Đào tạo, bồi dưỡng phát triển năng lực cán bộ, công chức chính quyền cơ sở người dân tộc thiểu số tỉnh Dak Lak - Pdf 32

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền cơ sở là một cấp trong hệ thống chính quyền các cấp ở nước
ta, bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở. Đây là cấp hành
chính gần dân nhất, thường xuyên tiếp xúc, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho
nhân dân; là nơi tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp
luật của Nhà nước. Năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở sẽ tác động
trực tiếp đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần bảo đảm cho sự
ổn định và phát triển của địa phương, đất nước. Chính quyền cơ sở không thể đảm
nhận được vai trò nếu thiếu nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là đội ngũ cán bộ,
công chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”,
“Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu”. Cán bộ, công chức
nói chung, cán bộ công chức làm việc ở chính quyền cơ sở nói riêng là cầu nối giữa
Đảng, Chính phủ với nhân dân; là người mang chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu và thi hành. Đồng thời, lắng nghe, nắm bắt
tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo, phản ánh cho cấp trên nhằm xây
dựng và ban hành các chủ trương, chính sách sao cho phù hợp với thực tiễn của
cuộc sống.
Là tỉnh miền núi khó khăn, đất rộng, người đông, có nhiều tôn giáo và dân
tộc (44 dân tộc anh em) cùng sinh sống, Dak Lak được coi là địa bàn có vị trí chiến
lược đặc biệt quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của Tây
Nguyên và cả nước. Chính vì vậy, đây luôn là trọng điểm chống phá của các thế lực
thù địch, chúng triệt để lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”
đặc biệt là vấn đề “dân tộc” để chống phá. Trong những năm gần đây chúng lập nên
cái gọi là “Tin Lành Đêga”, “Nhà nước Đêga” để quy tụ, tập hợp, phát triển lực
lượng trong đồng bào dân tộc thiểu số. Trong các năm 2001, 2004 chúng liên tiếp tổ
chức gây rối, biểu tình, bạo loạn chính trị gây mất ổn định an ninh chính trị tại địa
phương. Để phòng chống có hiệu quả âm mưu, hoạt động chống phá của các thế
lực thù địch vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tiếp tục phát huy khối đại đoàn kết

1



2. Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Ở Việt Nam, một số tác phẩm có liên quan đến nội dung này như: Thang
Văn Phúc - Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên), “Cơ sở lý luận và thực tiễn Xây
dựng đội ngũ cán bộ công chức”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2005;
PGS-TS Nguyễn Phú Trọng (chủ biên): “ Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội- 2001; PGS-TS Bùi Đình Phong: “ Tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ và công tác cán bộ” , Nxb Lao Động, Hà Nội- 2002; GS-TS Lê Hữu
Nghĩa (Chủ biên): “Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt
cấp huyện người các dân tộc ở Tây Nguyên”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội2001; TS Nguyên Minh Sản: “Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở
Việt Nam hiện nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị- Hành chính,
Hà Nội- 2009.
Ngoài ra còn có các luận án, luận văn có nội dung liên quan đến đề tài như:
Trước năm 1975 có Huỳnh Văn Thanh:” Vấn đề đào tạo và sử dụng cán bộ hành
chính”, Luận văn tốt nghiệp Cao học Hành chính công, khóa II (1966-1968); Phan
Đình Tịnh:” Đi tìm một đường lối sử dụng hữu hiệu nhân viên”, Luận văn tốt
nghiệp Cao học Hành chính công, khóa III (1967-1969). Sau năm 1975 có Nguyễn
Văn Lợi: “ Góp phần xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ
sở từ thực tiễn tỉnh Bình Phước”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công, TP.
Hồ Chí Minh 2005; Trần Minh Lý :“Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã là
người dân tộc Khme ở các tỉnh Tây Nam Bộ”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành
chính công, TP. Hồ Chí Minh 2007; Lê Duyên Hà :“Đào tạo nguồn cán bộ, công
chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Dak Lak”, Luận văn Thạc sĩ Xây dựng
Đảng, Hà Nội 2008; Vũ Xuân Khoan: “Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công
chức xã phường, thị trấn khu vực đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-2013”,
Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Hà Nội 2010...
Những nội dung liên quan đến cán bộ, công chức và nhất là đào tạo bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở nói trên đã được một số nhà nghiên cứu

