Giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp nghiên cứu trên địa bàn một số tỉnh bắc trung bộ (TT) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. TRẦN BÌNH TRỌNG

BÙI VĂN DŨNG
Phản biện 1:

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHÀ Ở
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỊA BÀN MỘT SỐ TỈNH
BẮC TRUNG BỘ

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 02

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
họp tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Vào hồi:

ngày

tháng

một số tỉnh Bắc Trung bộ, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế về giải quyết nhà ở cho NLĐ các khu công nghiệp trên địa
bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ hiện nay;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp giải quyết vấn đề nhà ở cho
NLĐ các KCN trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là giải quyết vấn đề nhà ở cho
NLĐ các KCN.
3.2. Về phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Về nội dung
Đề cập đến các khía cạnh về hình thức sở hữu, số lượng, chất lượng và
giá cả nhà ở đối với NLĐ dưới tác động của môi trường luật pháp, cơ chế
chính sách, giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ tại các KCN trên địa bàn một
số tỉnh Bắc Trung bộ.
Phạm trù NLĐ ở đây được hiểu là công nhân lao động.
3.2.2. Phạm vi không gian và thời gian
- Về không gian, giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ tại các KCN nghiên cứu trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ.
- Về thời gian, số liệu nghiên cứu thực trạng từ năm 2008 đến năm
2015 và khuyến nghị những giải pháp cho đến năm 2020.
4. Các kết quả nghiên cứu chủ yếu đạt được
4.1. Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận:
- Trên quan niệm nhà ở cho NLĐ là một trong những nhân tố quan
trọng cho việc phát triển bền vững KCN nói riêng, phát triển bền vững
kinh tế - xã hội ở địa phương nói chung, luận án đã làm rõ bản chất của

1. Lý do chọn đề tài
Bắc Trung bộ là phần phía Bắc của Trung bộ Việt Nam có địa bàn từ
Nam dãy núi Tam Điệp tới Bắc đèo Hải Vân, gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.

tỉnh Bắc Trung bộ là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.


3

4

việc giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN là giải quyết mối quan hệ
giữa cung - cầu về nhà ở; là thực hiện hệ thống các biện pháp giải quyết
các mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước - người kinh doanh cung ứng nhà ở
- người lao động.
- Luận án đã xác định và luận giải bốn nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết
vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN, đó là: i) Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ
mô; ii) Các nhân tố liên quan đến chủ doanh nghiệp các KCN và người xây
nhà cho thuê; iii) Các nhân tố liên quan đến khả năng chi trả của NLĐ; iv) Các
nhân tố liên quan đến tổ chức quản lý về nhà ở cho NLĐ các KCN.
- Luận án đã làm rõ ba nội dung mà các nghiên cứu trước đây ở Việt
Nam chưa đề cập đến hoặc chưa phân tích một cách có cơ sở khoa học
thuyết phục được là: i) Xác định hình thức sở hữu, sử dụng nhà ở phù hợp
với các đối tượng lao động làm việc tại các KCN; ii) Đề xuất hình thức hỗ
trợ tài chính phù hợp với từng hình thức sở hữu, sử dụng nhà ở đối với
NLĐ; iii) Mối quan hệ giữa trách nhiệm và lợi ích của nhà nước - doanh
nghiệp - người có nhà cho thuê trong giải quyết nhà ở cho NLĐ các KCN.
4.2. Những kết luận, đề xuất rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án
Từ kết quả phân tích thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những hạn
chế, luận án đã khuyến nghị các phương hướng và giải pháp giải quyết vấn
đề nhà ở cho NLĐ các KCN trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ những
năm tới:
- Hai phương hướng chủ yếu là: 1) đảm bảo hình thức và tiện ích về
nhà ở cho NLĐ các KCN nhằm đồng bộ về các điều kiện sinh hoạt cho

