BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Ngô Minh Đức
KHÁI NIỆM ĐẠO HÀM TRONG DẠY HỌC
TOÁN VÀ VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Ngô Minh Đức
KHÁI NIỆM ĐẠO HÀM TRONG DẠY HỌC
TOÁN VÀ VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ THỊ HOÀI CHÂU
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
toán ở Việt Nam .................................................................................................................. 5
3. Hướng nghiên cứu đặt ra và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................... 6
4. Khung lý thuyết tham chiếu........................................................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 7
6. Cấu trúc luận văn ........................................................................................................... 8
CHƯƠNG 1: MỘT ĐIỀU TRA KHOA HỌC LUẬN VỀ KHÁI NIỆM ĐẠO
HÀM ........................................................................................................................... 10
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển khái niệm đạo hàm ............................................ 11
1.1.1. Thời kì chuẩn bị và những mầm mống nảy sinh (Thế kỉ 17 trở về trước) ............ 11
1.1.2. Newton, Leibniz và giai đoạn phát minh ra đạo hàm (thế kỉ 17) .......................... 17
1.1.3. Giai đoạn mở rộng và phát triển các tính chất của đạo hàm với sự thúc đẩy đến từ
Vật lí (Thế kỉ 18) ............................................................................................................. 24
1.1.4. Giai đoạn xây dựng cơ sở lý thuyết chặt chẽ (thế kỉ 19)....................................... 29
1.2. Phát biểu câu hỏi nghiên cứu .................................................................................... 34
CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM ĐẠO HÀM TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ................ 37
2.1. Sử dụng đạo hàm ngầm ẩn trong SGK lớp 10 và 11 .............................................. 37
2.2. Đạo hàm trong SGK vật lí lớp 12 ............................................................................. 39
2.3. Vấn đề giải thích các xấp xỉ và chính xác hóa các định luật vật lí ........................ 41
2.3.1. Các xấp xỉ hàm dùng trong vật lí .......................................................................... 41
2.3.2. Chính xác hóa các định luật vật lí ......................................................................... 42
2.4. Kết luận về phân tích thể chế I1 ................................................................................ 42
CHƯƠNG 3: KHÁI NIỆM ĐẠO HÀM TRONG DẠY HỌC TOÁN .................. 44
3.1. Phân tích các bài toán dẫn đến khái niệm đạo hàm ............................................... 44
3.1.1. Sách giáo khoa chuẩn 11 (SGKC 11) ................................................................... 44
3.1.2. Sách giáo khoa 11 ban nâng cao (SGKNC 11) ..................................................... 47
3.2. Phân tích định nghĩa đạo hàm ................................................................................. 47
3.3. Ý nghĩa Vật lí của đạo hàm ...................................................................................... 48
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 95
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay có hai xu hướng mới trong dạy học toán: Xu hướng liên môn và xu hướng mô
hình hóa. Dạy học theo hai xu hướng này là một cách mang lại nghĩa cho các kiến thức toán
học, giúp học sinh nhận thấy ứng dụng hiệu quả của toán học đối với cuộc sống và các khoa
học khác.
Nếu như phải chọn một ngành khoa học có nhiều liên hệ mật thiết nhất với toán học thì
có lẽ đó là vật lí. Tri thức toán học được ứng dụng rất nhiều trong nghiên cứu vật lí, và đặc
biệt nếu xét trong chương trình phổ thông thì đạo hàm là một trong những khái niệm được
ứng dụng nhiều nhất. Về điểm này chúng tôi ghi nhận được một sự kiện:
Liên quan đến khái niệm đạo hàm, Sách giáo khoa Toán 12 chỉ đưa vào hai ứng dụng
trong vật lí, đó là công thức tính vận tốc và gia tốc tức thời của một chất điểm: v(t ) = s '(t ) và
a (t ) = v '(t ) , trong đó s (t ) là hàm số quãng đường của chất điểm theo thời gian còn v(t ), a (t )
lần lượt là hàm số vận tốc và gia tốc. Sách giáo khoa cơ bản còn đưa thêm vào công thức
xác định cường độ dòng điện là đạo hàm của điện tích q : i (t ) = q '(t ) . Tuy nhiên, các ứng
dụng của đạo hàm trong vật lí phổ thông là rất phong phú và liệu học sinh có biết vận dụng
khái niệm này trong các tình huống khác hay không? Nói rộng ra thì mối quan hệ liên môn
giữa dạy học toán và vật lí liên quan đến khái niệm đạo hàm đã được đảm bảo chưa? Việc
đặt ra câu hỏi này đặt là rất xác đáng bởi lẽ, nó khiến chúng tôi phải nhìn nhận lại việc dạy
học khái niệm đạo hàm hiện nay đã hợp lí hay chưa trong thời điểm mà quan điểm dạy học
liên môn đang ngày càng được chú trọng. Ngay sau đó hàng loạt những câu hỏi được đặt ra:
-
Việc dạy học đạo hàm ở trường phổ thông hiện nay đã phục vụ cho dạy học vật lí như
sinh trong việc chấp nhận mối quan hệ giữa tiếp tuyến và xấp xỉ affine.
