BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Kim Nga
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN,
TIỂU THUYẾT BÙI NGỌC TẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Kim Nga
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN,
TIỂU THUYẾT BÙI NGỌC TẤN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số:
60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 7
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 8
7. Kết cấu của luận văn ...................................................................................................... 8
CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT BÙI NGỌC TẤN – TỪ QUAN
ĐIỂM SÁNG TÁC ĐẾN ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT ......................................... 10
1.1. Bùi Ngọc Tấn – từ cuộc đời đến cảm hứng nghệ thuật .......................................... 10
1.1.1. Đôi nét về cuộc đời ............................................................................................... 10
1.1.2. Tổng quan về văn nghiệp ...................................................................................... 11
1.1.3. Cảm hứng nghệ thuật ............................................................................................ 26
1.2. Truyện ngắn, tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn – nhìn từ hình thức nghệ thuật ............. 28
1.2.1. Quan niệm về hình thức nghệ thuật trong sáng tác văn học và sự chi phối của
quan điểm sáng tác đối với hình thức nghệ thuật ............................................................ 29
1.2.2. Nhìn chung về sự chi phối của quan điểm sáng tác tới hình thức nghệ thuật trong
truyện ngắn, tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn ........................................................................... 30
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT
BÙI NGỌC TẤN – NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC VÀ KĨ THUẬT TỰ SỰ ......... 38
2.1. Cốt truyện và tình huống truyện đặc sắc................................................................. 38
2.1.1. Dựng truyện “phi cốt truyện”, với nhiều đột biến bất ngờ.................................... 38
2.1.2. Tình huống tâm trạng, bộc lộ bi kịch .................................................................... 45
2.2. Kết cấu đơn giản mà hiện đại ................................................................................... 49
2.2.1. Kết cấu đơn tuyến chiếm ưu thế so với đa tuyến .................................................. 50
2.2.2. Kết cấu dòng ý thức đan xen kĩ thuật “lồng ghép” truyện .................................... 55
2.3. Khắc họa nhân vật – những số phận bi kịch ........................................................... 58
2.3.1. Khắc họa ngoại hình con người bé nhỏ, cô đơn .................................................... 58
2.3.2. Miêu tả hành vi kì dị, vô nghĩa lý, lời nói đậm chất hiện sinh .............................. 61
2.3.3. Bộc lộ tâm lý hoang mang, dằn vặt ....................................................................... 66
2
học đương đại phong phú và đa dạng được hình thành. Sự xuất hiện của hàng loạt thế hệ nhà
văn mới, mỗi người mang một dáng vẻ, một giọng điệu góp phần to lớn vào công cuộc hiện
đại hóa văn học nước nhà. Đó là những Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,
Nguyễn Ngọc Tư,…
Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc nghiên cứu, phê bình chỉ chủ yếu đi sâu khai thác
những tác giả nổi bật trên, mà thiếu một cái nhìn toàn diện, bao quát vào những đóng góp
của nhiều nhà văn khác. Bởi bên cạnh những nhà văn tiêu biểu, có ảnh hưởng lớn trên văn
đàn, thì vẫn còn rất nhiều nhà văn có những đóng góp không nhỏ vào việc hiện đại hóa ngôn
ngữ văn học giai đoạn mới. Vì vậy, thiết nghĩ việc cần có những công trình nghiên cứu một
cách khoa học, nghiêm túc về những nhà văn này, để đem lại một cái nhìn toàn diện, sâu sắc
hơn về sự đóng góp của mỗi nhà văn là điều rất cần thiết.
Trong số những nhà văn ít được nhắc đến trên, có một tác giả với giọng văn rất lạ –
tôi muốn nhắc đến Bùi Ngọc Tấn. Cái tên Bùi Ngọc Tấn xuất hiện nổi bật trên văn đàn vào
năm 1991, với hồi ký Một thời để mất, sau đó là tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000. Là một
nhà văn có cuộc đời và văn nghiệp nhiều những thăng trầm, dường như phận người và phận
văn gắn liền với nhau. Có những sáng tác, khi ra đời, được đón nhận nồng nhiệt. Nhưng
cũng có những tác phẩm buộc phải lùi về quá khứ. Những sáng tác của Bùi Ngọc Tấn chưa
được quan tâm và tới tay độc giả một cách dễ dàng. Với một giọng văn thâm trầm, trải đời,
Bùi Ngọc Tấn đã có những đóng góp mới cho tiến trình văn học giai đoạn sau.