định những nhu cầu bức thiết về vấn đề nhà ở của công nhân các nhà máy
công nghiệp ở các quốc gia trên thế giới; Liliany S.Arifin (2004); Rahman
(1993); Chia (1981); IFC (2009);... đã bàn đến những vấn đề liên quan đến
cung ứng nhà ở cho NLĐ tại các KCN.
Thứ hai, về vai trò nhà nước trong giải quyết nhà ở cho NLĐ.
Haryana Government (2010); Kim, Kyeong-Duk (1996; 2012),... đã làm rõ
vai trò của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương trong việc thu
hút các doanh nghiệp vào làm việc tại các KCN cũng như xây dựng và tổ
chức thực thi các chính sách liên quan đến giải quyết vấn đề nhà ở cho
NLĐ làm việc tại khu vực này, trong đó nhấn mạnh đến việc xây những
nhà ở độc thân cho NLĐ làm việc tại các KCN; đã phân tích sự cần thiết
của việc nhà nước phải can thiệp để giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ làm
việc tại các KCN...
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước về giải quyết vấn đề nhà ở cho người
lao động các khu công nghiệp
Thứ nhất, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giải quyết vấn đề nhà ở
cho NLĐ các KCN. Nguyễn Ngọc Dũng (2005), Một số vấn đề xã hội Trong xây dựng và phát triển các KCN ở Việt Nam; Nguyễn Tấn Dũng
(2010), Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là
một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 2020; Khổng Thành Công (2011), Xây dựng nhà ở cho NLĐ trong KCN:
Góp phần đảm bảo an sinh xã hội; Vũ Quốc Huy (2014), Nhà ở cho NLĐ
trong các KCN; Lê Quốc Hội (2012), Việc làm và đời sống của NLĐ
trong KCN, khu chế xuất và khu kinh tế ở Việt Nam... các tác giả đã chỉ ra


5

6

ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ trong
các KCN để tạo sự phát triển bền vững cho các KCN.

thuê, kết hợp cho thuê - bán lại,… thì có thể thu hút sự quan tâm của chính
những người trong cuộc - NLĐ tại các KCN đối với vấn đề nhà ở của
chính họ.
Thứ ba, đối với việc giải quyết vấn đề nhà ở xã hội cho nhóm người có
thu nhập thấp nói chung, NLĐ trong các KCN nói riêng cần có vai trò chủ động
của Nhà nước trong việc thiết lập chính sách, hỗ trợ xây dựng và cung cấp tín
dụng cho người dân trong nỗ lực sở hữu nhà ở của họ...

Thứ tư, ở Việt Nam, vấn đề giải quyết nhà ở cho NLĐ tại các KCN
chưa được quan tâm đúng mức, hoặc các chính sách đã được thiết lập chỉ
tập trung giải quyết một hoặc một số vấn đề trong bức tranh chung về nhà
ở tại các KCN, chưa có cái nhìn tổng quan và đưa ra các giải pháp tổng
thể, đồng bộ về vấn đề này. Pháp luật Việt Nam không có quy định bắt
buộc về doanh nghiệp thuê lao động phải đảm bảo cung cấp chỗ ở cho
NLĐ mà chỉ đưa ra một số chính sách ưu đãi, khuyến khích. Do đó, vấn đề
nhà ở cho NLĐ hiện tại vẫn là vấn đề bức xúc...
Thứ năm, ở các KCN hiện nay, nhà ở cho NLĐ có 3 loại:
- Nhà do nhà nước đầu tư xây dựng tại các KCN, có chất lượng cao
nhưng chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ;
- Nhà do các doanh nghiệp xây dựng trong khuôn viên KCN, có chất
lượng tốt hơn nhà do hộ dân xây dựng cho thuê nhưng cuộc sống của NLĐ
lại bị tách biệt với cộng đồng dân cư và thiếu các công trình kết cấu hạ
tầng xã hội đi kèm;
- Nhà ở do các hộ dân cư ở cạnh KCN xây dựng tạm để cho NLĐ
thuê, số này chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số nhà ở cho NLĐ.
Nhìn chung, các văn bản pháp luật của Nhà nước đã tạo ra hành lang
pháp lý cho các KCN hoạt động và các cơ chế, chính sách đang ngày được
hoàn thiện. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã tiếp cận
dưới những góc độ khác nhau về cả lý luận và thực tiễn về vấn đề xã hội
cơ bản cho NLĐ ở các KCN như việc làm, thu nhập, đời sống, cung cấp

