu, đất đai
nguồn gen phong phú cho phép phát triển tốt về cây ăn quả. Trong tập đoàn
cam quýt ở vùng này, cam sành (Citrus nobilis lour) là một giống lai giữa
cam và quýt (C.reticulata x C.sinensis of swinggle) hiện nay đang có diện tích
trồng lớn nhất so với các giống khác, sản phẩm cam sành đƣợc coi là đặc sản
của một số địa phƣơng mang tính hàng hóa cao.
Cam sành là loại cây ăn quả đặc sản của Hà Giang và đƣợc trồng tập
trung chủ yếu tại 3 huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình.
Quang Bình là một huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hà Giang,
đƣợc thiên nhiên ƣu đãi về khí hậu, thổ nhƣỡng, thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp, cam sành nơi đây đƣợc biết đến bởi hƣơng thơm, vị ngọt đậm đà.
Hiện Quang Bình có tổng diện tích trồng cam là 420,69 ha với sản lƣợng là
2442,38 tấn [4]. Cây cam đã góp phần giúp nhiều hộ nông dân đồng bào thiểu
số của Quang Bình có cuộc sống ấm no, ổn định, thoát nghèo vƣơn lên trở

sản xuất cây ăn quả của huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
- Theo dõi tình hình sinh trƣởng, phát triển các giống cam quýt đƣợc
trồng trên đất huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
- Nghiên cứu, ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng
suất, phẩm chất của giống cam sành trồng trên đất huyện Quang Bình, tỉnh
Hà Giang.

Bùi Thị Duyên

2

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Nguồn gốc của cam quýt
Cam quýt nói riêng, cây có múi nói chung là những loại cây phân bố
rất rộng, gần nhƣ có mặt ở hầu hết các lục địa và ở mỗi vùng tùy theo điều
kiện tự nhiên mà có những giống thích hợp, những đặc tính riêng. Cam quýt
có sự phân bố rộng là do khả năng dễ thích nghi với nhiều môi trƣờng sống
khác nhau, do khả năng dễ lai tạo giữa các chủng để tạo ra những chủng mới
có khả năng thích nghi cao hơn [7].
Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt đang đƣợc trồng hiện nay
đều có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á.
Tanaka (1979) đã vạch đƣờng ranh giới xuất xứ của giống thuộc chi Citrus từ
phía Đông Ấn Độ (chân dãy Himalaya) qua Úc, miền nam Trung Quốc, Nhật

1.2. Tình hình sản xuất cam quýt
1.2.1. Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới
Cam quýt là loại quả quan trọng nhất so với trƣớc đây vài chục năm,
đứng trên cả nho, chuối, táo. Tổng diện tích trồng cam quýt trên 2 triệu hecta,
tập trung nhiều ở các nƣớc có khí hậu cận nhiệt đới nhƣ: Tây Ban Nha,
Brazin, Hoa Kỳ, Trung Quốc, các nƣớc ven Địa Trung Hải. Tức là đƣợc trồng
nhiều từ vĩ tuyến 30 đến 35oC. Hiện nay sản xuất cam quýt từ vùng nhiệt đới
đã tăng lên gần bằng các nƣớc cận nhiệt đới. Hằng năm cam quýt sản xuất tới
65 triệu tấn hoặc cao hơn, chiếm 27% so với tổng các loại trái cây khác [7].
Cam quýt có nhiều loại, trong đó quan trọng nhất là cam, chiếm tới
82% tổng lƣợng cam quýt. Quýt, chanh vỏ mỏng, bƣởi chùm tăng nhanh hơn,
3 loại quả này đều là cây của vùng cận nhiệt đới, nên sản xuất cam quýt cận
nhiệt đới tăng nhanh [7].
Trong tiêu thụ, cam quýt dùng ăn tƣơi một phần, còn đa số (2/3 sản
lƣợng) qua chế biến. Các nƣớc ôn đới tỉ lệ cam quýt chế biến đến 80 - 90%
trong khi đó các nƣớc nhiệt đới chủ yếu ăn tƣơi, nên tỉ lệ qua chế biến rất
thấp. Một số quả nhƣ cam, bƣởi chùm chế biến dễ dàng nhất, đảm bảo chất
lƣợng tốt nên đƣợc nhiều ngƣời ƣa thích. Quýt, bƣởi, bƣởi chùm tiêu thụ chủ
yếu ở các nƣớc nhiệt đới [7].
Sản xuất cam quýt ở Châu Á vẫn còn nhiều khó khăn, mặc dù là vùng
phát xuất cây có múi, nhƣng năng suất cam quýt hiện nay ở các nƣớc Châu Á
thấp hơn các nƣớc Tây Âu và giá thành đầu tƣ trên đơn vị diện tích lại cao
nên tiêu thụ chủ yếu là thị trƣờng nội địa. Giá thành sản xuất cao và năng suất

Bùi Thị Duyên

4

Lớp K34D Sinh - KTNN


chanh mỏng vỏ, quýt xiêm sản lƣợng rất cao [7].