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu:

4


Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cán bộ, công chức người dân tộc thiểu
số làm việc tại chính quyền cơ sở, cụ thể là nhóm cán bộ chính quyền: Chủ tịch hội
đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân
và nhóm công chức chính quyền: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn
phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị
trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính
- kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội ở xã, phường, thị trấn trong tỉnh Dak
Lak
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong cán bộ, công chức chính
quyền cơ sở tỉnh Dak Lak, thời gian 5 năm từ năm 2006-2010.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận:
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận là: Khoa học quản lý nguồn nhân lực; khoa
học quản lý hành chính nhà nước; chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
nói chung và cán bộ, công chức chính quyền cơ sở và người dân tộc thiểu số nói
riêng...
- Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như:
Phương pháp biện chứng duy vật; phương pháp nghiên cứu, khảo sát, thu thập số
liệu; phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp thống kê và tổng hợp; phương
pháp tổng kết thực tiễn...
6. Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài.


NỘI DUNG
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1. Quan niệm chung về cán bộ, công chức
1.1.1. Cán bộ, công chức

6


Thuật ngữ cán bộ được du nhập vào nước ta từ Trung Quốc và được dùng
phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ban đầu nó được dùng nhiều trong
quân đội để phân biệt giữa chiến sỹ và cán bộ; cán bộ ở đây là những người làm
nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên và dần dần từ cán bộ được dùng rộng rãi để
chỉ cả những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân dân. Khi
vào nước ta từ cán bộ đã biến đổi không còn như nghĩa gốc; tuy nhiên cái hàm
nghĩa: Bộ khung, người làm nòng cốt, người chỉ huy luôn được nhận thức và lưu
giữ. Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly,
làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, quân đội. Trong quan niệm
hành chính, trước đây cán bộ được coi là những người có mức lương từ cán sự trở
lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn mức lương cán sự.
Theo từ điển Tiếng Việt, cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên
môn trong các cơ quan nhà nước (cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính
trị…) . Hiểu theo nghĩa khác cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ
quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ (Đoàn kết giữa
cán bộ và chiến sĩ, họp cán bộ và công nhân nhà máy, làm cán bộ Đoàn thanh
niên…)[21,tr 109].
Trong các tổ chức Đảng, đoàn thể cán bộ được dùng để chỉ những người
được bầu giữ chức vụ lãnh đạo từ trung ương đến cơ sở để phân biệt với đảng viên,
đoàn viên, hội viên, hoặc những người làm công tác chuyên trách trong các tổ chức

Hiến pháp và Pháp lệnh không có sự thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ và
phạm vi điều chỉnh của các thuật ngữ này cũng khác nhau. Bên cạnh đó, Pháp lệnh
chưa đưa ra được định nghĩa cho từng đối tượng cán bộ, công chức. Pháp lệnh cán
bộ, công chức được sửa đổi bổ sung năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành
cũng không có quy định cụ thể hơn để phân biệt đâu là cán bộ, đâu là công chức.
Pháp lệnh chỉ mở rộng thêm phạm vi điều chỉnh đối với đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã; cán bộ công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị- xã hội.
Có thể thấy, có rất nhiều cách hiểu về cán bộ, tuy nhiên cách hiểu chung
nhất có thể khái quát như sau: Cán bộ là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức
vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trịxã hội, những đối tượng mà hoạt động của họ mang nhiều tính chính trị, gắn liền