Thứ nhất, hiểu thế nào là giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các
KCN? Bản chất của việc giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN là gì?
Thứ hai, tình hình giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN, tỷ lệ
các chủ sở hữu tham gia giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ làm việc tại các
KCN, cũng như khả năng mà những đơn vị cho thuê nhà có thể đáp ứng về
số lượng và chất lượng nhà ở đối với NLĐ đi thuê tại các KCN trên địa
bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ hiện nay như thế nào?
Thứ ba, giải quyết vấn đề nhà ở có tác động như thế nào đến NLĐ,
đến doanh nghiệp và đến sự phát triển của xã hội?
Thứ tư, phải hoàn thiện như thế nào về hệ thống luật pháp, cơ chế,
chính sách, tổ chức và quản lý huy động nguồn lực của xã hội (Nhà nước Địa phương - Doanh nghiệp - người dân) để giải quyết vấn đề nhà ở cho
NLĐ các KCN trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ?
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Khung nghiên cứu đề tài
Thứ nhất, yêu cầu giải quyết vấn đề nhà ở thể hiện mối quan hệ cung
- cầu về nhà ở giữa NLĐ và các bên tham gia giải quyết vấn đề nhà ở tại
các KCN trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ hiện nay;
Thứ hai, tác động của việc giải quyết vấn đề nhà ở đến chi tiêu và
tích luỹ của NLĐ cũng như số tiền mà họ có thể gửi về hỗ trợ người thân ở
quê nhà; đến sự ổn định nhân sự và phát triển bền vững của doanh nghiệp
đang hoạt động kinh doanh tại các KCN; sự ổn định kinh tế, trật tự xã hội
của địa phương có lao động đến làm việc tại các KCN;
Thứ ba, hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách giải quyết nhà ở cho
NLĐ các KCN của quốc gia đã tác động như thế nào đến giải quyết nhà ở
cho NLĐ các KCN một số tỉnh Bắc Trung bộ?
Thứ tư, trên cơ sở đánh giá thực trạng của việc giải quyết vấn đề nhà ở
cho NLĐ làm việc tại các KCN trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ, dự báo
xu hướng về sự phát triển các KCN, đề tài sẽ đưa ra những khuyến nghị về

phương hướng và giải pháp để giải quyết vấn đề nhà ở đối với NLĐ các KCN

doanh nghiệp
3. Sự phát triển
bền vững của địa
phương

Phương hướng giải pháp giải quyết vấn đề nhà ở

Sơ đồ 1. Khung phân tích của luận án
1.2.2. Quy trình nghiên cứu của đề tài
Quy trình nghiên cứu giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN
được thể hiện Hình 1.
Thu thập các dữ liệu thứ cấp liên
quan đến đảm bảo nhà ở cho NLĐ
làm việc tại các KCN trên địa bàn
các tỉnh Bắc Trung bộ

Thực trạng đảm bảo nhà
ở cho NLĐ làm việc tại
các KCN trên địa bàn
các tỉnh Bắc Trung bộ

Phân tích và xử lý số liệu
Đối với số liệu thứ cấp (đánh giá chung toàn địa bàn)
Đối với số liệu sơ cấp (đánh giá của đối tượng điều tra)
- Thực trạng các bên tham gia cung ứng nhà ở
cho NLĐ làm việc tại các KCN
- Thực trạng tiếp cận nhà thuê của NLĐ làm việc tại các
KCN

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

thực trạng giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ làm việc tại các KCN trên địa
bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ được thực hiện dựa trên 366 phiếu điều tra
thuộc 4 đối tượng là chủ doanh nghiệp sản xuất, người cho thuê nhà ở tư
nhân, người thuê nhà ở và các cán bộ quản lý nhà nước các cấp tại 4 tỉnh
Bắc Trung bộ là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
1.2.3.2. Thiết kế phiếu điều tra
Phiếu điều tra nhằm thu thập những thông tin liên quan đến tình hình
cung cấp các dịch vụ nhà ở cho lao động các KCN về số lượng, chất lượng
nhà ở và sự phù hợp giữa giá cả nhà thuê với chất lượng dịch vụ và khả
năng thu nhập; đánh giá về môi trường luật pháp, cơ chế chính sách của
nhà nước; mục tiêu hoạt động và khả năng tài chính, lợi nhuận của doanh
nghiệp; khả năng và lợi ích cho thuê nhà ở đối với người dân; tổ chức quản
lý về vấn đề nhà ở…; những thuận lợi, khó khăn, bất cập hiện nay; hướng
giải quyết, hoàn thiện.
1.2.4. Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để so sánh, phân tích về
tình hình giải quyết vấn đề nhà ở đối với NLĐ làm việc tại các KCN trên
địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ.
Các số liệu được xử lý dưới dạng số tuyệt đối và số tương đối, và tùy
theo từng mục đích phân tích trong từng nội dung mà tác giả đưa ra quyết
định sử dụng loại số liệu nào.
Bên cạnh việc sử dụng các dữ liệu điều tra sơ cấp được xử lý với phần
mềm SPSS, đề tài còn kết hợp với các dữ liệu điều tra thứ cấp thông qua các
báo cáo của chính quyền địa phương, các Ban quản lý các KCN, các nghiên
cứu đã được công bố để đưa ra những lập luận, những phân tích phục vụ cho
nghiên cứu này.
Ngoài việc sử dụng SPSS trong hỗ trợ phân tích thống kê, nghiên
cứu này còn sử dụng phần mền STATA để tiến hành hồi quy so sánh tình
trạng thuê nhà để ở của NLĐ làm việc tại các KCN trên địa bàn một số
tỉnh Bắc Trung bộ dựa trên các nhóm tiêu chí giới tính, hộ khẩu, số người