Chúng tôi đã tìm thấy những gì từ công trình này? Như các phân tích mà chúng tôi trình
bày ở các chương sau của luận văn, một trong những nghĩa quan trọng của khái niệm đạo
hàm là đặc trưng xấp xỉ mà về mặt hình học chính là xấp xỉ đường cong của một hàm số
bằng tiếp tuyến của nó. Kết quả của tác giả Bùi Thị Thu Hiền dù nghiên cứu trên Sách giáo
khóa đợt chỉnh lý trước đây (2000) nhưng vẫn là một nguồn tham khảo quan trọng cho
chúng tôi trong các phân tích của mình.
• Lê Anh Tuấn(2009), Một nghiên cứu Didactic về khái niệm đạo hàm ở lớp 11 phổ
thông, luận văn thạc sĩ trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.
Luận văn của Lê Anh Tuấn lại cung cấp cho chúng tôi một nghiên cứu thể chế liên quan
đến khái niệm đạo hàm trong thể chế dạy học Toán hiện nay. Cụ thể hơn, tác giả này đã tập
trung phân tích định nghĩa, các tổ chức toán học liên quan đến khái niệm đạo hàm để đi đến
một số kết luận và 2 quy tắc hợp đồng. Hai kết luận quan trọng mà tác giả đã chỉ ra là:
- Định nghĩa đạo hàm có vai trò mờ nhạt đối với cá nhân học sinh, mối quan hệ giữa
đạo hàm và giới hạn hàm số được nêu trong định nghĩa đạo hàm hầu như không tồn tại
đối với học sinh.
- Khi tính đạo hàm của hàm số y = f ( x) tại điểm x = x0 bằng định nghĩa, việc tính
y '( x0 ) bằng
lim
x → x0
f ( x) − f ( x0 )
∆y
lim
x − x0
∆x → 0 ∆x
chiếm ưu thế so với việc tính bằng
.
trong toán và trong vật lí, liệu khái niệm đạo hàm có những đặc trưng cơ bản nào và
những đặc trưng đó đem đến những ứng dụng gì trong các lĩnh vực khác? Trả lời câu
6
hỏi này sẽ giúp chúng tôi nhận ra những ràng buộc mà việc thõa mãn chúng sẽ là tiền đề
tạo ra sự phù hợp trong mối quan hệ liên môn mà chúng tôi đã đề cập.
Hướng đi tiếp theo sẽ là tiến hành phân tích khái niệm đạo hàm trong cả hai thể chế dạy
học toán và vật lí, kết quả nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi trả lời câu hỏi đã đặt ra từ
ban đầu: Có hay không sự ngắt quãng giữa hai phạm vi Giải tích và Vật lí trong việc
dạy học khái niệm đạo hàm? Nếu câu trả lời là có thì rõ ràng việc dạy học khái niệm
đạo hàm hiện nay đã không đem đến sự nối khớp đảm bảo cho mối quan hệ liên môn
với vật lí. Trong hoàn cảnh đó, việc xây dựng một đồ án dạy học khái niệm đạo hàm
hợp lí hơn sẽ là nhiệm vụ quan trọng mà chúng tôi đặt ra cho mình.
4. Khung lý thuyết tham chiếu
Để tìm cơ sở cho nghiên cứu của mình, chúng tôi vận dụng các công cụ của lý thuyết
didactic toán. Một cách rõ ràng hơn, chúng tôi đang muốn nói về các khái niệm của
thuyết nhân chủng học trong didactic toán, bao gồm: chuyển đổi didactic, quan hệ thể
chế và quan hệ cá nhân đối với một tri thức, khái niệm tổ chức toán học. Ngoài ra, lý
thuyết tình huống với khái niệm đồ án dạy học cũng cần thiết cho chúng tôi. Những
khái niệm này đã được trình bày trong cuốn giáo trình song ngữ Việt – Pháp Những yếu
tố cơ bản của Didactic Toán của Bessot A. và các tác giả, rồi lại được rất nhiều luận văn
nhắc lại, nên chúng tôi sẽ không trình bày lại ở đây.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích kể trên chúng tôi xác định cho mình phương pháp nghiên
cứu tóm tắt bằng sơ đồ sau:
Chúng tôi nghiên cứu mối quan hệ thể chế liên quan đến khái niệm đạo hàm trong thể
chế dạy học Toán, từ đó tìm hiểu mối quan hệ cá nhân của học sinh với khái niệm này.