Tuy nhiên với một nhà văn có “phận người” và “phận văn” đầy đắng cay, những công
trình nghiên cứu nghiêm túc về những tác phẩm của ông còn rất hạn chế, dường như người
ta né tránh khi nói đến cái tên Bùi Ngọc Tấn. Những bài viết về ông chủ yếu là những bài
báo, những bài bình riêng lẻ của một số nhà văn, nhà phê bình, độc giả. Và những bài viết
này, thường chỉ khái quát về nội dung, chủ đề tư tưởng trong tác phẩm của ông, chưa đề cập
4
nhiều đến hình thức nghệ thuật, một yếu tố quan trọng tạo nên chỉnh thể tác phẩm. Thiết
nghĩ với một nhà văn có nhiều đóng góp như Bùi Ngọc Tấn, nên có những công trình
nghiên cứu nghiêm túc về văn nghiệp của nhà văn, để thấy rõ được những sáng tạo của ông
trải qua thời kỳ xuyên sa mạc. Sau những Thời Xa Vắng, những Nỗi Buồn Chiến Tranh,
những Bến Không Chồng,… của thời kỳ đổi mới, văn học trong nước chuyển sang thời kỳ
hậu đổi mới, nhiều người nói đến sự tuyệt chủng của tiểu thuyết, nhưng dường như với bình
minh 2000, người đọc đang có quyền hy vọng. Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn xuất
hiện như sự trở mình của thần long ngủ quên trong lòng biển. Ðây không phải là một cuốn
tiểu thuyết bình thường mà là một tác phẩm có tầm vóc lớn” [22].
Vào tháng 1 – 2005, trên tạp chí “Xưa và Nay” số tết năm ất Dậu của hội Khoa Học
Lịch Sử Việt Nam, nhà văn Nguyên Ngọc đã có những nhận định về giọng điệu tiểu thuyết
Chuyện kể năm 2000: “Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn đi vào một “vùng cấm”:
Chuyện một người bị tù oan ức, chẳng vì cái gì cả, hoặc đúng hơn, vì những xung đột mờ
ám ở tận đâu đâu, chẳng dính dáng gì đến anh ta, một con người quá ư thật thà, trong
trắng, ngây thơ giữa một môi trường xã hội quá nhiều ám muội. Truyện được viết theo một
giọng văn “cổ điển”, không cố tình có những tìm tòi mới về phong cách, nhưng vẫn hấp dẫn
và đầy tính thuyết phục… Bùi Ngọc Tấn đã đi xa hơn được rất nhiều việc mô tả một tấn bi
kịch cá nhân, thậm chí một bi kịch của chế độ – điều mà một số cuốn sách viết về nhà tù
thường rất tập trung – để nói đến một tình thế phi lý của cuộc sống, và vô hình chung, cuốn
sách trở thành như một thiên anh hùng ca, khiêm nhường mà cảm động về con người, con
người có thể đi qua được tất cả những gì xấu xa đen tối nhất, đi qua tất cả bùn lầy, giữ
vững chất người của mình chống lại tất cả thế lực đen tối nhất muốn trừ tiệt chất người ở
con người” [34].
Châu Diên trong bài viết “Những con chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn” trên “Báo Lao
động cuối tuần” (tháng 12, 2009) đã nhìn Biển và chim bói cá dưới hai góc độ, như “một
phóng sự dài” và như “một tiểu thuyết”. Ông nhìn nhận tác phẩm được viết bởi một bàn tay
viết báo kì tài, với văn phong báo chí điêu luyện, trên cơ sở đó đi ngược lại vấn đề, ông
khẳng định đóng góp lớn của tác phẩm trên thể loại tiểu thuyết.
