vài đặc trưng của giáo dục mần non nhật bản và so sánh với việt nam - Pdf 32

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

VŨ THU THỦY

MỘT SỐ ĐẶC TRƢNG
CỦA GIÁO DỤC MẦM NON NHẬT BẢN VÀ
SO SÁNH VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: CHÂU Á HỌC
Mã số: 60310601

Hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Thu Giang

Hà Nội-2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ Luận văn tốt nghiệp với đề tài “Một số đặc
trưng trong phương pháp giáo dục mầm non Nhật Bản và so sánh với Việt
Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn
của TS. Phạm Thị Thu Giang.
Mọi trích dẫn trong Luận văn này đều được ghi rõ nguồn đầy đủ và cụ
thể. Nội dung Luận văn này không trùng lặp với bất cứ nội dung luận văn
nào đã công bố.
Tác giả

Vũ Thu Thủy


LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................3
1. Lý do lựa chọn đề tài..............................................................................3
2. Mục đích nghiên cứu:............................................................................ 4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:............................................................................4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:..................................................................... 5
5. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu.............................................................5
6. Lịch sử nghiên cứu:................................................................................6
7. Bố cục luận văn.......................................................................................8
Chƣơng 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ GIÁO DỤC MẦM NON Ở
NHẬT BẢN.................................................................................................9
1.1 Sự ra đời mẫu giáo đầu tiên ở Nhật Bản............................................9
1.1.1 Giải thích khái niệm Hoikuen và Yochien ở Nhật Bản..................9
1.1.2 Sự ra đời youchienvà Hoikuen đầu tiên ở Nhật Bản.....................10
1.2 Tình hình chung của giáo dục mầm non Nhật Bản hiện nay..........14
1.2.1 Chính sách của nhà nƣớc đối với trẻ em và giáo dục mầm non ở Nhật
Bản 14
1.2.2 Tình hình hoạt động của các Hoikuen và Yochien ở Nhật Bản hiện nay
21
Tiểu kết.......................................................................................................24
Chƣơng 2.MỘT SỐ ĐẶC TRƢNG CỦA GIÁO DỤCMẦM NONCỦA
NHẬT BẢN................................................................................................26
2.1 Coi trọng hoạt động tập thể................................................................26
2.2 Tạo lập cho trẻ tính chủ động trong môi trƣờng tập thể.................32
2.3 Tăng cƣờng hoạt động giáo dục thông qua vui chơi........................ 35
2.4Chú trọng sự hình thành và phát triển nhân cách............................46
Tiểu kết.......................................................................................................52

4



nền giáo dục được đánh giá cao trên thế
giới. Đất nước Nhật Bản phát triển và
người Nhật Bản được thế giới ngưỡng
mộ với ý chí kiên cường, khả năng chịu
đựng khó khăn và tinh thần cố gắng
không ngừng như ngày nay phần lớn có
gốc rễ từ nền giáo dục này. Có thể nói,
chính do sự khác biệt về giáo dục mà mỗi
nước, mỗi dân tộc lại có một tính cách
khác nhau, một sự phát triển khác nhau.
Người Nhật Bản hết sức coi trọng giáo
dục, đặc biệt là giáo dục từ thời thơ ấu –
giai đoạn quan trọng đầu tiên trong sự
phát triển con người.
Ngoài ra, hiện nay ở Việt Nam xuất
hiện rất nhiều nhà trẻ do người Nhật mở
ra hoặc một số nhà trẻ Việt Nam được
xây dựng theo mô hình giáo dục Nhật
Bản. Có thể nói, phương pháp giáo dục
trẻ em của Nhật đang thu hút sự chú ý của
nhiều phụ huynh Việt Nam bởi sự thiết
thực và phù hợp với trẻ em.
Giáo dục mầm non gắn liền và chịu
ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển
chung xã hộivì trẻ em là nguồn nhân lực


tương lai của đất nước. Bởi
vậy, nghiên cứu sự phát triển
của giáo dục mầm non chính

cấp những thông tin xác
thực cho các nhà giáo dục
Việt Nam.