Thứ ba, tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, phương pháp quản lý
hiện đại và kích thích sự phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và
doanh nghiệp trong nước.
Thứ tư, tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo và phát triển
nguồn nhân lực.
Thứ năm, thúc đẩy việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng và là
hạt nhân hình thành đô thị mới.
Thứ sáu, phát triển KCN gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
2.1.2. Bản chất của việc giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các
khu công nghiệp
2.1.2.1. Đặc điểm nhu cầu nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp
Theo Luật Nhà ở, nhà ở “là công trình xây dựng với mục đích để ở
và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”.
Nhà ở có những đặc điểm sau:


11

12

Một là, nhà ở là tài sản không thể di dời được, nó gắn liền với đất,
được xây dựng trên đất. Sự gắn liền với đất này chỉ vị trí của nó được phân
bổ ở đâu;
Hai là, nhà ở là một bất động sản có tính bền vững, thời gian sử dụng
dài, hao mòn chậm;
Ba là, nhà ở là tài sản có giá trị lớn;
Bốn là, nhà ở rất đa dạng, phong phú cả về số lượng và chất lượng.
Dưới góc độ kinh tế chính trị học, nghiên cứu nhà ở là nghiên cứu về
nhu cầu của con người. Với sự hình thành các KCN tất yếu kéo theo sự
phát triển nhu cầu đảm bảo nhà ở cho NLĐ. Bởi lẽ, muốn phát triển các

nhà có khả năng chi trả.
Giải quyết nhà ở cho NLĐ các KCN phản ánh mối quan hệ giữa
các bên:
i) NLĐ làm việc trong các KCN;
ii) Người kinh doanh nhà ở tại các KCN;
và iii) Nhà nước. Vì thế, nói cách khác, thực chất giải quyết vấn đề
nhà ở cho NLĐ các KCN là hệ thống các biện pháp giải quyết các mối
quan hệ lợi ích giữa nhà nước - người kinh doanh cung ứng nhà ở - và
NLĐ.
2.1.3. Ý nghĩa của giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu
công nghiệp
Thứ nhất, đối với NLĐ, giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN là
biện pháp đảm bảo cho NLĐ gắn bó với công việc tại các KCN.
Thứ hai, đối với doanh nghiệp sản xuất, việc đảm bảo nhà ở cho NLĐ
là điều kiện để nâng cao năng lực làm việc và năng suất lao động của NLĐ
và cũng là cơ sở để doanh nghiệp có thể ổn định quan hệ lao động.
Thứ ba, đối với sự phát triển bền vững của địa phương, việc giải
quyết vấn đề nhà ở cho người lao động sẽ đảm bảo cho các thế hệ lao động
gắn bó với doanh nghiệp, gắn bó với địa phương, tạo môi trường sống tốt,
không xung đột và đảm bảo lợi nhuận dài hạn cho doanh nghiệp.
2.2. Yêu cầu, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết
vấn đề nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp
2.2.1. Yêu cầu của việc giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các
khu công nghiệp
2.2.1.1. Đảm bảo hình thức và tiện ích về nhà ở phù hợp đối với các đối
tượng NLĐ. Luận án đã phân tích loại hình nhà ở cho NLĐ các KCN. Đó
là nhà riêng (tự xây, mua nhà) hay nhà thuê? Thuê ngắn hạn hay thuê dài
hạn? Thuê chung hay thuê riêng? Đồng thời phải đảm bảo quy định về tiêu
chuẩn nhà ở.
2.2.1.2. Đảm bảo chất lượng các dịch vụ sinh hoạt và dịch vụ xã hội cơ

