THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT HIỆN NAY - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NÔNG THỊ LOAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI – 2018


VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NÔNG THỊ LOAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 83 10 27 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

tháng

năm 2018

Tác giả Luận văn

Nông Thị Loan


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................ 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ.................................................................... 15
1.1. Cơ sở lý luận ......................................................................................................15
1.1.1. Khái niệm chính trị, hệ thống chính trị ................................................ 15
1.1.2. Hệ thống chính trị cấp xã ........................................................................ 19
1.2. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số .............. 24
1.2.2. Một số vấn đề về cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số và vai
trò của họ đối với hệ thống chính trị cấp xã ........................................................................ 24
1.2.2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân
tộc thiểu số ................................................................................................................... 26
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở THÀNH PHỐ
BUÔN MA THUỘT .............................................................................................................. 32
2.1. Khái quát về điều kiện phát triển thành phố Buôn Ma Thuột ............................ 32
2.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên ............................................................................ 32
2.1.3. Điều kiện phát triển văn hóa ................................................................................... 34
2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là ngƣời dân tộc thiểu số ở
thành phố Buôn Ma Thuột ................................................................................................... 35
2.2.1. Cơ cấu ....................................................................................................................... 36

3.2.5. Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển đội ngũ giảng viên .......................... 65
3.3. Một số kiến nghị ......................................................................................................... 66
3.3.1. Đối với cơ quan Chính phủ..................................................................................... 66
3.3.2. Đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân
tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột................................................................................ 67
KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CB, CC DTTS

Cán bộ, công chức Dân tộc thiểu số

HTCT

Hệ thống chính trị

HĐND KT - XH

Hội đồng nhân dân Kinh tế - xã hội

THPT THCS

Trung học phổ thông Trung học cơ sở

UBND

Ủy ban nhân dân


các chủ trương, chính sách sao cho phù hợp với thực tiễn của cuộc sống. Vì
vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhất là cán bộ,
công chức cấp xã là người DTTS là yếu tố trọng yếu trong công tác cán bộ
của Đảng và Nhà nước. Để có thể xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
là người DTTS có phẩm chất đạo đức, lập trường chính trị và trình độ, kỹ
năng đáp ứng yêu cầu thì hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là con đường tất yếu
và quan trọng nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc...
huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[13]. Thấm nhuần lời dạy của người,
trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt coi trọng và đã có nhiều
Chủ trương, Chính sách và Nghị quyết về công tác cán bộ, nhất là đối với cán bộ
trong hệ thống chính trị cấp xã. Cán bộ, công chức xã có vai trò quan trọng trong
hoạt động của cả hệ thống chính trị, trong vận động nhân dân thực hiện mọi chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Để có đội ngũ cán bộ,
công chức xã đủ năng lực thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, Đảng và Nhà nước ta cần coi
trọng và làm tốt các mặt công tác xây dựng và nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán
bộ, công chức xã. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã là một nhiệm vụ trong
công tác cán bộ cơ sở của các cấp uỷ đảng ở địa phương, nhằm tạo ra một đội ngũ
9


những người có đủ năng lực, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đảng và Nhà
nước, góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt trong việc nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và cải cách nền hành chính nhà nước. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khóa X xác định: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao tính chuyên nghiệp của bộ máy hành chính, của cán bộ, công
chức, đặc biệt là kỹ năng hành chính và áp dụng công nghệ thông tin và hoạt
động của cơ quan hành chính”[4, tr.12].