2. Mục đích nghiên cứu:.
Hiện nay, nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa cần
phải cải cách, đặc biệt là nền giáo dục mầm non. Tình trạng học “nhồi
nhét”, ép trẻ nhỏ phải học nhiều kiến thức như cách đọc, viết chữ cái, làm
phép tính, học ngoại ngữ, học các môn năng khiếu… từ sớm khiến trẻ
không được phát triển tự nhiên theo đúng lứa tuổi. Vai trò của trường mầm
non, mẫu giáo ở Việt Nam không hẳn để nuôi dưỡng, giáo dục tâm hồn, thể
chất trẻ mà đóng vai trò là nơi chuẩn bị kiến thức cho trẻ bước vào trường
tiểu học nhiều hơn. Mục đích của luận văn là thông qua việc nghiên cứu
phương pháp giáo dục mầm non của Nhật Bản sẽ nêu ra một số hiệu quả
đạt được của nền giáo dục đó để thay đổi suy nghĩ của một bộ phận các nhà
giáo dục Việt Nam cũng như các bậc phụ huynh rằng không phải sớm cho
con cái mình học kiến thức thì sau này sẽ thông minh, tài giỏi mà nên để trẻ
em được phát triển một cách tự nhiên nhất.
Luận văn cũng mong muốn lý giải được nguyên nhân tại sao các nhà
trẻ theo mô hình Nhật Bản lạiđược thịnh hành ở Việt Nam và trên thực tế
mô hình đó đang được áp dụng ở Việt Nam như thế nào. Qua đó người viết
muốn giúp các bậc phụ huynh sẽ tìm cho mình được một môi trường giáo
dục cũng như phương pháp giáo dục phù hợp cho con em mình. Hơn nữa,
người viết cũng hy vọng luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo hữu ích
cho các nhà giáo dục Việt Nam, những người đang trên đường tìm hướng
đi mới cho nền giáo dục nước nhà.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:.
Với đề tài nghiên cứu về “Một số đặc trưng của giáo dục mầm non của
Nhật Bản và so sánh với Việt Nam”, luận văn xin được làm rõ các nội dung

Komaba thuộc Tokyo, Nhật Bản và trường Sakura, thành phố Kariya;
trường Kariya, thành phố Kariya thuộcNagoya, Nhật Bản.


STT

Tên trƣờng

1

trường

Yuu

Loại hình

Thời gian điều tra

Yasunaka Trường tư

9/2009-8/2010
(1 năm)

Higashi ở thành phố Yao,
Osaka
2

trường

Komorebi,

trường Sakura, thành phố

Trường công

3/2013 (1 ngày)

Trường công

3/2013 (1 ngày)

Kariya
6

trường Kariya, thành phố
Kariya, Nagoya

Về thời gian, luận văn tập trung vào tình hình hoạt động và phương
pháp giáo dục mầm non ở Nhật Bản kể từ năm 1945 tới nay.
Về thực trạng giáo dục mầm non ở Việt Nam hiện nay, tác giả tập
trung nghiên cứu khu vực thành thị.
6. Lịch sử nghiên cứu:
Nhật Bản được thế giới biết đến và ngưỡng mộ không chỉ về sự phát
triển thần kỳ của nền kinh tế mà hơn hết là tính cách, tinh thần của dân tộc
Nhật Bản. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, gốc rễ của tính cách, ý thức cao
của người Nhật Bản hiện nay là do được hưởng một nền giáo dục tốt. Vì
vậy, hoạt động nghiên cứu về đề tài giáo dục Nhật Bản, trong đó có giáo
dục mầm non được nhiều học giả, nhà nghiên cứu không chỉ ở Nhật Bản
mà có nhiều quốc gia khác như Mỹ hay Việt Nam …quan tâm nghiên cứu.