8


với chính trị và bị chi phối bởi nhiều yếu tố chính trị[23,tr12]. Cụ thể hơn, cán bộ đã
được định nghĩa trong Luật cán bộ, công chức năm 2008, có hiệu lực từ năm 2010:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức
danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị- xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước[22].
Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều nước. Đây là
khái niệm mang tính lịch sử, đồng thời phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và
tổ chức bộ máy nhà nước mỗi quốc gia. Tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế,
xã hội và chế đội chính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể
mà nội dung của khái niệm công chức được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Ở các
quốc gia tồn tại nhiều đảng phái chính trị, công chức chỉ được hiểu là những người
giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc
công chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Còn ở những nước chỉ có duy nhất

chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được
bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật[22].
Như vậy có thể thấy theo quy định của Luật này thì công chức hiện diện ở
cả các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể chính trị từ trung ương đến
tỉnh, huyện… Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định
rõ:
Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Trung ương:
Người giữ chức vụ, chức danh cấp phó, trợ lý, thư ký của người đứng đầu và người
làm việc trong văn phòng, cục, vụ, cơ quan thường trực tại thành phố Hồ Chí Minh,
thành phố Đà Nẵng của Văn phòng Trung ương Đảng, cơ quan Ủy ban Kiểm tra
Trung ương và các ban đảng ở Trung ương; người giữ chức vụ, chức danh người
đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan
ủy ban kiểm tra, các ban của Đảng ủy khối và Đảng ủy ngoài nước trực thuộc Ban
Chấp hành Trung ương Đảng; người làm việc trong bộ phận giúp việc của cơ quan,
tổ chức do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cơ quan do Ban Chấp hành Trung ương Đảng

10


quyết định thành lập. Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Người giữ chức vụ,
chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong
văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của tỉnh ủy, thành ủy; người giữ chức
vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc
trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của đảng ủy khối trực thuộc tỉnh
ủy, thành ủy; người làm việc chuyên trách trong văn phòng, ban tổ chức, ban tuyên
giáo, cơ quan ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở
trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy. Ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Người giữ
chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc
trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của huyện ủy, quận ủy, thị ủy,

của ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc Ủy ban nhân dân.
Ở cấp huyện: Chánh văn phòng, phó chánh văn phòng và người làm việc trong Văn
phòng hội đồng nhân dânvà Ủy ban nhân dân; chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân
dân quận, huyện, chánh văn phòng, phó chánh văn phòng và người làm việc trong
văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức hội đồng nhân
dân; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân.
Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân: Phó Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa và tòa chuyên trách; Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao; thư ký tòa án; người làm việc trong văn phòng, vụ, ban và các tòa,
tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao; chánh án, phó chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách; thẩm phán Tòa án
nhân dân cấp tỉnh; thư ký tòa án; người làm việc trong văn phòng, phòng, ban và
tòa chuyên trách thuộc tòa án nhân dân cấp tỉnh; chánh án, phó chánh án Tòa án
nhân dân cấp huyện; thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện; thư ký tòa án; người
làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện.
Công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân: Phó Viện trưởng Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn
phòng, vụ, cục, ban và viện nghiệp vụ thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Viện
trưởng, phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; kiểm sát viên, điều tra
viên; người làm việc trong văn phòng, phòng thuộc Viện Kiểm sát nhân dân cấp

12


tỉnh. Viện trưởng, phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát
viên, điều tra viên và người làm việc trong Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện.
Công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội. Ở Trung ương:
Chánh văn phòng, phó chánh văn phòng, trưởng ban, phó trưởng ban và người làm
việc trong văn phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức ở Trung ương của Mặt trận Tổ quốc