Mục đích của chương 2 và chương 3 nhằm tìm câu trả lời cho câu hỏi : sự nối khớp giữa
bộ môn toán và bộ môn vật lí được thực hiện ra sao trong dạy học khái niệm đạo hàm.
+ Chương 4: Thực nghiệm
Chương này bao gồm hai nghiên cứu thực nghiệm. Thực nghiệm thứ nhất nhằm tìm
kiếm các yếu tố cho phép kiểm chứng (hay bác bỏ) giả thuyết (được hình thành từ nghiên
8
cứu thể chế thực hiện ở chương 3) về mối quan hệ cá nhân của học sinh liên quan đến khái
niệm đạo hàm. Thực nghiệm thứ hai triển khai một đồ án dạy học khái niệm đạo hàm nhằm
đảm bảo mối quan hệ liên môn với vật lí.
9
CHƯƠNG 1: MỘT ĐIỀU TRA KHOA HỌC LUẬN VỀ KHÁI NIỆM
ĐẠO HÀM
Dòng chảy lịch sử hình thành và phát triển của giải tích nói chung và khái niệm đạo
hàm nói riêng đã kéo dài hơn 200 năm với rất nhiều gập ghềnh và khúc khuỷu. Nhưng nếu
bắt buộc phải tóm tắt quá trình ra đời và tiến triển của khái niệm đạo hàm chỉ trong một câu,
chúng ta có thể trích dẫn câu nói của tác giả Grabiner: “Đạo hàm đầu tiên được sử dụng
như công cụ, sau đó mới được phát minh, tiếp nữa là được mở rộng và phát triển, cuối cùng
mới được định nghĩa.” (Judith V. Grabiner, 1983), tr.195). Còn nếu được trình bày cụ thể
hơn thì
Những thảo luận về phương pháp tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của Fermat là một minh
họa cho việc sử dụng đạo hàm như một công cụ giải quyết một bài toán cụ thể (dù rằng lúc
đó đạo hàm vẫn chưa xuất hiện). Sau đó thì khái niệm đạo hàm được phát minh, và rồi,
10
Kết quả của việc nghiên cứu khoa học luận sẽ giúp chúng tôi trang bị cho mình vốn
hiểu biết sâu sắc hơn và một “tâm thế” mà đứng ở đó nhìn lại những câu hỏi xuất phát ban
đầu, chúng tôi tin rằng mình sẽ tìm ra được hướng nghiên cứu đúng đắn và có thể đặt ra
những câu hỏi nghiên cứu có ý nghĩa. Những kết quả của chương này, đến lượt mình sẽ
đóng vai trò cơ sở phương pháp luận và cơ sở tham chiếu cho việc trả lời các câu hỏi nghiên
cứu và cho những phân tích về sau.
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển khái niệm đạo hàm
Có khá nhiều tài liệu trình bày về lịch sử của giải tích, chúng tôi chọn trong số đó ba tài
liệu sau đây và xem chúng như là nguồn tham khảo chính:
David B. Johnson, Thomas A. Mowry (2004), Mathematics: A Practical Odyssey,
Chương 13, Cengage Learning.
Judith V. Grabiner, (1983), The changing concept of change: The Derivative from
Fermat to Weierstrass, Mathematics Magazine, Vol. 56 , pp 195 – 206.
Carl Boyer(1959), History of the Calculus and Its Conceptual Development, Dover,
New York.
Nếu như Johnson và Mowry tập trung làm rõ các bài toán làm động lực nảy sinh khái
niệm đạo hàm và trình bày lịch sử đạo hàm xoay quanh việc giải quyết các bài toán đó thì
trong công trình của tác giả Grabiner chúng tôi lại nhìn thấy được một hướng tiếp cận lịch
sử khác. Grabiner đã nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của đạo hàm theo dòng
chảy của thời gian và từ đó mà nhìn thấy được sự tiến triển của khái niệm qua từng giai
đoạn. Còn với công trình của Boyer một bước tranh chi tiết và đầy đủ về lịch sử đã được tái
hiện lại, đây cũng có thể xem là một trong những nghiên cứu tiêu biểu về lịch sử phép tính
vi tích phân. Việc chọn những tài liệu này không chỉ giúp chúng tôi có cái sâu sắc và đầy đủ
hơn khi được tiếp cận với lịch sử khái niệm ở cả hai xu hướng, mà các kết quả nghiên cứu
của các tác giả còn là nguồn tham khảo quý giá để chúng tôi trả lời những vấn đề đã đặt ra
cho mình.