Nguyễn Tiến Văn, trong bài viết “Kể Chuyện Cho Năm 2000” (đăng trên “Văn hóa
nghệ thuật”), nhận xét về văn phong của Bùi Ngọc Tấn: “Cách hành văn như thế là đã có
đổi mới. Sự đổi mới này chủ yếu nằm ở cấu trúc câu văn không phải thuần lý, cũng không bị
ép vào trong một khuôn ngữ pháp để cho mỗi câu văn là một đơn vị hoàn chỉnh, phân tích
6
7
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát các tác phẩm truyện ngắn, tiểu
thuyết đã được xuất bản.
- Các tập truyện ngắn: “Người chăn kiến”, “Người ở cực bên kia” (Nxb Văn Nghệ,
2006).
- Hai tiểu thuyết tiêu biểu: Chuyện kể năm 2000 (Nxb Thanh Niên, 2000) và Biển và
chim bói cá (Nxb Hội Nhà Văn, 2008).
6. Phương pháp nghiên cứu
Người viết có ý sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so
sánh, phương pháp loại hình.
Phương pháp lịch sử được vận dụng trong việc đặt tác phẩm trong bối cảnh thời đại,
và những chuyển biến thời cuộc ảnh hưởng trong tác phẩm. Trong việc liên hệ hoàn cảnh
lịch sử tác động đến con người và tư tưởng nhà văn.
Phương pháp hệ thống được sử dụng trong việc tổng hợp các hình ảnh, chi tiết về nội
dung và nghệ thuật từ các truyện ngắn và tiểu thuyết.
Phương pháp so sánh được dùng để làm rõ sự khác biệt giữa sáng tác của tác giả với
những sáng tác của các nhà văn cùng thời.
Phương pháp loại hình được dùng để làm rõ những đặc trưng về thể loại truyện ngắn,
tiểu thuyết.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được triển khai
theo ba chương:
Chương 1: Truyện ngắn, tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn – từ quan điểm sáng tác đến
đặc điểm nghệ thuật
Tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa quan điểm sáng tác, nội dung tư tưởng và hình
khu Việt Bắc. Suốt thời gian học trung học, ông đều đứng đầu lớp, và được học bổng toàn
phần. Năm 1954, ông vào đội Thanh niên xung phong tiếp quản Thủ Đô. Cuối năm 1954,
kết thúc đợt tiếp quản, ông từ chối đi học kỹ thuật ở nước ngoài, về làm phóng viên báo
Tiền Phong (Trung Ương Đoàn Thanh Niên Lao Động Việt Nam) và bắt đầu cuộc đời viết
văn chuyên nghiệp. Cuối năm 1959, ông chuyển về báo Hải Phòng. Trở về thành phố quê
hương, thâm nhập vào đời sống thực tế, mong viết được những tác phẩm để đời.
Đang trong những tháng ngày đầy nhiệt huyết, sức viết “khỏe” nhất thì vào tháng 11
năm 1968 ông bị cáo buộc tội “Tuyên truyền phản cách mạng” và bị đưa đi tập trung cải tạo
cho đến tháng 4 năm 1973. Năm năm ròng rã, khi rời khỏi chốn lao tù, tưởng chừng như
những ngày tháng đau khổ nhất đã khép lại. Nhưng cuộc đời thật trớ trêu, ông và gia đình
lại tiếp tục vật lộn với những chông gai tiếp theo. Quay về với con số không, với hai bàn tay
trắng, thật khó để ông có thể tìm được chỗ đứng như xưa. Hai năm trời thất nghiệp, ông đã
phải lăn lộn rất nhiều nghề như bốc vác, thợ sắt, đi buôn, kéo xe bò, và có lúc phải viết chui
(với một bút danh khác) để kiếm sống. Đến tháng 5 năm 1975, nhờ sự giúp đỡ của ông
Hoàng Hữu Nhân, tổng cục trưởng Tổng cục Thủy Sản, nguyên bí thư thành Uỷ Đảng Cộng
10
Sản Việt Nam thành phố Hải Phòng, ông được làm nhân viên văn phòng Quốc Doanh đánh
cá Hạ Long và nghỉ hưu từ tháng 5 năm 1995 cho tới nay.