“Một số đặc trưng của giáo dục mầm non Nhật Bản và so sánh vớiViệt Nam”
Vũ Thu Thủy
1

học” củatác giả Phạm Thu Thủy, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Viện
Đông Bắc Á. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là bản dịch từ bài viết của một tác
giả nước ngoài.
Có thể nói, cho đến nay, người viết chưa được tiếp cận với một công
trình nghiên cứu cụ thể về đặc trưng của phương pháp giáo dục mầm non
Nhật Bản bằng tiếng Việt.
7. Bố cục luận văn
Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan chung về giáo dục mầm non ở Nhật Bản
Ở chương này, người viết sẽ điểm qua những nét chính về bối cảnh
kinh tế, xã hội thời Minh Trị - thời điểm mà mẫu giáo đầu tiên ra đời ở
Nhật Bản và những chính sách thể hiện sự quan tâm đặc biệt của chính phủ
Nhật Bản đối với trẻ em và giáo dục mầm non ở Nhật Bản. Bên cạnh đó,
người viết cũng sẽ trình bày về tình hình hoạt động của các nhà trẻ, mẫu
giáo hiện nay ở Nhật Bản.
Chương 2: Một số đặc trưng của giáo dục mầm non ở Nhật Bản
Đây là chương chính của luận văn. Trong chương này, người viết sẽ
đưa ra một số đặc trưng trong phương pháp giáo dục mầm non ở Nhật Bản
như coi trọng chủ nghĩa tập thể, giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm, chú
trọng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em, coi trọng hoạt
động học tập thông qua vui chơi. Hơn nữa, người viết sẽ phân tích các đặc
trưng này thông qua các ví dụ cụ thể là hoạt động thực tiễn tại nhà trẻ và
cách ứng xử, dạy dỗ của giáo viên đối với trẻ em.
Chương 3: Một số vấn đề về giáo dục trẻ em ở Việt Nam và kinh
nghiệm rút ra từ trường hợp Nhật Bản
Tập trung phân tích thực trạng bạo lực đang diễn ra nghiêm trọng về


theo “Cương lĩnh giáo dục mẫu giáo” dựa trên Điều 76 của “Quy tắc thực
3

hiện Luật giáo dục trường học” do Bộ trưởng Bộ Khoa học giáo dục quyết
định, được ban hành năm 1948 và Hoikuen thì theo “Phương châm giáo
4

dục trường mầm non” do Bộ trưởng Bộ Lao động Phúc lợi xã hội quyết
5

định, được ban hành năm 1965 dựa trên Luật Phúc lợi nhi đồng . Tuy nhiên,
2

Cương lĩnh giáo dục mẫu giáo (幼稚園教育要領) do Bộ Khoa học Giáo dục Nhật Bản ban hành năm
1948, sửa đổi năm 2005.
3
Luật Giáo dục trường học (学校教育法) do Bộ Khoa học Giáo dục Nhật Bản ban hành năm 1947
4
Phương châm giáo dục trường mầm non (保育所教育方針)ban hành năm 1965.
5
Luật Phúc lợi nhi đồng (児童福祉法) được Bộ Lao động Phúc lợi xã hội ban hành năm 1947.


với trẻ trên 3 tuổi thì dù là Hoikuen cũng phải dạy trẻ theo “Cương lĩnh
giáo dục mẫu giáo”.
Ở Nhật Bản, các trường Hoikuen công lập không đủ để đáp ứng nhu
cầu thực tế bởi thực tế, số lượng phụ nữ đi làm trở lại sau khi sinh con ngày
càng tăng . Vì vậy, có rất nhiều trường tư lập được lập ra. Gọi là trường,
nhưng thực chất có quy mô rất nhỏ, nhiều khi chỉ là một căn phòng. Những

Cụ thể: Tham khảo Bảng 1 phụ lục.
8
Trong Chương 22 của Học chế, từ này được viết bằng chữ Hán là “幼稚小学”稚小学 ức Ấu nhi tiểu
học. Ở luận văn này, người viết tạm dịch là “Tiểu học mẫu giáo”.
9
Chương 22 của Học chế(学制) có ghi rõ“Tiểu học mẫu giáo là nơi dạy dỗ những trẻ trai và gái dưới 6
tuổi, tức là trước khi vào tiểu học” (Theo www.mext.go.jp).
7