đất nước, vấn đề cán bộ trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả,
cụ thể như:
Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2011), Cơ sở lý luận thực tiễn xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tiếp tục đưa ra
nhiều luận cứ khoa học của việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành ở
nước ta. Qua đó, nhiều vấn đề được khẳng định: về vị trí, vai trò nhân tố quyết định
sự thành bại của cách mạng của cán bộ và công tác cán bộ; về yêu cầu đức - tài,
phẩm chất - năng lực của tiêu chuẩn cán bộ đặt trong trong quan hệ với nhiệm vụ
chính trị, với xu thế của thời đại; về trách nhiệm của các cấp chủ thể, nhất là cấp ủy
và người đứng đầu cấp ủy, hệ thống chính trị; về quan điểm, mục tiêu, phương
hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi
mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh đó, một số đề tài khoa học, luận văn, luận án gần đây mở rộng
được phạm vi hoặc đi sâu vào một số nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cụ thể: Đề
tài khoa học Trần Thị Hương “Vấn đề tạo nguồn cán bộ các xã vùng sâu, vùng xa
đặc biệt khó khăn - thực trạng và giải pháp” (Mã số KHBD (2009) - 51) đưa ra khái
niệm “Tạo nguồn cán bộ cơ sở cấp xã vùng cao, vùng xa đặc biệt khó khăn là quá
trình phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng những người công tác tại cơ sở xã,
thôn bản thuộc khu vực này, hoặc có thể là học sinh, sinh viên, để giúp họ có đủ các
điều kiện tiêu chuẩn của cán bộ cơ sở”. Khái niệm cho thấy: đối tượng tạo nguồn là
người đang công tác tại chỗ, hoặc học sinh, sinh viên; nội dung tạo nguồn là phát
hiện, quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng đối tượng; mục tiêu tạo nguồn là giúp đối
tượng có đủ điều kiện tiêu chuẩn của cán bộ cơ sở. Có thể đánh giá: với mục tiêu
nói trên, thì nội dung tạo nguồn mà tác giả đề cập chưa thể đáp ứng, bởi sau khi
phát hiện và quy hoạch, chỉ bằng công tác đào tạo, bồi dưỡng thì sẽ không đủ để
chuẩn hóa nguồn theo tiêu chuẩn cán bộ cơ sở.
11


b.

này theo chúng tôi là chưa phù hợp, bởi trong thực tế điều kiện phát triển của đồng
12


bào dân tộc thiểu số vùng miền núi chưa cho phép. Khi quan niệm phát triển nguồn
cán bộ dân tộc thiểu số là “phát triển những con người ở các dân tộc thiểu số, tạo
điều kiện thuận lợi để họ trở thành cán bộ” và “phát triển về năng lực và trình độ
công tác của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số”, là tác giả đã phân biệt 2 nhóm nguồn
khác nhau: người dân tộc thiểu số chưa là cán bộ và cán bộ người dân tộc thiểu số.
Điều này đồng nhất với nhiều tác giả trong quan niệm về nguồn cán bộ, và cho thấy
phát triển nguồn nằm trong nội hàm khái niệm tạo nguồn, nhưng chỉ là một khâu
của tạo nguồn. Ở mục đánh giá về công tác phát triển nguồn, tác giả đề cập đến 3
việc cụ thể: khôi phục và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú; thực
hiện chế độ cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp; đào tạo cán bộ
nguồn quy hoạch lãnh đạo, quản lý càng thể hiện rõ quan niệm phát triển nguồn
theo tác giả thực chất chỉ là nội dung đào tạo, bồi dưỡng nguồn. Tuy vậy, xét
trên khía cạnh này, thì đây là những gợi ý quan trọng để luận văn tiếp tục triển
khai nội dung đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã người
dân tộc thiểu số.
c.

Nhóm công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ, chức chức xã là

người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng
Tây Nguyên và các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên từ trước đến nay luôn hấp
dẫn, thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong nghiên cứu, khám phá những
giá trị về văn hóa, những đặc trưng về xã hội, những biến động về kinh tế, chính
trị... Nhất là từ sau những biến động chính trị do các thế lực thù địch kích động
đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chống phá chính quyền, phá hoại khối đoàn kết các
dân tộc năm 2001 và 2004, hàng loạt công trình khoa học được triển khai cụ thể như:

gia đình. Đặc trưng xã hội này là điểm cần chú ý để luận văn xác định những yếu tố
tác động (cả tích cực lẫn tiêu cực) đối với mỗi con người thuộc cộng đồng các dân
tộc thiểu số Tây Nguyên.
Luận án tiến sĩ "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ
các cấp ở Tây Nguyên hiện nay" (2000) của Nguyễn Mậu Dựng đề cập đến vai trò
của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trong đó có cán bộ dân tộc thiểu số ở
Tây Nguyên là việc làm thường xuyên và cấp bách, quyết định sự ổn định và phát
triển của hệ thống chính trị nơi đây.
14