gắn với nhiệm vụ quản lý nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập được giao thực
hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước[3].
1.1.2. Cán bộ, công chức chính quyền cơ sở
Ở nước ta, cấp xã (xã, phường, thị trấn) là chính quyền cấp cơ sở, cấp thấp
nhất trong hệ thống chính quyền địa phương. Chính quyền cấp cơ sở có vai trò, vị
trí đặc biệt quan trọng không chỉ trong cơ cấu quyền lực nhà nước mà còn là yếu tố
chi phối mạnh mẽ đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng dân
cư và toàn thể người dân trong địa bàn. Chính quyền cấp xã theo quan niệm chung
còn được xác định là “trụ cột”, “trung tâm” của hệ thống chính trị cơ sở trong tổ
chức, triển khai mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước và bảo đảm cho chủ trương, chính sách đó đi vào cuộc sống. Chỉ có chính
quyền cấp xã, với chứng năng, thẩm quyền được thể chế hóa theo phân cấp, cùng
với cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ, công chức mới có thể thực hiện được điều đó,
mà khó có tổ chức nào ở cơ sở có thể thay thế được.
Đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã đóng vai trò quan trọng
trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã, trong hoạt động thực thi
công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống
chính trị của cấp xã nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng
lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã. Cán bộ,
công chức cấp xã hoạt động theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp
trên. Là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, hoạt
động của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã so với cán bộ, công chức ở trung
ương, tỉnh, huyện đều hướng theo mục tiêu, nhiệm vụ chung là: Họ đều thực thi
công vụ; có những yêu cầu về phẩm chất, năng lực và trình độ nhất định; có trách
nhiệm trước nhân dân, trước Đảng, Nhà nước, có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định.

14




chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít.
Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa dân tộc thiểu số với dân tộc
lạc hậu, dân tộc chậm tiến, dân tộc kém phát triển, dân tộc chậm phát triển… Có
nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp
thống trị trong mỗi quốc gia.
Trên thực tế, khái niệm dân tộc thiểu số chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan
về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì
khái niệm dân tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển
của các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân
nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và
lịch sử của mỗi dân tộc.
Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt
Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80
triệu người. Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2%
dân số, được quan niệm là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số
được quan niệm là dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khái
niệm dân tộc thiểu số, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được
gọi là dân tộc ít người. Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là dân tộc
thiểu số, nhưng cách gọi dân tộc ít người vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung.
Như vậy, khái niệm dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít,
chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia
đa dân tộc. Khái niệm dân tộc thiểu số cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan
so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Một
dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là
“thiểu số” ở quốc gia khác. Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là dân tộc đa số
ở Việt Nam, nhưng lại được coi là dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ
1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là dân


Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con
người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất

17


này được gọi là năng lực. Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của
con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ. Nội dung và tính chất của hoạt
động được quy định bởi nội dung và tính chất của đối tượng của nó. Tuỳ thuộc vào
nội dung và tính chất của đối tượng mà hoạt động đòi hỏi ở chủ thể những yêu cầu
xác định. Nói một cách khác thì mỗi một hoạt động khác nhau, với tính chất và mức
độ khác nhau sẽ đòi hỏi ở cá nhân những thuộc tính tâm lý (điều kiện cho hoạt động
có hiệu quả) nhất định phù hợp với nó.
Như vậy, khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một
thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự
tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của
các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra
mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc
tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp
ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả
mong muốn. Ở góc độ này, chúng ta có thể định nghĩa: “Năng lực là sự tổng hợp
những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và
đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”[6,tr190]. Nói cách khác:
“Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một
hoạt động nào đó”; “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả
năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[21,tr660.661].
Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói
đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực cũng thuộc về một hoạt động
cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán
học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy của

thực thi công việc và tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào một vị trí. Tiêu chuẩn mang tính
quy định cứng, là điều kiện cần để bổ nhiệm, chủ yếu dựa trên các quy định như đòi
hỏi về bằng cấp, lòng trung thành, phẩm chất (khó đo lường)… Còn năng lực chỉ
thể hiện khi kiểm tra, đánh giá hoặc khi thực thi công việc; năng lực là điều kiện
cần và đủ để làm tốt công việc được giao; năng lực có thể đo lường được thông qua
việc đánh giá thực thi được hay không được công việc được giao. Trong thực thi
công việc được giao nếu năng lực thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, có
thể dùng biện pháp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực.