Cuộc sống với đầy những vất vả, lo toan, sống và đi lên từ những cơ cực dường như
điều đó càng làm ông thấm thía nhiều hơn, hiểu sâu hơn về cuộc đời, chính những trải
nghiệm cho ông sự trưởng thành. Và những trăn trở ấy đã đi vào những trang văn Bùi Ngọc
Tấn một cách tự nhiên như chính cuộc đời ông vậy.
1.1.2. Tổng quan về văn nghiệp
Bùi Ngọc Tấn sáng tác trên nhiều thể loại, truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký, phóng sự,
các tác phẩm đăng trên báo, trong những năm tháng ông làm phóng viên báo Tiền Phong –
Hải Phòng. Ông cho ra đời một số lượng tác phẩm tương đối lớn, nhưng những tác phẩm
được công khai và đến tay bạn đọc thì không nhiều. Nhưng đó là những tác phẩm thật sự có
và chọn thể văn xuôi để phơi bày cảm xúc. Bởi dòng máu văn chương là một phần không
thể thiếu trong ông, và ông tâm niệm: “Với tôi chỉ có văn xuôi mới nói hết được những gì
tôi lưu luyến với cuộc đời này. Ngay cả thơ cũng là bất lực”.
Ngoài hai mươi ông đã có những tác phẩm hay, được nhận một số giải thưởng. Đang
ấp ủ những tác phẩm “dài hơi chuẩn bị trình làng” thì ông bị lâm vào lao lý. Năm năm, trở
về với cuộc đời, ông quên mất mình là một nhà văn, hay mọi người không ai còn nhớ đến
ông với tư cách là một người cầm bút. Hai mươi năm im lặng, hai mươi năm cố giấu niềm
đam mê, cố giấu con người nghệ sĩ luôn hằng hữu trong ông để vật lộn với cuộc sống đầy
vất vả. Và dường như không thể sống với con người thứ hai, không thể che giấu tình yêu
với văn chương. Hơn hết là từ sau những sóng gió trong cuộc đời, ông nghĩ mình cần phải
“lưu giữ” lại kí ức, suy ngẫm về những ngày tháng đã qua. Sống cạn một kiếp người để rồi
viết về nó. Nghề viết văn như có một ma lực. Ai đã trót bước chân vào thì không thể buông
ra. Ông cũng vậy, ông đã trót dính vào thứ ma lực đặc biệt. Không thể chạy trốn, không thể
che giấu con người thật, không thể trốn tránh hai chữ nghiệp văn đã thuộc về “số phận” của
ông. Và ông đã cầm bút trở lại. Không những thế ông còn viết nhiều hơn, hay hơn, và sâu
sắc hơn. Những người làm văn chương đích thực chỉ có thể là những ai biết vượt qua những
buồn bực mang tính cá nhân để có cái nhìn cao hơn, xa hơn, khái quát hơn,“biết quyện nỗi
đau của mình vào những trăn trở chung của đồng loại, của dân tộc với một thái độ lịch
lãm” [53,56].
Đất nước đang bước sang những ngày thay da đổi thịt, Đại hội Đảng năm 1986, Đại
hội của đổi mới, bước đầu đã có những thay đổi nếp suy nghĩ về nghệ thuật, cũng góp một
12
phần thôi thúc nhà văn cầm bút trở lại. Bùi Ngọc Tấn về với thế giới văn chương với một
vài truyện ngắn, hồi ký in lẻ tẻ trên các báo và tạp chí. Năm 1991, với tập hồi ký Một thời
để mất, tập sách đầu tiên ra đời sau 27 năm im lặng, đã chính thức đánh dấu sự trở lại của
nhà văn trên con đường nghệ thuật.
Với sức viết “rất khỏe”, như muốn dồn hết tâm lực để lưu lại “kí ức dân tộc”. Chỉ
trong vòng một thời gian ngắn ông cho ra đời liên tiếp những đứa con tinh thần mang nhiều
Giải B văn xuôi (không có giải A): Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2004 cho tập
ký chân dung Rừng xưa xanh lá.