Bùi Thị Duyên

5

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Qua đặc điểm khí hậu đất đai cho thấy, Việt Nam có nhiều điều kiện
thuận lợi cho việc trồng và phát triển cam quýt nói riêng, cây có múi nói
chung. Điều đáng lƣu ý, muốn sản xuất lớn, sản lƣợng cao cần có quy hoạch ở
từng vùng, cần điều tra dịch bệnh để kịp thời phòng bệnh lây lan. Song song
với việc trồng phải tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển tiêu thụ và chế biến
[7].
1.3. Tình hình nghiên cứu cây cam quýt trong và ngoài nƣớc
1.3.1. Nghiên cứu về việc cắt tỉa cho cây cam quýt
Sự sinh trƣởng tự nhiên của cây ăn quả thƣờng không đáp ứng yêu cầu
về cấu trúc tối ƣu và thuận lợi cho việc chăm sóc tán cây. Ngƣời làm vƣờn
cần phải tác động tích cực để tạo dựng hệ thống cành khung và cành nhánh
của cây phù hợp, đây là một kỹ thuật quan trọng trong trồng, chăm sóc cây ăn
quả nó đƣợc xây dựng trên những cơ sở sau:
Trong sản phẩm quả nói chung và quả cam quýt nói riêng đều chứa
chất dự trữ là đƣờng, bột, dầu…. chỉ có đủ ánh sáng quang hợp tốt mới có thể
có sản lƣợng cao, chất lƣợng tốt. Không phải tất cả ánh sáng mặt trời đều
đƣợc sử dụng nhƣng nếu cây chỉ nhận đƣợc ít hơn 25 - 30% ánh sáng mặt trời

không nên quá xa thân chính và cành chính. Điều này có thể đƣợc làm rất tốt
khi chúng ta tiến hành cắt tỉa tạo hình, cắt tỉa thƣờng niên cho cây [1].
Cắt tỉa nhằm nâng cao tính hoạt động sinh lý của mô tế bào và hiệu suất
thoát hơi nƣớc cho nên trong điều kiện khô hạn, việc làm này là một trong
những biện pháp cải thiện chế độ nƣớc của cây.
Cam quýt có số lƣợng hoa quả lớn, tuy nhiên tỷ lệ đậu rất thấp. Những
năm có điều kiện thời tiết thuận lợi cho cam quýt ra hoa đậu quả, số quả trên
cây nhiều xảy ra hiện tƣợng cạnh tranh dinh dƣỡng vì vậy khi thu hoạch quả
nhỏ, năng suất thấp, chất lƣợng kém. Để khắc phục hiện tƣợng này, biện pháp
tỉa định quả sẽ loại bỏ những quả nhỏ, quả sâu bệnh, những cành mang quá
nhiều quả tạo ra số lƣợng quả phù hợp với cây. Đảm bảo tính hài hòa giữa
sinh trƣởng - phát triển, khắc phục đƣợc hiện tƣợng ra hoa đậu quả cách năm
[1].
Tóm lại trong kỹ thuật làm vƣờn hiện đại, đốn, cắt tỉa có thể coi nhƣ
một kỹ thuật “giải phẫu” ngày càng đƣợc áp dụng rộng rãi, cũng nhƣ một
chuyên gia giải phẫu phải có kiến thức chuyên nghiệp, phải có kinh nghiệm
và tay nghề. Nguyên tắc chung là cắt “thận trọng” khi cây còn non, cắt rất ít
khi cây già, cắt nhiều hơn vào mùa đông hoặc mùa khô, khi cây ngừng sinh
trƣởng thì cắt nhiều, mùa mƣa cây sinh trƣởng mạnh cắt ít [9].