19


1.2.2. Năng lực thực thi công việc
Năng lực thực thi công việc chính là khả năng thực hiện các nhiệm vụ được
giao (năng lực thực thi nhiệm vụ chuyên môn). Để thực thi công việc được giao,
cán bộ, công chức phải có kiến thức về chuyên môn, kỹ năng thực hiện và thái độ
thực thi công việc:
Về kiến thức và trình độ chuyên môn
Kiến thức và trình độ chuyên môn có được do được đào tạo, bồi dưỡng ở
các trường lớp tạo nên cho con người đó một thế giới quan khoa học, óc nhận xét,
khả năng tư duy, xét đoán và quyết định hành động đúng quy luật, đúng mức độ và
thời điểm. Kiến thức cơ bản của một người thể hiện ở bằng cấp chuyên môn được
đào tạo ở các trường lớp. Người có bằng cấp chuyên môn thuộc lĩnh vực nào có
nghĩa cá nhân đó có trình độ kiến thức ở lĩnh vực đó càng nhiều và kiến thức đó
được nhà nước công nhận qua việc cấp văn bằng.
Tuy nhiên, việc đánh giá năng lực con người không chỉ qua văn bằng họ có
được mà cần phải đánh giá một cách tổng hợp hơn về nhiều khía cạnh, chẳng hạn
như về trình độ hiểu biết kiến thức tự nhiên, xã hội. Những loại kiến thức này vô
cùng phong phú, bao gồm nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khác nhau. Và những loại
kiến thức này không nhất thiết cá nhân nào cũng phải học có bằng cấp mới biết, có

thì kỹ năng giao tiếp là rất quan trọng. Kỹ năng giao tiếp là hoạt động qua lại giữa
các cá nhân, giữa cán bộ, công chức và người dân với nhau. Đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay khi thực hiện cơ chế “một cửa” ở cấp xã, kỹ năng giao tiếp là một
trong những yếu tố giúp người cán bộ, công chức đạt được hiệu quả giải quyết công
việc cho người dân. Kỹ năng giao tiếp thể hiện ở khả năng nhận biết, phán đoán, sử
dụng các phương tiện giao tiếp như: Động tác, cử chỉ, ngôn ngữ, điệu bộ, sắc thái
tình cảm ánh mắt, khả năng tạo sức hút, lôi cuốn, hứng thú, tập trung…
Cùng với kỹ năng giao tiếp, người cán bộ, công chức chính quyền cơ sở còn
phải có kỹ năng thu thập và xử lý thông tin. Kỹ năng này gồm khả năng thu thập,
phân loại, sắp xếp, phân tích, kiểm tra, chọn lựa, xử lý và sử dụng thông tin. Với sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ như ngày nay, đặc biệt là công nghệ
thông tin, kỹ năng xử lý thông tin ngày càng quan trọng, có ý nghĩa rất lớn khi dự
thảo và ra quyết định cũng như thực thi công việc.

21


Một kỹ năng quan trọng nữa mà cán bộ, công chức nói chung, cán bộ công
chức chính quyền cơ sở nói riêng cần phải có đó là kỹ năng phân tích. Đây là kỹ
năng đòi hỏi sự không ngừng vươn lên về năng lực, trình độ đối với cán bộ, công
chức chính quyền cơ sở. Môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của người
cán bộ, công chức luôn hàm chứa thời cơ, nguy cơ, mặt mạnh, mặt yếu… đòi hỏi
người cán bộ, công chức luôn có sự phân tích để lựa chọn, đánh giá và đề ra các
phương án giải quyết thích hợp.
Ngoài kỹ năng phân tích, kỹ năng đánh giá cũng rất cần thiết đối với cán
bộ, công chức chính quyền cơ sở. Làm bất kỳ việc gì lớn hay nhỏ đều phải đánh giá
khác quan, công bằng, không thiên vị. Việc đánh giá những nhân tố mới, điển hình
mới, mô hình mới trên địa bàn xã, phường, thị trấn gắn kết, liên quan mật thiết đến
quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân chủ,
công bằng, văn minh. Thông qua việc đánh giá người cán bộ công chức có thể đề