“Một số đặc trưng của giáo dục mầm non Nhật Bản và so sánh vớiViệt Nam”
Vũ Thu Thủy

Tuy nhiên, loại hình đào tạo này đã không được thực hiện mà chỉ tồn tại ở
trên quy định. Bởi vì vào thời điểm đó, việc thành lập các trường tiểu học
được chú trọng hơn. Thực tế thì nơi được coi là cơ sở giáo dục trẻ em được
mở ra sớm nhất đó là “Khu vui chơi trẻ em” đặt tại trường tiểu học
10

Ryuchi ở Kyoto vào tháng 12 năm Minh Trị thứ 8, tức năm 1875. Khu
này được mở ra trên cơ sở áp dụng theo mô hình mẫu giáo của Đức, nhưng
đã không tồn tại được lâu dài. Chỉ một năm rưỡi sau đó khu vui chơi này đã
phải đóng cửa.
Ngày 7 tháng 7 năm 1874 (Minh Trị thứ 7), lần đầu tiên Bộ Giáo dục
11

Nhật Bản đã đặt vấn đề thành lập Yochien với Thái chính quan , song đã
bị từ chối với lý do lúc này việc thành lập các trường tiểu học được coi
trọng hơn. Tuy nhiên, đến ngày 25 tháng 8 cùng năm đó, Bộ Giáo dục tiếp
tục gửi yêu cầu thành lập mẫu giáo lên Thái chính quan. Trên cơ sở nhận

13

(1782 - 1852) , nhà giáo dục người Đức. Vào tháng 7 năm Minh Trị thứ
10, Trường sư phạm nữ Tokyo đã quyết định Quy định nhà trẻ và đưa ra
các môn học cũng như thời gian biểu cụ thể. Đến tháng 9 năm Minh Trị thứ
14

12 thì “Lệnh giáo dục” được ban hành và quy định không phân biệt mẫu
giáo với các trường học khác, mà tất cả đều trực thuộc quyền quản lý của
Bộ Giáo dục. Từ đây mẫu giáo đã có vị trí quan trọng như những cấp học
khác [27, tr.124-125].
Hệ mẫu giáo thuộc Trường sư phạm nữ Tokyo này đã trở thành hình
mẫu cho một số mẫu giáo công lập thành lập sau đó ở Osaka và Kagoshima.
Sau đó, do số lượng mẫu giáo tăng, nên những loại hình mẫu giáo dân lập
15

như Thiên chúa giáo , Phật giáo

16

ra đời. Cùng với việc ra đời các cơ sở

13

Freidrich Wilhelm Fröbel (1782-1852) sinh ra và lớn lên tại Đức. Ông là con trai của một mục sư. Ông
được coi là cha đẻ của hệ thống giáo dục nhà trẻ, bởi đã thành lập nhà trẻ đầu tiên trên thế giới tại Đức vào
năm 1837.Nhà trẻ của ông đi tiên phong trong việc đề ra những lý thuyết và phương pháp đào tạomà vẫn
còn được áp dụng trong các nhà trẻ hiện nay.Quan điểm của ông là trẻ cần vừa chơi vừa học.Nhà trẻ là nơi
để trẻ lớn lên và học mối tương tác xã hội với những trẻ khác.Hơn nữa, Fröbel còn mở trường đào tạo giáo
viên cho các nhà trẻ của ông.Ông tin rằng, giáo viên phải là những người hội tụ đầy đủ những phẩm chất