Bùi Thị Duyên

7

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học


Bùi Thị Duyên

8

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

giống ghép, bệnh hại nơi trồng. Tỷ lệ giữa các giống gốc ghép sản xuất trong
từng năm thƣờng thay đổi theo nhu cầu thị trƣờng.
Thời vụ ghép: ở các tỉnh miền Bắc là các tháng 9 - 12, tùy theo thời tiết
trong năm. Đối với vụ xuân có thể ghép từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 3.
1.3.3. Nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh cây cam quýt
*Làm đất và chuẩn bị trồng
Trƣớc khi trồng 1 - 2 tháng, đất phải đƣợc dọn sạch cỏ, cày bừa kĩ, chia
ô rạch hàng, đào hố bón phân lót.
Mật độ trồng đối với các cây ghép trên gốc ghép gieo hạt là khoảng 300
- 500 cây/ha. Khoảng cách cây và hàng có thể là 4 m x 5 m hoặc 6 m x 7 m,
tùy thuộc vào loại cây (cam, quýt, bƣởi, chanh) thì có thể trồng với mật độ
dày hơn, từ 800 - 1200 cây/ha, với khoảng cách là 4 m x 2 m; 3 m x 3 m hoặc
3 m x 4 m [10].
*Thời vụ trồng
Vùng Bắc Trung Bộ trồng vào tháng 8 - 9 dƣơng lịch hàng năm. Vùng
đồng bằng Sông Hồng trồng vào mùa xuân từ tháng 3 - 4, vùng đồng bằng
sông Cửu Long trồng vào đầu mùa mƣa để tiết kiệm công tƣới nƣớc hoặc
trồng cuối mùa mƣa.

*Trồng cây che mát
Cây có múi thích hợp ánh sáng tán xạ, vì vậy nên trồng các cây nhƣ:
cóc, mận, na, cau, trám….để che mát.
*Phân bón cho cây cam quýt
Cam quýt cần đƣợc bón nhiều phân, cân đối các nguyên tố dinh dƣỡng,
đủ vi lƣợng cây mới sinh trƣởng khỏe, sung sức, chống chịu tốt với sâu bệnh
và bệnh hại, bền cây và cho thu hoạch cao.
Muốn bón phân cho cây cam quýt có hiệu quả cần căn cứ vào tính chất,
tình hình sinh trƣởng của cây và sản lƣợng thu hoạch hằng năm.
- Chƣơng trình nghiên cứu phát triển cam quýt của UNDP tại Việt Nam
đề nghị 1 công thức bón phân cho cam quýt theo tuổi cây nhƣ sau:
+ Cây từ 1 - 4 năm tuổi: 1 năm bón 1 lần phân chuồng 30kg cùng với
0,1 - 0,2 kg phân lân nung chảy (lân văn điển) vào cuối mùa sinh trƣởng (từ
tháng 11 - 1).
Lần 1: 30% phân đạm.
Lần 2: 40% đạm + kali.
Lần 3: 30% đạm còn lại.

Bùi Thị Duyên

10

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

+ Cây từ 5 - 8 tuổi liều lượng bón như sau: Phân chuồng tốt 30 - 50


Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Tổng lƣợng phân chuồng, phân lân và vôi bột đƣợc bón một lần vào
tháng 11 - 1. Phân kali, đạm đƣợc chia làm 3 thời kỳ bón vào mùa xuân, mùa
hè, mùa thu nhƣ ở trên [11].
*Tưới nước
Tƣới nƣớc là biện pháp chống hạn tích cực nhất: Nếu chủ động về nƣớc
tƣới thì tháo nƣớc vào các rãnh nông ở 2 bên bìa tán cây, sau 1 ngày thì tháo
cạn. Không chủ động về nƣớc thì cần xây dựng các ống dẫn nƣớc và các giàn
tƣới phun di động [11].
*Tỉa cành
Thời kỳ kiến thiết cơ bản cây cam quýt chƣa có quả cần phải chú ý tỉa
cành tạo tán cho cây: cắt tỉa bớt các cành nhỏ, những cành vƣợt và cành mọc
sâu trong tán, những cành bị nhiễm sâu, bệnh hại. Công việc này cũng đƣợc
tiến hành thƣờng xuyên sau mỗi mùa thu hái: cắt bỏ những cành khô, cành
tăm, cành quả mọc yếu và những cành sâu bệnh, nhằm tạo cho cây thông
thoáng, ít sâu bệnh [11].
* Thu hoạch
- Thời điểm thu hoạch
Cây có múi từ khi ra hoa cho đến khi thu hoạch khoảng 7 - 10 tháng,
tùy theo giống, tuổi cây, tình trạng sinh trƣởng…. Nên thu hoạch vào lúc trời
mát và nhẹ tay (tránh lúc nắng gắt làm các tế bào tinh dầu căng dễ vỡ), không
nên thu quả sau mƣa hoặc có sƣơng mù nhiều vì quả dễ bị ẩm thối khi tổn trữ.
- Cách thu hoạch