nhiệm của chính quyền các cấp.
Thứ hai, trong điều kiện nhà nước, doanh nghiệp chưa đảm bảo giải
quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN, việc đa dạng hóa các hình thức
giải quyết vấn đề nhà ở như là biện pháp quan trọng.
Thứ ba, về lâu dài để giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN có
hiệu quả là nhà nước cần có sự phối với các doanh nghiệp các KCN xây
dựng nhà ở chung cư dưới hình thức nhà ở xã hội cho người có thu nhập
thấp để đảm bảo chỗ ở cho NLĐ.

Trung bộ như trình độ phát triển kinh tế thấp, là vùng có tỷ lệ nghèo đói
còn cao, năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo của vùng này đứng thứ ba so với 6 vùng
trong cả nước. Bắc Trung bộ cũng là vùng khí hậu khắc nghiệt thường
xuyên gánh chịu bão, lũ nặng nề. Điều này có tác động rất lớn đến việc
giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ, trên cả hai phương diện không những là
sự đòi hỏi bức xúc mà còn là gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xây
dựng và cung ứng nhà ở.
3.1.2. Khái quát về các khu công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh Bắc
Trung bộ
Theo số liệu từ các báo cáo của các Ban quản lý các KCN, KKT, đến
cuối năm 2014, đầu năm 2015 không kể các cụm công nghiệp của tỉnh,
huyện, trên địa bàn 6 tỉnh Bắc Trung bộ từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế
có 38 KCN và 3 KKT (trong đó 23 KCN đã và đang đi vào hoạt động).
Tại Thanh Hóa có: KKT Nghi Sơn; KCN Lễ Môn; KCN Đình Hương
Tây Bắc Ga; KCN Bỉm Sơn; KCN Lam Sơn;...
Tại Nghệ An có: KCN Cửa Lò; KCN Bắc Vinh; KCN Nam Cấm;
KCN Hoàng Mai; KCN Phủ Quỳ; KCN Cửa Hội;...
Tại Hà Tĩnh có: KKT Vũng Áng; KKT Cửa khẩu Cầu Treo; KCN Hạ
Vàng; KCN Gia Lách;...
Tại Quảng Bình có: KKT Hòn La; KKT Cửa khẩu Cha Lo; KCN Hòn
La 2; KCN Bạng; KCN Cam Liên; KCN Bắc Quán Hầu; KCN Lý Trạch;...

địa bàn. Luận án đặc biệt chú ý đến những khó khăn của các tỉnh Bắc


15

16

Bảng 1. Tình hình lao động và nhà ở tại các KKT, KCN trên địa bàn các
tỉnh Bắc Trung bộ năm 2014

3.2. Tình hình giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu
công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ
3.2.1. Tình hình cung ứng nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp
3.2.1.1. Tình hình cung ứng nhà ở cho NLĐ từ các doanh nghiệp tại KCN
Trong tổng số 58 doanh nghiệp được điều tra, hiện tại chỉ có 7 doanh
nghiệp (chiếm 12,06%) có nhà ở cho NLĐ đang làm việc ở các KCN. Đến
năm 2013 trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ, việc xây dựng nhà ở cho NLĐ
trong các KCN hoàn toàn do doanh nghiệp sử dụng lao động xây dựng; còn
nhà nước và các Ban quản lý KCN chưa tham gia vào quá trình cung ứng
nhà ở cho NLĐ.
3.2.1.2. Tình hình cung ứng nhà ở cho NLĐ làm việc tại KCN từ phía hộ
gia đình
Phần lớn những ngôi nhà được hộ gia đình sử dụng vào mục đích cho
công nhân lao động làm việc ở các doanh nghiệp các KCN trên địa bàn
thuê để kiếm thêm thu nhập là những căn nhà cấp 4, chiếm 98 - 90% số
nhà được điều tra; chỉ một tỷ lệ rất nhỏ những ngôi nhà từ hai tầng trở lên
được người dân xây dựng để thực hiện hoạt động kinh doanh (cho thuê
chỗ ở).
3.2.2. Tình trạng nhà ở của người lao động làm việc tại các khu công
nghiệp trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ

Tổng số lao động KCN 112.127
52.526
62.601
55,83
Bắc Trung bộ
- Quảng Bình
2.987
2.636
351
11,75
- Quảng Trị
4.000
3.200
800
20,00
- Thừa Thiên Huế
24.219
8.477
15.742
64,99
- Hà Tĩnh
33.786
6.639
27.147
80,35
- Nghệ An
11.994
8.324
3.670
30,60

18

phải là NLĐ người bản địa hoặc sống gần KCN thì phần lớn đều lựa
chọn việc thuê nhà riêng để tiện cho quá trình sinh hoạt. Những đối
tượng đã có gia đình nhưng không đem gia đình đi theo lựa chọn
phương án sống cùng người thân gần KCN, hoặc thuê phòng chung để ở.
3.2.2.4. Tình trạng lựa chọn phương thức thuê (thuê chung, thuê riêng)
Kết quả điều tra 119 NLĐ thuê nhà cho thấy, xét theo giới tính thì
tỷ lệ nam giới thuê phòng sống độc thân so với nam giới thuê phòng sống
cùng vợ con là như nhau; tuy nhiên, tỷ lệ nữ giới thuê phòng sống cùng
gia đình lại thấp hơn 3 lần so với nữ giới thuê phòng sống độc thân. Xét
theo tình trạng hôn nhân của nhóm đối tượng trả lời điều tra, kết quả cho
thấy, dù đã có gia đình hay chưa có gia đình nhưng tỷ lệ NLĐ làm việc ở
các KCN có khả năng thuê nhà riêng đạt khoảng 12%, còn lại hơn 80% lao
động đơn thân/độc thân vẫn phải chia sẻ tiền thuê phòng với bạn bè. Như
vậy, tình trạng thuê phòng sống riêng một mình, hay thuê phòng sống cùng
gia đình của nhóm đối tượng lao động đang làm việc tại các KCN thuộc
khu vực này chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Nói cách khác, có khoảng 80% số đối
tượng được điều tra là đơn thân/độc thân lựa chọn phương thức cùng nhau
thuê nhà để sống khi họ vào làm việc tại các KCN trên địa bàn.
3.2.2.5. Tình trạng diện tích chỗ ở
Xét về diện tích phòng thuê của nhóm đối tượng lao động làm việc
tại các KCN trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ, diện tích chỗ ở bình
quân của một lao động thuê nhà tại các hộ dân cư khoảng dưới 6
m2/người, chất lượng dịch vụ nhà ở được cung cấp nhìn chung ở mức
trung bình thấp. Diện tích nhà thuê để ở trong quá trình làm việc tại
KCN không phụ thuộc vào việc đối tượng đó là nam hay nữ, mà phụ
thuộc và tình trạng lao động theo hộ khẩu, mức chi trả tiền thuê nhà,
mức thu nhập trung bình hàng tháng, và kể các phương thức họ chọn
cách sống

87,5%
Doanh nghiệp nhà nước TW
100,00
0%
100%
Doanh nghiệp FDI
16,7%
83,3%
100,00
Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả, năm 2014
Thứ hai, về cung ứng nhà ở cho NLĐ từ các hộ gia đình có nhà cho
NLĐ thuê tại KCN
Tại các căn hộ được cung ứng từ phía người dân, lao động trong các
KCN lại có nhiều lựa chọn hợp lý với khả năng và nhu cầu của mình. Các
hộ gia đình có nhà cho lao động làm việc tại các KCN thuê rất linh hoạt về
các hình thức cho thuê nhà. Họ có thể cho NLĐ thuê phòng riêng để ở một
mình hoặc có thể cho cả gia đình NLĐ thuê để sinh sống hay cho một vài
người cùng thuê một căn phòng.
Kết quả điều tra cũng cho thấy, không có hộ gia đình nào cung cấp
nhà ở cho NLĐ thuê sống một mình với diện tích tối thiểu dưới 5 m2. Tuy
nhiên, trên thực tế vẫn có những đối tượng sống với diện tích ít hơn 5 m2
bởi họ thuê một căn nhà, rồi cùng chia sẻ chỗ ở với nhiều người. Kết quả
điều tra cũng cho thấy nam giới sống cùng với bạn nhiều hơn so với nữ
giới khi phải thuê phòng mà diện tích ở trung bình mỗi người dưới 5 m2,
tình trạng ngược lại diễn ra khi mà diện tích thuê để ở trung bình mỗi
người trên 5 m2. Trong khi hộ gia đình có nhà cho thuê có thể cung cấp các
loại hình thuê khác nhau, đối tượng đi thuê nhà chỉ cần chi trả đủ số tiền để
thuê căn nhà đó, còn việc họ huy động bao nhiêu người đến ở trong ngôi
nhà đó tùy thuộc vào quyết định cá nhân của người chủ đi thuê.
3.2.4.2. Mức độ đáp ứng các nhu cầu của người lao động thuê nhà ở