“Một số đặc trưng của giáo dục mầm non Nhật Bản và so sánh vớiViệt Nam”
Vũ Thu Thủy

chăm sóc trẻ em và nhà trẻ ở địa phương, các trường mẫu giáo lúc đó tập
trung nhiều ở thành phố lớn bởi hầu như trẻ em ở các gia đình có điều kiện
sẽ theo học ở các trường mẫu giáo. Lý do là, nếu như học phí ở nhà trẻ có
sự khác nhau tùy thuộc vào mức thu nhập cao, thấp của phụ huynh thì mẫu
giáo áp dụng một mức học phí cho mọi đối tượng.
Ngay từ thời điểm đó đã có một số chính sách luật pháp liên quan đến
17

mẫu giáo như “Quy định về giáo dục và trang thiết bị mẫu giáo”

ban

18

hành năm 1899 và “Lệnhnhà trẻ” ban hành năm 1922. Vào thời điểm đó,
mẫu giáo hầu hết có chức năng như nơi trông giữ trẻ. Đến thời Taisho, giáo
dục trẻ em theochủ nghĩa tự do bắt đầu được thực hiện, nhưng đến thời
Showa thì một phần mẫu giáo đã buộc đóng cửa. Cơ sở nền tảng của các
mẫu giáo hiện nay là “Luật giáo dục trường học” ra đời từ năm 1947, mẫu
giáo được coi là một cơ quan giáo dục trường học[17, tr.55] .

Hình ảnh lớp học thời Minh Trị

19

(Terakoya). Bốn loại hình trên là dành cho tầng lớp võ sĩ và quý tộc, còn Terakoya dành cho tầng lớp

21

trông giữ trẻ. Đến năm 1947, “Luật phúc lợi nhi đồng” được ban hành,
các cơ sở trông giữ trẻ này phát triển thành các nhà trẻ (Hoikuen) như
hiện nay [25, tr. 119-120].
1.2 Tình hình chung của giáo dục mầm non Nhật Bản hiện nay
1.2.1 Chính sách của nhà nước đối với trẻ em và giáo dục mầm non ở Nhật
Bản
Nhật Bản không những được cho là “cường quốc kinh tế” mà còn
được cho là “cường quốc phúc lợi”. Nakayama Yatsuhiro đã chứng minh
rằng, Nhật Bản là “một siêu cường phúc lợi sánh ngang với bất kỳ nước
phương Tây nào” [5, tr. 231], hay Ezva Vogel cho rằng, tổ chức kinh tế
xã hội bao hàm cả phúc lợi xã hội của Nhật Bản là “bài học cho nước
Mỹ”[2, tr. 352]. Từ những năm 1970, khi Nhật Bản đã có mặt trong số
các nước hàng đầu của thế giới về kinh tế thì ý tưởng xây dựng một “xã
hội phúc lợi kiểu Nhật Bản” không chỉ là nguyện vọng chính đáng của
nhân dân, mà còn là đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội.
Nhất là khi hiện nay, tỷ lệ trẻ em giảm đang là một vấn đề nghiêm

20

Akazawa Atsutomi (1864-1937) xuất thân trong gia đình có nhiều đời mở lớp học tư nhân ở Niigata.Khi trở
thành giáo viên một trường tiểu học quốc lập, ông vẫn tiếp tục giúp đỡ gia đình trong việc quản lý lớp học tư
nhân.Đến năm 1890, lớp học tư của gia đình ông phát triển thành trường học, ông đã nghỉ dạy ở trường tiểu học
quốc lập.
21
児童福祉法


“Một số đặc trưng của giáo dục mầm non Nhật Bản và so sánh vớiViệt Nam”

Đặc biệt, Nhật Bản còn có chế độ nghỉ chăm con cho các ông bố.
Theo “Luật nghỉ chăm sóc con nhỏ” được ban hành bởi Bộ Lao động
Phúc lợi và xã hội Nhật Bản và chính thức thi hành từ tháng 6 năm 2010
thì các ông bố được nghỉ khi vợ sinh và nghỉ chăm con. Cụ thể, khi người
vợ nhập viện và ra viện để sinh nở, các ông bố có thể nghỉ 3 ngày trong
khoảng thời gian kể từ ngày vợ nhập viện cho đến 2 tuần sau khi người
vợ sinh. Trường hợp con chưa đến 18 tháng, nếu người vợ không thể
chăm con được hoặc không đưa đón con đi nhà trẻ được thì các ông bố có
22
23