25ml/10 lít nƣớc [8].
- Ngài chích hút (Ophideres sp): Ngài chích hút tấn công chích vỏ quả
khi chín và chích hút dịch quả chủ yếu vào ban đêm. Nó dùng vòi đâm thủng
vỏ quả có đƣờng kính khoảng 1 mm, màu nâu sẫm. Mô xung quanh lỗ bắt đầu
bị thối tạo thành quầng nâu trên bề mặt vỏ. Những quả bị gây hại bắt đầu bị
rụng và thối hoàn toàn.
Bƣớm có sải cánh khoảng 10 mm, trong năm xuất hiện 2 - 4 lứa. Sâu
non không ăn quả. Bƣớm xuất hiện chủ yếu vào mùa hè và mùa thu khi
quả chín.
+ Biện pháp phòng trừ:
- Vệ sinh vƣờn, thu dọn sạch tàn dƣ, làm cỏ kịp thời.

Bùi Thị Duyên

13

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

- Dùng bẫy độc và bẫy ánh sáng để tiêu diệt.
- Tất cả những quả rụng nên gom lại, đào hố chôn [8].
- Ruồi vàng đục quả (Dacus dorsalis): Ruồi cái đẻ trứng trong khoang
nhỏ của vỏ quả đang chín.Triệu trứng đầu tiên trên quả bị gây hại có thể quan
sát thấy những lỗ nhỏ khoảng 1 mm. Từ đấy sâu non đào lỗ chui vào trong
tép. Thông thƣờng có giọt gôm nhỏ từ trong lỗ chảy ra. Sau khi gây hại vết
bệnh bắt đầu thối và trở thành màu nâu. Cuối cùng quả bị rụng xuống và hủy


- Áp dụng chặt chẽ các biện pháp canh tác nhƣ mật độ trồng, vệ sinh
vƣờn, bón phân cân đối đủ dinh dƣỡng.
- Theo dõi vƣờn quả kịp thời để phun thuốc, sử dụng luân phiên các
thuốc đặc trị để chống nhện quen thuốc nhƣ: Trebon, Danitol và dầu khoáng
DC - Tron plus (C24), nồng độ 0,5%. Điều quan trọng là tạo điều kiện cho
thiên địch của nhện phát triển [8].
- Ngoài ra còn có rất nhiều loại sâu hại cam quýt khác nhƣ: sâu đục
thân, cành (Anoplophora chinensis), rầy chổng cánh (Diaphorina citri), rệp
sáp (Icerya purchasi karkell), rệp sáp giả (Pseudococcus citri risso), rệp nâu,
rệp đen (các loài thuộc họ Aphididae).
*Bệnh hại cam quýt
- Bệnh vàng lá gân xanh, vàng bạc: Triệu trứng đầu tiên trên lá già có
những đốm vàng loang lổ. Sau đó các lá đó nhỏ lại, phiến lá ngả sang màu
vàng, gân lá còn giữ màu xanh, đầu tiên chỉ một vài lá trên cây bị bệnh. Bệnh
nặng cả trên cây đều thể hiện triệu trứng và có một vài cành bị khô chết và
cuối cùng cây chết.
Tác nhân gây bệnh do vi khuẩn Liberobacter asiaticum và do rầy
chổng cánh (Diaphorina citri) làm tác nhân lây truyền bệnh, ngoài ra bệnh
còn lan theo con đƣờng nhân giống vô tính nhƣ chiết, ghép và thực vật
thƣợng đẳng ký sinh (dây tơ hồng). Vi khuẩn sống và sinh sản rất tốt trên cây
rau dừa cạn.
+ Biện pháp phòng trị:
- Không dùng giống ở những vƣờn cây có triệu trứng bệnh, hoặc giống
không rõ xuất xứ.
- Khi cây nhiễm nhẹ, cắt tỉa và tiêu hủy các cành, cây bị bệnh để tránh
lây lan. Khi cây bị nhiễm nặng cần loại bỏ cây ra khỏi vƣờn.