nhận định là năng lực phục vụ của các đối tượng cung ứng nhà ở cho NLĐ
đạt ở mức trung bình tối thiểu và thấp; về sự đồng cảm, các chủ cung ứng
dịch vụ nhà ở chưa thật sự quan tâm đến những nhu cầu, mong muốn
của người thuê nhà ở. Chất lượng dịch vụ nhà ở về phương tiện hữu hình
được các đối tượng điều tra đánh giá dưới mức trung bình.
3.3. Phân tích nguyên nhân, hạn chế trong giải quyết vấn đề nhà ở cho
người lao động các khu công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh Bắc
Trung bộ
3.3.1. Môi trường chính sách vĩ mô còn nhiều bất cập
3.3.2. Sự tham gia của doanh nghiệp sử dụng lao động tại các khu công
nghiệp vào cung ứng các dịch vụ xã hội nói chung và giải quyết vấn đề
nhà ở nói riêng là chưa nhiều
3.3.3. Tổ chức quản lý, phối hợp các chương trình, kiểm tra, giám sát
của Nhà nước và sự tham gia của các tổ chức công đoàn chưa chặt chẽ
Công tác quy hoạch, kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch nhà ở
cho NLĐ làm việc các KCN chưa được chú ý ngay từ đầu và coi trọng một
cách đầy đủ; còn nhiều rào cản ảnh hưởng đến dịch vụ xã hội cho NLĐ
làm việc tại các KCN chưa được tháo gỡ; hiệu lực của công tác kiểm tra,
giám sát giải quyết vấn đề nhà ở, quan tâm đến các điều kiện đảm bảo như
điện nước,... cho NLĐ chưa cao.
3.3.4. Khả năng chi trả của người lao động thuê nhà ở còn hạn chế

Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN MỘT SỐ
TỈNH BẮC TRUNG BỘ NHỮNG NĂM TỚI
4.1. Quan điểm và phương hướng giải quyết vấn đề nhà ở cho người
lao động các khu công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ
những năm tới

Bảng 3. Dự báo về số lượng diện tích và lao động và nhu cầu nhà ở
các KCN trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ

4.1.3. Phương hướng giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các
khu công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ những năm tới
Thứ nhất, đảm bảo hình thức và tiện ích về nhà ở cho NLĐ trong KCN
nhằm đồng bộ về các điều kiện sinh hoạt cho NLĐ.
Thứ hai, nâng cao chất lượng dịch vụ sinh hoạt và dịch vụ xã hội
nhằm cải thiện cảm nhận của NLĐ trong các KCN về chất lượng dịch vụ
nhà ở.
4.2. Những giải pháp cơ bản giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao
động các khu công nnghiệp trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ
những năm tới
4.2.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý và cơ chế chính sách giải quyết
vấn đề nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp
4.2.1.1. Xây dựng và ban hành Nghị định về xây dựng và quản lý nhà ở
cho người lao động các khu công nghiệp
4.2.1.2. Hoàn thiện cơ chế chính sách tài chính để khuyến khích việc xây
dựng nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp
4.2.2. Tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp sử dụng lao động tại các
khu công nghiệp và các ban quản lý khu công nghiệp, các công ty xây
dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, nhà nước và người dân có nhà ở
cho thuê vào cung ứng các dịch vụ xã hội nói chung và giải quyết vấn đề
nhà ở nói riêng
4.2.2.1. Đối với doanh nghiệp sử dụng lao động các khu công nghiệp
4.2.2.2. Đối với các Ban quản lý các khu công nghiệp, các công ty xây
dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp
4.2.2.3. Đối với nhà nước và người dân có nhà cho thuê
Thứ nhất, cần giải tỏa những ách tắc trong chính sách của nhà nước
về nhà ở xã hội cho NLĐ trong KCN nói riêng, cho người nghèo, người có