児童福祉法
児童憲法


“Một số đặc trưng của giáo dục mầm non Nhật Bản và so sánh vớiViệt Nam”
Vũ Thu Thủy

thể nghỉ với thời gian là hai lần một ngày, mỗi lần 45 phút.
Ngoài ra, trong thời gian ngay trước và sau khi người vợ sinh nở, nếu
có con nhỏ dưới tuổi đi học tiểu học thì các ông bố được nghỉ 5 ngày
trong khoảng thời gian từ 8 tuần trước ngày dự sinh đến 8 tuần sau ngày
sinh nở của vợ. Trường hợp đa thai thì các ông bố được nghỉ 5 ngày trong
khoảng thời gian từ 14 tuần trước ngày sinh nở đến 10 tuần sau ngày sinh
nở của vợ
Hơn nữa, các ông bố còn được nghỉ chăm con đối với trường hợp
con nhỏ dưới 3 tuổi và với điều kiện là ông bố này đã từng nghỉ chăm con
lần đầu vào thời gian 8 tuần sau khi sinh nở của vợ thì sẽ được nghỉ chăm
con một lần nữa mà không cần lý do đặc biệt.
Trước đây, sau khi sinh con phụ nữ Nhật Bản thường không tiếp tục

25

1,7 tỷ đồng) . Do đó, đối với gia đình có thu nhập cao trên mức giới hạn
sẽ được nhận trợ cấp với mỗi trẻ dưới 15 tuổi là 5000 yên.
Có nghĩa là, tuy mức trợ cấp khác nhau, song tất cả các đối tượng
đều được hưởng trợ cấp của chính phủ. Kể cả đối với các gia đình có thu
nhập cao cũng đều được hưởng trợ cấp này. Điều đó thể hiện sự quan tâm
của chính phủ đối với tất cả các trẻ em.
Ngoài ra, mỗi chính quyền địa phương lại có chính sách riêng biệt
đối với phụ nữ và trẻ em. Ví dụ như ở thành phố Kariya - Nagoya, chính
quyền địa phương sẽ chi trả tiền thăm khám sức khỏe thai sản cho người
dân trong khu vực. Trong khi đó, thông thường một phụ nữ mang thai sẽ
phải chi trả khoảng 5-6 vạn yên (khoảng 10-12 triệu đồng Việt Nam) cho
những lần thăm khám thai sản trước khi sinh tại các bệnh viện do bảo
hiểm không chi trả khoản này.
Đối với những người tham gia bảo hiểm trong thời gian nghỉ sinh để
chăm con dưới 1 tuổi (một số trường hợp dưới 14 tháng, hoặc một số
trường hợp dưới 18 tháng) và trong thời gian 2 năm trước ngày bắt đầu
nghỉ sinh, có trên 12 tháng mà số ngày trả lương cơ bản trong tháng từ 11
ngày trở lên sẽ được hưởng chế độ trợ cấp nghỉ sinh chăm con.Số tiền chi
trả cho mỗi tháng sẽ bằng tiền lương ngày kể từ khi nghỉ sinh nhân với số
ngày chi trả và nhân với 67% (tuy nhiên sau 6 tháng kể từ khi nghỉ sinh
24
25

子ども手当額
Tỷ giá hiện tại (12.2014): 1 yên = 182 vnđ.


26

hơn tiền trợ cấp sinh nở thì sẽ được chi trả cho cả khoản chênh lệch.
Không chỉ quan tâm hỗ trợ kinh tế cho các gia đình, chính phủ Nhật
26

Tiền trợ cấp nghỉ sinh chăm con(育児休業給付金):là chế độ áp dụng theo Luật bảo hiểm lao động của chính
phủ Nhật Bản.
27
出産育児一時金
28

Chế độ hỗ trợ y tế sản khoa là chế độ mà các cơ sở y tế tham gia, thai phụ khi sinh nở tại các cơ sở này nếu trong trường hợp
gặp biến chứng nào đó thì sẽ được hỗ trợ về kinh tế cho đứa trẻ và gia đình. Trường hợp sinh nở ở các cơ sở y tế tham gia vào
chế độ này thì sẽ được chi trả thêm 3 vạn yên. Do đó, tổng tiền trợ cấp sinh nở một lần sẽ là 42 vạn yên.
29
出産手当金