Bài viết “Đặc điểm tâm lý, văn hóa các dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên
ảnh hưởng tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay” của Nguyễn
Hồng Sơn (trong Sách “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp” (2005) của
Lê Thị Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng (đồng chủ biên) cho rằng đặc điểm
tâm lý - văn hóa của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên là sự đan xen giữa yếu tố
tích cực lẫn tiêu cực, tiến bộ lẫn lạc hậu: giữa thụ động và phóng khoáng; giữa tư
duy trực quan và ý tưởng thẩm mỹ bay bổng; chịu thương chịu khó nhưng ít thích
làm giàu; tôn vinh trưởng thôn, già làng hơn thích làm quan; thích tự quản hơn lãnh
đạo; thích cái cộng đồng hơn cái tôi tự do; thích nghệ thuật hơn làm kinh tế. Bên
cạnh cái bao dung, thật thà, dũng cảm, cần mẫn, biết sống chấp nhận quá khứ, trọng
người già, phụ nữ, trọng đức, giản dị... thì trong quá trình biến đổi tâm lý - văn hóa,
trong một bộ phận cán bộ và nhân dân đã xuất hiện tính tự ti dân tộc, tính “tự trị”,
“bài Kinh”, nhẹ dạ cả tin, dễ bị lôi kéo, kích động thù hằn... Đây là những tổng kết
mang tính thực tế, thực tiễn sâu sắc, cần thiết cho đề tài khi bàn về đặc điểm nguồn
cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số và những vấn đề đặt ra trong quá trình lựa
chọn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng giáo dục nguồn cán bộ, công chức là
người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Thực trạng và giải pháp tạo nguồn cán bộ cấp
xã người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được nhiều tác giả bài báo khoa học, nhiều

trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tương đương với tỷ lệ dân tộc thiểu số trong
dân cư. Để làm được điều đó phải: Tăng cường kinh phí hàng năm để đào tạo cán
bộ, công chức là người dân tộc, đồng thời bổ sung, hỗ trợ thêm trong việc cử tuyển
đi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ. Tăng cường chỉ tiêu cử tuyển trên cơ sở
đề nghị có địa chỉ theo nhu cầu của địa phương. Ưu tiên bố trí và sử dụng hết số học
sinh, sinh viên người dân tộc sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và
trung học chuyên nghiệp về công tác lâu dài ở địa phương. Xây dựng, hoàn thiện
chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, có chính sách thu hút cán bộ, công chức
có trình độ, có năng lực hoạt động thực tiễn giảng dạy cho đội ngũ cán bộ, công
chức người dân tộc. Củng cố nâng cấp các trường dân tộc nội trú, các trung tâm
giáo dục thường xuyên.
16


Sách “Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay - Thực trạng và
giải pháp” của Nguyễn Đình Tấn và Trần Thị Bích Hằng (Nxb Chính trị quốc gia,
2010) đưa ra nhiều số liệu điều tra xã hội học đối với vùng có đông đồng bào dân
tộc thiểu số ở miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, miền Nam. Trong đó, tỷ lệ đồng
bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có nhận thức, thái độ và hành vi đối với chính
sách dân tộc là thấp nhất, chưa tích cực nhất so với vùng còn lại. Các kiến nghị của
tập thể tác giả như nâng cao tính tích cực trong nhận thức, thái độ, hành vi của đồng
bào dân tộc thiểu số ; phát huy vai trò của cộng đồng, người có uy tín; phối hợp
trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể v.v.. là gợi mở tích cực cho công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã trên từng địa bàn Tây Nguyên có các
công trình sau: Về Gia Lai, có bài viết “Gia Lai coi trọng đào tạo cán bộ nguồn là
người dân tộc thiểu số cho cơ sở” của Trần Ngọc Chi (Tạp chí Xây dựng Đảng điện
tử, 19 9-9-2007) phản ánh chủ trương đào tạo cán bộ nguồn cho cơ sở của Tỉnh ủy
qua việc tuyển chọn và mở các khóa dự nguồn hệ trung cấp lý luận chính trị cho học

trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” của Trần Thanh Long (bdt.daknong.gov.vn ngày 1511-2012) phản ánh kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ vùng dân tộc theo phương
châm “chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách
“trọng dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm với dân”. Chú trọng phát huy vai trò
người có uy tín trong đồng bào để xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở. Trong đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngoài kiến thức lý luận
chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cần có thêm kiến thức về phong tục, tập quán,
ngôn ngữ, tâm lý dân tộc. Nhà nước cần có chính sách đào tạo cán bộ dân tộc thiểu
số thông qua các trường phổ thông dân tộc nội trú của huyện và tỉnh. Ưu tiên cho cơ
sở chỉ tiêu thu nhận sinh viên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo cao đẳng, đại học.
Về Kon Tum, có bài “Đảng bộ huyện Kon Plong đào tạo cán bộ dự nguồn
cơ sở” của Huỳnh Trung Kim (Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử, 1-9-2006) phản ánh
một mô hình mới, một cách làm hay: các cơ quan, đơn vị của Huyện tiết kiệm chi
ngân sách thường xuyên để nhận đỡ đầu, nuôi dưỡng con em dân tộc thiểu số ở các
xã có trình độ học vấn từ lớp 8/12 trở lên và số cán bộ đương chức còn trẻ, có trình
18


độ học vấn lớp 9 trở lên, trong quy hoạch cán bộ dự nguồn của xã để đào tạo theo
hình thức vừa học văn hóa, vừa học lý luận chính trị vừa tập việc. Sau đào tạo, các
đối tượng được ưu tiên bố trí công tác, nhanh chóng góp phần đảm bảo số lượng và
chất lượng cán bộ cho cơ sở. Bài “Công tác đào tạo, bồi dưỡng tạo nguồn cán bộ cơ
sở tỉnh Kon Tum - Thực trạng và giải pháp” (Tham luận của Sở Nội vụ Kon Tum
tại Hội thảo “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên” ngày 10-11-2009 do Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum tổ chức) đề
xuất: bên cạnh việc đẩy mạnh dạy bổ túc văn hóa tại chỗ, cần tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng với các hình thức phù hợp với điều kiện công tác của cán bộ cơ sở như: đào
tạo tại chức tại địa phương, kết hợp với dạy bổ túc văn hóa và lý luận chính trị để
rút ngắn thời gian đào tạo và giảm chi phí; đào tạo, bồi dưỡng phải gắn liền với qui
hoạch, tạo nguồn cán bộ; chú ý chọn các em tốt nghiệp phổ thông các trường dân
tộc nội trú để đưa vào qui hoạch, tạo nguồn tại chỗ, đồng thời phải thực hiện tốt

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột nhằm
chỉ ra các kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đề xuất
một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng và tỉnh Đắk
Lắk nói chung.
3.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
-

Làm rõ các khái niệm chủ chốt liên quan đến vấn đề thực hiện chính

sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số.
-

Làm rõ thực trạng quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột trên các
khía cạnh như: Số lượng, chất lượng, nhu cầu, mục tiêu, xác định đối tượng, xây
dựng chương trình, lựa chọn phương pháp, xây dựng kinh phí và kết quả đào tạo,
bồi dưỡng. Qua đó, đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
thông qua kết quả đạt được qua quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn.
-

Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã.
5.2.