Sáng tác trên nhiều thể loại, nhưng truyện ngắn, và tiểu thuyết vẫn là hai thể loại tiêu
biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông. Như trên đã trình bày, đề tài của luận văn là đi
sâu tìm hiểu về nghệ thuật truyện ngắn, tiểu thuyết của nhà văn, không khảo sát ở những thể
tài khác. Vì vậy, phần tiếp theo, người viết sẽ đi vào phân tích một số vấn đề về đặc trưng
thể loại, quá trình phát triển, vị trí truyện ngắn và tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của
Bùi Ngọc Tấn.
Đặc trưng thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết:
“Truyện ngắn là một thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi,
đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội. Nét nổi bật của truyện
ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc tiếp nhận (độc
giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ” [3, 345].
Truyện ngắn ra đời và phát triển trong tư duy hiện đại. Tác giả sao chụp, cắt ghép hiện
thực đời sống vào trang viết. Không giống như các thể tài khác, nhất là tiểu thuyết, xem xét
hiện thực dưới cái nhìn tổng quát, của một giai đoạn, một quá trình. Truyện ngắn với dung
lượng có hạn, chỉ vài nghìn chữ, trong vài trang giấy, truyện ngắn không đi về bề rộng mà
khai thác ở chiều sâu. Khám phá những lát cắt từ hiện thực, một khoảnh khắc của đời người.
Nếu tiểu thuyết là một cây cổ thụ lớn, sum suê, um tùm, thì truyện ngắn chỉ là một cành cây,
một lát cắt từ thân cây. Nhưng lát cắt đó phải là điểm đặc trưng cho toàn bộ cây. “Truyện
ngắn với những đặc điểm thể tài riêng biệt chỉ thực sự phát triển ở các nền văn học hiện
đại, gắn với sự xuất hiện và phát triển của báo chí. Với tư cách là một thể tài tự sự, truyện
ngắn hiện đại cũng như truyện vừa, truyện dài hiện đại ít nhiều mang những đặc trưng của
tư duy tiểu thuyết (sự tiếp cận các thực tại đương thành, vai trò của hư cấu tự do, của kinh
14
nghiệm sống trực tiếp của tác giả…). Tuy vậy, khác với truyện vừa và truyện dài – vốn là
những thể tài mà quy mô cho phép chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự toàn vẹn, đầy đặn
của nó, truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong
những kinh nghiệm dày dặn về cuộc sống, nhưng nhà văn không nhận thức được giá trị của
hiện thực, thì khó có thể tạo nên được một tác phẩm tiểu thuyết hay.
Tiểu thuyết là thể tài văn chương duy nhất luôn biến đổi theo đời sống xã hội, do đó
nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn, sự biến chuyển của bản thân hiện thực.
Tiểu thuyết chiếm vị trí quan trọng trong nền văn học hiện đại, được xem là “chiếc máy cái”
[5]. Từ những tác phẩm đầu tay của Tự lực văn đoàn, cùng với những nhà văn hiện thực giai
đoạn 1930-1945 tiểu thuyết dần khẳng định vị trí của mình. Từ những định hướng đầu tiên,
tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1945, với những bước đi tiếp theo, dần có những điều chỉnh
phù hợp, trở thành một vũ khí đắc dụng.
Tiểu thuyết có những đặc trưng riêng về cốt truyện, nhân vật. Tiểu thuyết nhìn cuộc
sống dưới góc độ đời tư. Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống như “một thực tại cùng thời đang
sinh thành tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời,
bao gồm cái cao cả lẫn tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái
nhỏ” [27, 391]. Tiểu thuyết là thể loại có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ
thuật của các loại văn học khác. Nó là một thể loại tự sự dân chủ, năng động và giàu khả
năng phản ánh đời sống từ nhiều mặt.
Quá trình phát triển truyện ngắn, tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn:
Quá trình sáng tác truyện ngắn, tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn được chia làm hai chặng
đường:
Từ 1954 đến năm 1968: Một chặng đường với những tác phẩm đầu tay, ông đã viết
một cách tự nhiên, chân thành, hào hứng, nhiệt tình và say mê nhất. Nhà văn đã dùng cái sôi
nổi của một thời tuổi trẻ để sáng tạo nghệ thuật. Cảm hứng chủ đạo của giai đoạn này là
những truyện ngắn, tiểu thuyết thiên về cảm hứng ngợi ca, ngợi ca cuộc sống, ngợi ca đất
nước, con người.