Bản còn quan tâm sâu sắc tới các chính sách giáo dục trẻ em trên cơ sở
coi trẻ em là nền tảng của đất nước, là thế hệ gánh vác tương lai của đất
nước. Nhật Bản đã hết sức chú trọng đến việc giáo dục trẻ, trước hết là
tạo điều kiện tốt nhất, phù hợp các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, để đáp
ứng được yêu cầu giáo dục mà chính phủ đưa ra.
Bộ Giáo dục Khoa học Nhật Bản là cơ quan quản lý Yochien và Bộ
Phúc lợi lao động Nhật Bản là cơ quan quản lý Hoikuen. Mỗi Bộ đều có
quy định rõ ràng về tiêu chuẩn khi xây dựng Yochien hoặc Hoikuen và các
trường phải đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn này mới nhận được giấy phép
thành lập.
Với Yochien, cần phải đảm bảo có các nhân viên cần thiết như: Hiệu
trưởng, giáo viên, y tá, nha sỹ, dược sỹ và nhân viên có thể có hoặc không
có hiệu phó. Ngoài ra các bộ còn khuyến cáo nên có các nhân viên như

trường hoặc gần đó) . Đối vớiHoikuen, các thiết bị cần thiết là: phòng học
– phòng chơi đối với bé trên 2 tuổi, phòng nhũ nhi hoặc phòng chơi cho bé
dưới 2 tuổi, phòng y tế, phòng vệ sinh, nhà bếp, sân chơi ngoài trời (có thể
32

gần đó hoặc mượn khuôn viên của các đền thờ) . Không những thế,
Yochien và Hoikuen còn phải đảm bảo các tiêu chuẩn cụ thể về diện tích.
Ngoài ra, Nhật Bản cũng có tiêu chuẩn khắt khe đối với giáo viên. Các
giáo viên phải đảm bảo tốt nghiệp các trường đào tạo chuyên môn và lấy
được chứng chỉ giáo viên mầm non thì mới được tuyển dụng. Điều này đã
tránh được tình trạng giáo viên không có trình độ, chưa được rèn luyện kỹ
năng sư phạm và thái độ yêu trẻ. Cụ thể, giáo viên ở Hoikuen phải tốt
nghiệp từ các trường có ngành học đào tạo giáo viên mầm non như các
trường nghề, trường cao đẳng, ngành sư phạm trong các trường đại học và
phải đỗ “Kỳ thi giáo viên mầm non” và lấy chứng chỉ quốc gia về giáo viên
mầm non. Còn giáo viên ở Yochien thì phải tốt nghiệp các trường sư phạm
như trường đại học có ngành đào tạo giáo viên Yochien, cao đẳng, trường
nghề và sau khi nhận bằng phải thi các kỳ thi tuyển xin việc.
Bên cạnh đó, nhà nước có một số chính sách nhằm hỗ trợ việc thành
lập, vận hành của các nhà trẻ, mẫu giáo cũng như hỗ trợ đối với các trẻ đi
học tại các cơ sở này. Theo “Luật phúc lợi xã hội” và “Luật hoạt động
33

phúc lợi xã hộ”i thì hỗ trợ cải thiện thiết bị đối với cơ sở xây lại là 30
năm 1 lần. Đối với những trường hợp sửa chữa quy mô lớn, quy mô trung
bình, quy mô nhỏ là 10 năm 1 lần. Và tiền hỗ trợ sẽ thay đổi theo từng năm.
Mặc dù không xác định mức chung, nhưng trên thực tế khi xây dựng mới
nhà trẻ hay mẫu giáo thì số tiền tự chi trả là 1/3 và sẽ được trợ cấp 2/3 trên
tổng số tiền xây dựng, còn khi sửa sang lại thì sẽ nhận được một nửa số tiền
trợ cấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status