182.942
199.875
88.285
111.590

Nguồn: Tổng hợp [110; 107; 9; 10; 12; 118; 122; 124; 38] và tính toán của tác giả

4.1.1.2. Cơ sở pháp lý giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu
công nghiệp những năm tới
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách về
phát triển nhà ở, nhằm thực hiện quyền về nhà ở cho mọi công dân nói
chung, NLĐ trong các KCN nói riêng. Từ năm 2011, thực hiện “Chiến
lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”
của Chính phủ. Luật Nhà ở đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2014 đã có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 cũng khẳng định vai trò của Nhà
nước trong chính sách nhà ở.
4.1.2. Quan điểm giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu
công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ những năm tới
4.1.2.1. Giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động là vấn đề cơ bản, lâu
dài để tái sản xuất sức lao động cho người lao động, nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của
các địa phương
4.1.2.2. Thực hiện xã hội hóa trong giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao
động
4.1.2.3. Giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động phải đảm bảo lợi ích
hài hòa giữa người cung ứng dịch vụ nhà ở, người lao động thuê nhà ở các
khu công nghiệp và xã hội
4.1.2.4. Tăng cường vai trò Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề nhà ở
cho người lao động nhằm thực hiện quyền về nhà ở cho người dân

2) Phương hướng giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN trên địa
bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ những năm tới là: đảm bảo hình thức và tiện
ích về nhà ở cho NLĐ các KCN nhằm đồng bộ về các điều kiện sinh hoạt
cho NLĐ; nâng cao chất lượng dịch vụ sinh hoạt và dịch vụ xã hội nhằm
cải thiện cảm nhận của NLĐ các KCN về chất lượng dịch vụ nhà ở.
3) Để giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN trên địa bàn một số
tỉnh Bắc Trung bộ những năm tới theo quan điểm và phương hướng trên,
luận án đề xuất bốn giải pháp cụ thể như sau: hoàn thiện môi trường pháp
lý và cơ chế chính sách giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ các KCN; tăng
cường sự tham gia của doanh nghiệp sử dụng lao động tại các KCN và các
ban quản lý KCN, các công ty xây dựng kết cấu hạ tầng KCN, nhà nước và
người dân có nhà cho thuê vào cung ứng các dịch vụ xã hội nói chung và
giải quyết vấn đề nhà ở nói riêng; tăng cường vai trò nhà nước trong tổ
chức quản lý, phối hợp các chương trình, thực hiện kiểm tra, giám sát và
sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội, trước hết là tổ chức công
đoàn trong việc giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ; cải thiện điều kiện làm
việc, nâng cao năng suất lao động và tăng thu nhập cho NLĐ các KCN.

KẾT LUẬN
Luận án Giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu công
nghiệp - Nghiên cứu trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ đã giải quyết
những vấn đề sau:
Thứ nhất, từ lý luận và thực tiễn một số nước, luận án đã xây dựng
được khung lý thuyết về giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ. Từ đó, luận án đã
đưa ra các tiêu chí định tính và định lượng để đánh giá giải quyết vấn đề nhà
ở cho NLĐ trong KCN. Các tiêu chí định tính phản ánh sự cảm nhận về nhà
ở của NLĐ; tiêu chí định lượng phản ánh số diện tích bình quân một NLĐ
thuê trên cơ sở các chuẩn chung của quốc tế. Luận án cũng chỉ ra nhân tố ảnh
hưởng đến giải quyết vấn đề nhà ở cho NLĐ trong KCN có liên quan đến
pháp luật về nhà ở, các chính sách ưu đãi của nhà nước đối với xây dựng kết

tr.61-68.
5. Bùi Văn Dũng (2013), “Về đảm bảo nhà ở cho người lao động tại các
khu công nghiệp”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia “Tư duy mới về
phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới”, Nxb Đại học
Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 12/2013, tr.465-472.
6. Bùi Văn Dũng (2011), “Một số biện pháp chủ yếu giải quyết các vấn đề
xã hội nảy sinh tại các khu công nghiệp tỉnh Nghệ An”, Tạp chí Kinh tế
và Phát triển, Chuyên san - 6/2011, tr.73-77.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status