cơ sở và sự bảo đảm cơ bản để cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ của
mình.
Sức khỏe tốt, dồi dào không chỉ đảm bảo cho cán bộ, công chức có sức
khỏe làm việc dẻo dai trong điều kiện bình thường, mà còn đáp ứng yêu cầu phải
tập trung cường độ lao động cao để giải quyết những vấn đề bức bách, làm việc
trong những điều kiện khó khăn, môi trường khắc nghiệt kéo dài. Sức khỏe tốt còn
giúp cho cán bộ, công chức luôn có tâm hồn sảng khoái, tư duy minh mẫn, giúp họ
thực thi nhiệm vụ trong trạng thái tinh thần tốt với sự tỉnh táo và sáng suốt, đem lại
hiệu quả cao.
1.2.3. Năng lực lãnh đạo, quản lý
Năng lực lãnh đạo, quản lý là khả năng dự báo, phán đoán, xử trí tình
huống, khả năng hành động của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính. Khả năng dự báo, phán đoán
thực chất là nhà lãnh đạo, quản lý có tầm nhìn về tương lai. Tầm nhìn là một dạng
chiến lược mà hệ thống quản lý hành chính cần hướng tới. Nó chỉ ra con đường cần
đi, các giai đoạn cần vượt qua. Tầm nhìn là việc huy động sức lực, trí tuệ của mỗi
cán bộ, công chức, mỗi tổ chức. Tầm nhìn cho phép mỗi nhà lãnh đạo, quản lý biết
được các đặc điểm của hệ thống tổ chức theo hình dung của họ. Nhà lãnh đạo quản
lý cần nguồn nhân lực như thế nào cho tổ chức mình, cần các năng lực gì? Khả

23


năng xử lý tình huống là việc nhà lãnh đạo, quản lý tìm hiểu để nắm bắt được
những công việc đang diễn ra trong lĩnh vực công tác, hoạt động của mình, cũng
như ngay chính trong hệ thống quản lý hành chính của mình. Nhà lãnh đạo, quản lý
phải cập nhật thông tin một cách đầy đủ, kịp thời cho mọi thành viên trong tổ chức
của mình. Còn khả năng hành động đó là việc nhà lãnh đạo, quản lý lên kế hoạch
chiến lược đối với nguồn nhân lực, cho phép huy động, sử dụng đúng người, đúng
lúc và đúng chỗ. Vấn đề này phụ thuộc vào khả năng đọc và hiểu đúng môi trường

tri thức đã lĩnh hội được thành các chủ trương, kế hoạch hành động làm biến đổi
hiện thực. Có khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn;
vận dụng cái chung một cách đúng đắn vào từng tình huống cụ thể. Biết đưa ra
quyết định đúng đắn, sát hợp với thực tế của địa phương.
Về năng lực lãnh đạo, quản lý
Người lãnh đạo, quản lý phải có khả năng thu nhận và xử lý thông tin liên
quan đến các mặt của đời sống xã hội một cách nhanh chóng và có hiệu quả. Có khả
năng đưa ra những quyết định có tính chất tình huống cụ thể, chính xác và có tính
khả thi. Biết tổ chức thực hiện quyết định, tổ chức bộ máy, bố trí và phối hợp các
lực lượng trong tổ chức mình; có khả năng đoàn kết, quy tụ cán bộ, đảng viên, công
chức; có khả năng tập hợp và phát huy sức mạnh của quần chúng; biết phát huy và
khơi dậy sức mạnh cộng đồng để thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở (chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn) phải có khả năng làm kinh tế và hiểu biết
pháp luật; lăn lộn trong phong trào thực tiễn ở cơ sở, xây dựng được mối quan hệ
mật thiết với dân, hiểu dân tôn trọng dân, học tập dân và luôn xuất phát từ lợi ích
của dân để hành động. Có như thế “dân mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người
lãnh đạo của họ”. Biết hình thành quy chế, biết áp đặt và thực thi quy chế, biết cụ
thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước thành những quyết định phù hợp
với điều kiện cụ thể của cơ sở. Biết dựa vào dân để lựa chọn cán bộ và quyết định
các chủ trương, nhiệm vụ công tác lớn. Biết tổ chức công tác kiểm tra, giám sát thực
hiện các quyết định để duy trì, điều chỉnh tiến độ thực hiện quyết định, phát hiện kịp
thời những vấn đề mới nảy sinh để giải quyết, biết tìm ra những sai sót, lệch lạc để
sửa chữa, hoàn chỉnh quyết định, bảo đảm quyết định được thực thi chính xác, hiệu
quả.

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status