Từ 1990 cho đến nay: Sau một thời gian dài vắng bóng trên văn đàn, ông dồn hết
tâm lực, viết những trang sách cuối cùng của cuộc đời. Những trang bản thảo được ông ấp
ủ, hình thành trong gần hai phần ba cuộc đời. Những dòng chữ thai nghén từ chính cuộc đời,
từ những trải nghiệm qua năm tháng mà ông đã “nếm mật nằm gai”. Hàng loạt tác phẩm ra
16
17
mặt, chỉ vỏn vẹn trong vòng một năm, với hơn năm trăm trang giấy. Một tiểu thuyết được
viết công phu, dồn nén hết tất cả những thông điệp nghệ thuật mà ông muốn gửi gắm đến
cuộc đời, con người. Nhưng mọi việc không như mong muốn, tác phẩm chỉ vừa in ấn, chưa
kịp phát hành tới tay độc giả thì đã có lệnh cấm, phải đem đi tiêu hủy.
Hụt hẫng với đứa con tinh thần đầy tâm huyết, nhưng không vì thế mà ông nản lòng.
Kí ức và những trải nghiệm xương máu vẫn nung nấu, ấp ủ và luôn thôi thúc ông cầm bút.
Ông từng nói “nó như một khối u, nếu không được chạm đến sẽ gây ung thư mất…”.
Chuyện kể năm 2000 là cuốn tiểu thuyết viết về cuộc đời của anh tù không án Nguyễn Văn
Tuấn, thấp thoáng dáng dấp của nhà văn những năm bị bắt đi cải tạo. Ông viết về nhân vật
“hắn” mang số hiệu CR880 như muốn chia sẻ, muốn gửi gắm nỗi lòng, những đớn đau mà
nhân vật đã trải qua. Còn Biển và chim bói cá, một tiểu thuyết “ngồn ngộn” những chi tiết,
hàng nghìn sự kiện xoay quanh khoảng hai mươi nhân vật của một liên hiệp đánh cá đang
trong thời kì tan rã. Tác phẩm là những xâu chuỗi trong hai mươi năm làm nhân viên đánh
cá của tác giả ở Liên hiệp đánh cá Hạ Long. Khi được hỏi về “Bối cảnh và tâm trạng khi
viết Biển và chim bói cá”, nhà văn bùi ngùi: “Tôi đã làm một nhân viên ở một xí nghiệp
đánh cá quốc doanh hai mươi năm. Là một thành viên, một tế bào của cái cơ thể phập
phồng hơi thở có một đối tượng lao động là biển cả này, tôi vui niềm vui của những ngày
biển lặng gió êm, những chuyến biển tàu về đầy ắp cá; tôi lo lắng cho những người bạn của
tôi đang chịu gió mùa, tránh bão, tôi chia sẻ nỗi buồn với những thủy thủ khi những chuyến
biển bị gẫy… Và tôi hiểu những khó khăn của thời ấy về phụ tùng thay thế, về dầu đốt, về
thiếu am mô ni ác chạy máy lạnh, về mỗi khi Sở “điên nặng” cúp điện… Tôi cũng đã nhiều
lần đi biển. Reo hò khi đụt cá căng phồng ào ào trút nước xuống boong, lo lắng nhìn đụt lép
kẹp vừa lôi lên sàn dốc. Chọn tôm, nhặt cá, luộc tôm tít ăn khuya cùng các thuyền viên. Tôi
yêu họ, tôi yêu biển”. Ông luôn trăn trở rằng mình “mắc nợ biển” “mắc nợ” những con
người đã từng làm việc trên biển, từng đồng cam cộng khổ cùng ông.
Ông vốn là một nhân viên thi đua làm trên bờ, nhưng ông vẫn tận dụng mọi cơ hội đi
biển và chăm chỉ ghi chép. Khi viết Biển và chim bói cá, ông “cố diễn đạt được cuộc
Tấn:
Bùi Ngọc Tấn chính thức trở lại với nghiệp viết vào năm 1991, trình làng cuốn hồi
ký Một thời để mất. Cuốn hồi ký ghi lại chân thực những hồi ức về nhà văn Nguyên Hồng.