Bùi Thị Duyên


giảm năng suất, phẩm chất của nhà vƣờn, gây thiệt hại cho ngƣời nông dân.
Vì vậy công tác bảo vệ thực vật cần đƣợc tiến hành hiệu quả. Nhƣng chúng ta
cần biết cam quýt là một sản phẩm đƣợc con ngƣời sử dụng nên nó cần đƣợc
đảm bảo an toàn. Với xu thế sản xuất cây ăn quả theo tiêu chuẩn GAP, thì
việc lựa chọn một hệ thống canh tác, phòng trừ dịch hại là hết sức quan trọng.
Trong đó quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một giải pháp tối ƣu hiện nay
[8].

Bùi Thị Duyên

16

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

CHƢƠNG 2. NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Giống cam sành đƣợc trồng ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2011 - 4/2012
- Địa điểm nghiên cứu: Một số xã trồng cam thuộc huyện Quang Bình,
tỉnh Hà Giang.
2.3. Vật liệu nghiên cứu
- Axit Boric (H3BO3): có nguồn gốc Trung Quốc, dạng tinh thể, màu
trắng, dễ tan trong nƣớc. Hàm lƣợng nguyên chất là 17,5% B.
- Komic: Dạng lỏng, dễ tan trong nƣớc. Hàm lƣợng nguyên chất là: N

* Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số phân bón qua lá đến năng suất
giống cam sành.
* Nghiên cứu ảnh hƣởng của biện pháp che phủ đất đến khả năng sinh
trƣởng phát triển của cây cam sành 2 - 3 năm tuổi.
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.5.1. Điều tra hiện trạng sản xuất cam quýt tại huyện Quang Bình, tỉnh
Hà Giang
- Các số liệu thứ cấp đƣợc thu thập qua Phòng thống kê, Phòng nông
nghiệp và phát triển nông thôn huyện Quang Bình, và các xã trồng cam của
huyện Quang Bình.
- Đặc điểm của các giống đƣợc đo đếm trực tiếp trên một số cây cam,
quýt đang trồng tại huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
2.5.2. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tác động đến sinh trưởng phát
triển và năng suất giống cam sành ở huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang
* Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số phân bón qua lá đến động thái
rụng quả, năng suất chất lƣợng cam sành
Gồm 5 công thức:
- Công thức 1: Phun nƣớc lã (đối chứng)
- Công thức 2: Phun chế phẩm Yogen: 0,1%
- Công thức 3: Phun chế phẩm Atonic: 0,2%
- Công thức 4: Phun axit Boric 100ppm
- Công thức 5: Phun chế phẩm Komix: 0,2%
Phun vào lúc trời râm mát ở các giai đoạn nhƣ sau:

Bùi Thị Duyên

18

Lớp K34D Sinh - KTNN


* Theo dõi thời gian ra hoa
- Bắt đầu ra hoa: 10% cành ra hoa
- Hoa rộ: 70% cành ra hoa
- Kết thúc ra hoa: 70% số hoa trên cành tán

Bùi Thị Duyên

19

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

* Theo dõi thành phần cơ giới quả
- Tỷ lệ phần ăn đƣợc (%) (múi)
- Tỷ lệ phần không ăn đƣợc (%) (vỏ + hạt)
2.5.4. Xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm EXCEL và IRRISTART

Bùi Thị Duyên

20

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2


21

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

- Địa hình thung lũng: Gồm các dải đất bằng thoai thoải hoặc lƣợn sóng
ven sông Con và sông Bạc. Các loại đất trên địa hình này đƣợc hình thành từ
các sản phẩm bồi tụ (phù sa và dốc tụ). Do địa hình khá bằng phẳng có điều
kiện giữ nƣớc và tƣới nƣớc nên hầu hết đất đã đƣợc khai thác trồng lúa và hoa
màu [12].
*Khí hậu: Quang Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu
ảnh hƣởng của chế độ gió mùa, nhƣng do nằm sâu trong lục địa nên ảnh
hƣởng của mƣa bão trong mùa hè, gió mùa Đông Bắc trong mùa đông kém
hơn các nơi khác thuộc vùng Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ.
Chế độ gió mùa có sự tƣơng phản rõ: Mùa hè có gió mùa Đông Nam
kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm, mƣa nhiều. Mùa Đông có
gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết lạnh khô
và ít mƣa [12].
*Tài nguyên đất: Kết quả xây dựng bản đồ tỷ lệ 1/25.000 (kết quả
chỉnh lý bổ sung bản đồ đất huyện Quang Bình năm 2005 do Trung ƣơng hội
khoa học đất Việt Nam xây dựng). Đất đai huyện Quang Bình đƣợc chia
thành 5 nhóm (Major Soil Group), những tính chất chính của từng nhóm
đất là:
- Nhóm đất phù sa P (tên theo FAO-UNESCO là Fluvisols): Diện tích
2.721,8 ha, chiếm 3,42% tổng diện tích tự nhiên.