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, kế thừa tài liệu và thư tịch sẵn có. Tác
giả thu thập tài liệu dựa trên những tài liệu đã được xuất bản chính thức, những đề
tài nghiên cứu có liên quan. Số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết của Thành ủy,
UBND thành phố Buôn Ma Thuột về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã trên địa bàn thành phố.
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Tác giả sử dụng phương pháp định tính,

xây dựng bảng hỏi phỏng vấn sâu kết hợp với phương pháp quan sát để thu thập
thông tin từ đối tượng nghiên cứu. Tác gỉa tiến hành phỏng vấn sâu đối với 25 cán
bộ và 19 công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột.
21


- Phương pháp chuyên gia hỏi ý kiến các nhà quản lý, các chuyên gia.
6.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận


cấp xã
Chƣơng 2: Thực trạng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp
22


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1.
1.1.1.

Cơ sở lý luận
Khái niệm chính trị, hệ thống chính trị

Khái niệm chính trị:
Thuật ngữ chính trị có nguồn gốc từ một danh từ tiếng Hy Lạp là Polis, một
trong những khái niệm cho đến nay vẫn chưa được xác định thống nhất, thậm chí
còn gây tranh luận gay gắt. Từ khi xuất hiện cho đến nay, bản thân đời sống chính
trị cũng đã tiến hóa cùng với sự phát triển của đời sống xã hội.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chính trị, khái quát các khái niệm chúng
ta có thể định nghĩa chính trị như sau: Chính trị là hoạt động của các nhóm xã hội
và của cá nhân nhằm nhận thức và thể hiện lợi ích tập thể mâu thuẫn của mình,
nhằm hoạch định những quyết định bắt buộc đối với toàn thể xã hội, được thực hiện
nhờ quyền lực nhà nước [47, tr.22].
Chính trị không phải luôn tồn tại. Sự xuất hiện của nó phản ánh quá trình
phức tạp hóa đời sống xã hội được chế định bởi sự phát triển thường xuyên các
năng lực của con người và phân công lao động xã hội [47, tr.23]. Phạm vi và nội
dung của chính trị đã biến đổi về căn bản trong quá trình tiến hóa của xã hội loài

động, thể hiện ở khả năng thực hiện lợi ích căn bản của những người lao động được
thực hiện bằng quyền lực Nhà nước, bằng hoạt động, bằng quyền làm chủ trực tiếp
hoặc gián tiếp của quần chúng thông qua sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cấu trúc thực hiện quyền lực chính trị ở nước ta trên hai mặt: nội dung và
thực thể.
Về mặt nội dung: cơ chế tạo thành từ ba khâu: Cương lĩnh, đường lối... thể
hiện mục tiêu chính trị của giai cấp cầm quyền; Hệ thống Hiến pháp, pháp luật... với
tư cách là sự thể chế hóa mục tiêu chính trị thành chế tài mang tính pháp lý; Hệ
thống tổ chức thực hiện các quy định pháp lý, làm cho mục tiêu chính trị được hiện
hóa trong đời sống xã hội.
Về mặt thực thể: có ba loại tổ chức tương ứng đó là Chính Đảng của giai cấp
cầm quyền; Cơ quan lập pháp do dân bầu cử ủy quyền; Cơ quan hành pháp, tư pháp
24


và các tổ chức chính trị- xã hội trong hệ thống chính trị; Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ
Khái niệm hệ thống chính trị:
Khái niệm hệ thống chính trị có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng về cơ
bản có thể tiếp cận theo ba cách:
Tiếp cận từ góc độ tổ chức và chức năng: Hệ thống chính trị là một hệ thống
các cơ quan, tổ chức thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội. Từ
góc độ này, hệ thống chính trị được hiểu là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội
hợp pháp, các đảng chính trị hợp pháp và nhà nước của giai cấp cầm quyền cùng
với các mối quan hệ qua lại giữa các thiết chế đó, tác động vào các quá trình kinh tế
- xã hội nhằm bảo vệ, duy trì, phát triển xã hội, đảm bảo quyền lực và lợi ích
của giai cấp cầm quyền [46].
Tiếp cận từ góc độ bản chất và tính chỉnh thể: Hệ thống chính trị là hệ thống
thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền, không chỉ gồm các khâu, các
bộ phận hợp thành về mặt tổ chức mà còn bao gồm cả mục tiêu và điều kiện bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status