Tác phẩm viết về những câu chuyện có thật, nhưng không đi vào kể lể, mà với cách viết hết
sức tự nhiên, thủ thỉ, tâm tình. Như chính ông đang viết về những gì là máu thịt nơi ông.
19
Ông viết về Nguyên Hồng với những câu chuyện bình dị, đời thường, những chuyện thật
hơn cả sự thật. Với Một thời để mất, Bùi Ngọc Tấn đã cho người đọc hiểu thêm về nhà văn
Bỉ Vỏ ở một khía cạnh đời thường, mộc mạc, bình dị. Ông từng băn khoăn, “sao người ta
viết hồi ký, lại thường viết về những nhân vật nổi tiếng, những câu chuyện hay, lý tưởng,
đầy chất thơ”. Ít ai đề cập đến những con người bình thường, những khía cạnh thấp hèn nơi
con người. Bùi Ngọc Tấn lại hoàn toàn khác, với ông, ông chỉ muốn viết chân thực nhất, chỉ
có thể cầm bút “chụp” lại những hồi ức về những người bạn, những kỉ niệm mà đối với ông
nó lớn lao hơn tất cả. Những mẩu chuyện đời thường, những điều tưởng chừng như đơn
giản nhất, dễ làm cho ta quên, không thể lưu giữ, thì với ông nó lại là cả một “mảnh hồn trái
tim”, không thể cắt bỏ. Ông viết về Nguyên Hồng, không phải ở khía cạnh một nhà văn lớn
của Việt Nam, một tác giả Bỉ Vỏ tên tuổi thời ấy. Mà viết về một Nguyên Hồng, người con
của đất Hải Phòng quê ông, Nguyên Hồng của những khó khăn, Nguyên Hồng của những
góc khuất, Nguyên Hồng của cái bình dị, đời thường nhất, và hơn hết là Nguyên Hồng –
một con người cũng phải sống cuộc đời “bình thường”, cũng phải trải qua bao khó khăn đến
cùng kiệt như bao người.
Cùng với Một thời để mất, hồi ký Rừng xưa xanh lá, nhận giải thưởng của Hội Nhà
văn Việt Nam năm 2004, cũng là một tác phẩm làm cho người đọc sống dậy những kí ức
của một thời đã qua. Để cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu hơn về cha ông, về một thời đã từng
sống và viết như thế. Là những hồi ức xoay quanh những người bạn của ông. Những người
đã từng lớn lên, từng học tập, từng viết và từng trải qua những ngày tháng khó khăn nhất
trong cuộc đời ông. Họ là một phần xương máu trong ông, ông không thể sống mà không có
những kí ức, về một thời gian khổ nhưng đầy ắp tình người. Về những người bạn âm thầm
hiện đại ngày càng bận rộn, con người có quá nhiều thứ phải lo lắng. Đến với văn học nghệ
thuật, họ thường có xu hướng muốn tìm đến với những cái ngắn gọn, cô đọng, dễ đọc, dễ
nhớ. Nhà văn rất khâm phục những nhà viết truyện ngắn thành công như ShêKhôp của văn
học Nga, và nhà văn Nam Cao của văn học nước nhà. Ông cho rằng viết được truyện ngắn
là một tài năng thiên bẩm. Về bản thân mình, nhà văn khiêm tốn nói: “Trời chỉ cho tôi
chừng đó truyên ngắn thôi, mười bốn truyện chọn lọc in trong tập “Người chăn kiến”, có
muốn viết nữa cũng không thể. Ông tâm niệm, viết được một tác phẩm truyện ngắn, không
phải là một phút xuất thần ngẫu nhiên, viết một cách lan man, không định hướng. Với ông,
viết truyện ngắn là cả một sự thai nghén, một cảm xúc chín mùi, lên đến đỉnh điểm, cần phải
được viết ra, cần phải được chạm đến. Nhiều truyện ngắn ông sáng tác chỉ vỏn vẹn trong
một ngày, nhưng một ngày chỉ là thời gian cho những câu chữ “hiện hình” trên mặt giấy,
còn cảm xúc là cả một khoảng thời gian dài nung nấu, “thai nghén”. Ta thử lấy ví dụ, truyện
“Một cuộc thi hoa hậu”(10.1995), được tác giả viết chỉ hai ngày, nhưng đó là tất cả dồn
21
nén từ một hình ảnh đáng yêu của những đứa trẻ thơ trong xóm mà ông đã từng chứng kiến.