Thứ tự

Hạng mục

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

1

Đất nông nghiệp

35.626

100

2

Cây lâu năm

7.373

20,69

3

Cây hằng năm

3.025


cây trồng vật nuôi diễn ra mạnh mẽ nên diện tích đất trồng cây lâm nghiệp và
cây lâu năm có xu hƣớng tăng. Diện tích cây hằng năm có xu hƣớng tăng ít và
đi vào ổn định.
Về nhóm cây lƣơng thực diện tích có thay đổi, lúa, ngô tăng nhẹ. Điều
đó chứng tỏ: vấn đề an ninh lƣơng thực chƣa đảm bảo đủ đáp ứng nhu cầu,

Bùi Thị Duyên

23

Lớp K34D Sinh - KTNN


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp đại học

bên cạnh đó nghành chăn nuôi phát triển nên nhu cầu lúa, ngô, khoai, sắn tăng
mạnh. Riêng về cây ăn quả diện tích giảm khá mạnh. Sự giảm về diện tích cây
ăn quả của Quang Bình chủ yếu do ngƣời nông đân phá bỏ các vƣờn tạp, các
loại cây ăn quả có giá trị thấp nhƣ những cây hồng đã già, chanh, nhãn…Thay
vào đó là những vƣờn quả tập trung có quy mô sản xuất tốt hơn. Cơ cấu cây
ăn quả của huyện đƣợc thể hiện ở bảng 3.2
Bảng 3.2. Cơ cấu cây ăn quả của huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang (tính
đến năm 2011)
Thứ Chủng loại cây
tự

Diện tích


Quýt

47,50

4,6

71,42

265,38

3

Chanh

40,48

3,9

28,78

91,82

4

Chuối

59,80

5,8


Vải

170,60

16,5

21,95

351,21

8

Hồng

64,70

6,3

41,03

217,44

9

Xoài

59,20

5,7


cao cho vùng, có ƣu thế trong việc sản xuất sản phẩm hàng hóa, thị trƣờng
đầu ra rộng lớn hầu nhƣ toàn miền Bắc. Có thể thấy diện tích trồng cam của
các xã trong năm 2011 nhƣ sau : Hƣơng Sơn 185.41 ha, Tiên Yên 59.90 ha,
Yên Hà 72.30 ha, Tân Trịnh 25.80 ha, Vỹ thƣợng 33.20…[4].
3.2.1. Các giống cam, quýt trồng chủ yếu tại huyện Quang Bình, tỉnh Hà
Giang
Cây ăn quả có múi chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số diện tích cây ăn
quả của huyện Quang Bình. Để có thể nhận biết tổng quan về tình hình phát
triển cây ăn quả có múi của địa bàn nghiên cứu thể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3.3. Diện tích năng suất qua các năm của nhóm cây có múi
Năm

2009

2010

Chủng
Loại

Diện
tích
(ha)

Năng
suất
(tạ/ha)

Diện
tích
(ha)

420,69

73,45

71,0

55,26

70,41

47,50

71,42

28,0

38,60

28,25

40,48

28,78

Nguồn: (Chi cục thống kê huyện Quang Bình) [2], [3], [4].
Kết quả điều tra cho thấy ở Quang Bình trồng 3 loại quả có múi chính
đó là cam sành, quýt, chanh. Trong đó đứng đầu là cam sành với diện tích và
năng suất cao hơn so với hai loại quả còn lại.
Nhóm cam, quýt có nhiều giống nhƣng ở Quang Bình chỉ trồng duy
nhất cam sành là chủ yếu.Việc phân bố cam sành trồng ở các xã thể hiện trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status