“Người chăn kiến” được nhà văn viết trong vòng một ngày (23.06.1993) (Tác giả cung
cấp).
Khác với truyện ngắn, một viên kim cương chói lóa, càng nhìn càng sáng, dễ ghi
nhớ, dễ đi sâu vào lòng người. Tiểu thuyết là một lâu đài nguy nga, tráng lệ. Để vác từng
viên gạch xây dựng nên nó, đó là một công việc cần mẫn, cần có thời gian của cả một đời
người. Và để cho người xem ngắm nhìn tòa lâu đài tráng lệ một cách thích thú, hài lòng,
ngưỡng mộ thì đó quả là một công việc gian lao nhất. Có nhà văn cần mẫn cả một cuộc đời
chỉ có thể chắt lọc được một cuốn tiểu thuyết. Và Bùi Ngọc Tấn là nhà văn như thế, cả một
đời người, ròng rã xấp xỉ tám mươi năm, nhà văn chỉ có thể gửi trọn nó vào hai cuốn tiểu
thuyết cuộc đời, Biển và chim bói cá và Chuyện kể năm 2000. Để người đọc gồng mình lên
đọc gần một nghìn trang sách, không phải là một chuyện dễ dàng. Người ta có thể lướt
nhanh một truyện ngắn với dung lượng chỉ hai ba trang, dừng lại và chiêm nghiệm. Nhưng
để cầm một cuốn sách năm sáu trăm trang và trải lòng với nó, bị nó thu phục hoàn toàn thì
ngắn theo dòng hồi ức, nhân vật là những con người kì dị, cô đơn… Như Một ngày dài
đằng đẵng, Người chăn kiến, Người ở cực bên kia,… Tiếp cận với tác phẩm của Bùi Ngọc
Tấn, người đọc lạ lẫm bước hẳn vào một thế giới văn phong hoàn toàn mới. Và rồi họ dần
cảm, dần quen với lối tư duy hiện đại này.
Xét thấy, so với thể tài tiểu thuyết, truyện ngắn không giữ vị trí thứ nhất. Nhưng nhìn
chung so với các thể tài khác, truyện ngắn đã khẳng định một chỗ đứng riêng trong sự
nghiệp sáng tác của nhà văn. Là những bước đi đầu đời, khi ông mới bước vào nghiệp văn.
Và đúng bất kì người nghệ sĩ viết văn nào cũng thường đi lên từ sáng tác truyện ngắn, từ
những đứa con vỡ lòng. Hai tập truyện ngắn “Người ở cực bên kia”, “Những người rách
việc”, đánh dấu sự trở lại, sự thay đổi, góp phần dọn đường cho những bước đi tiếp theo
trong việc đem những tác phẩm tiểu thuyết đến tay độc giả. Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn giữ
vai trò thiết yếu trong sáng tác của ông.
Truyện ngắn đóng vai trò là người “dò đường”, “tập dợt” thì tiểu thuyết lại đứng ở vị
trí là “người hành khách to lớn nhất”, “vĩ đại nhất” trên con đường ấy. Xét trong toàn bộ
sáng tác Bùi Ngọc Tấn, khi nhắc đến ông, người ta vẫn “nổi gai óc” với thể loại tiểu thuyết.
Thật vậy, đóng góp lớn nhất của nhà văn vẫn thiên về tiểu thuyết, nó chiếm vị trí quan trọng
trong sự nghiệp sáng tác của ông. Hai cuốn tiểu thuyết tiêu biểu: Biển và chim bói cá –
được giải thưởng của hội nhà văn Pháp, và Chuyện kể năm 2000 đã khắc sâu cái tên Bùi
Ngọc Tấn vào lòng người đọc Việt Nam và bạn đọc một số nước trên thế giới.
23