hay chiều dài cung. Ngoài ra còn một loại bài toán rất được quan tâm đó là bài toán “đẳng
chu”, mà một trong các dạng của nó được phát biểu như sau: “trong các miền phẳng bị chặn
có cùng chu vi, miền nào có diện tích lớn nhất?”. Câu trả lời người ta đã biết từ rất sớm là
đường tròn, và theo đó, một lớp các bài toán tìm cực trị hình học nói chung được đặt ra
nhưng để tìm một phương pháp tổng quát cho những bài toán dạng này là rất khó khăn. Các
nhà toán học thế kỉ 17 tin tưởng rằng hệ thống đại số kí hiệu và hình học giải tích sẽ giúp họ
bằng một cách nào đó giải quyết được những vấn đề trên.
Một trong những học giả đi tiên phong trong vấn đề này chính là nhà toán học Pháp
Pierre de Fermat khi ông đã giới thiệu một phương pháp mới trong việc giải các bài toán
cực trị và xác định tiếp tuyến đường cong. Fermat minh họa phương pháp tìm cực trị của
mình năm 1630 qua việc giải bài toán đơn giản sau đây : “Cho trước một đoạn thẳng, hãy
chia nó thành 2 phần sao cho tích của 2 phần này là lớn nhất” 4.
F
3
Năm 1937 Rene Descartes công bố phát minh này tuy vậy từ những năm 1629 Fermat đã tìm ra sớm
hơn nhưng chỉ được công bố sau khi ông mất.
2
Thật ra thì những mầm mống của hình học giải tích đã xuất hiện từ sớm trong công trình nghiên cứu
các đường Conic của Apollonius và biểu đồ mô tả tốc độ chuyển động của Oresme.
3
Người Hi Lạp định nghĩa tiếp tuyến là một đường thẳng chỉ “tiếp xúc” với đường cong mà không cắt
nó.
4
Thật ra bài toán này có thể phát biểu dưới dạng một bài toán đẳng chu: Trong tất cả các hình chữ nhật
có cùng chu vi, hay tìm hình có diện tích lớn nhất.
1
12
2
Fermat cho rằng không thể mong đợi một phương pháp tổng quát hơn và ông thậm chí
đã sử dụng phương pháp mới mẻ này để giải quyết bài toán tìm tiếp tuyến của đường cong.
Dù vậy Fermat không gọi E là đại lượng vô cùng nhỏ, hay giới hạn hay cái gì đại loại thế.
Ông không giải thích tại sao lúc đầu có thể chia hai vế cho E (xem E khác 0), sau đó lại
“khử” nó đi (tức là xem E = 0 ). Fermat ở thời điểm đó đã không nhận ra rằng phương pháp
ông tìm ra chẳng qua là một ứng dụng của một khái niệm tổng quát hơn. Ông thậm chí còn
5
Giá trị này không nhất thiết phải là cực đại .
13
không xem xét bản chất mối liên hệ của phương pháp giải bài toán cực trị với bài toán tiếp
tuyến mà thay vào đó ông chỉ nói rằng một phương pháp tương tự như vậy có thể giúp xác
định tiếp tuyến của đường cong. Nghĩa là ban đầu hãy thêm vào E, tính toán và thu gọn đại
số rồi triệt tiêu E, cuối cùng bạn có thể tìm được tiếp tuyến.
Vậy phương pháp của Fermat thật sự là gì? Bài toán mà Fermat giải là xác định A để
0 sau đó rút gọn biểu thức cho
hàm số f ( A) lớn nhất, và việc Fermat xem f ( A + E ) − f ( A) =
E rồi cho E = 0 nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay là ông đã sử dụng đặc trưng sau đây của
hàm số tại điểm cực trị của nó 6 :
5F
lim
được quan niệm là một cát tuyến mà hai điểm cắt của nó càng ngày càng gần lại cho đến khi
trùng khít với nhau. Việc một cát tuyến “trở thành” một tiếp tuyến như thế nào không hề
được giải thích rõ ràng, tuy vậy các phương pháp tìm tiếp tuyến lại dựa trên cách tiếp cận
này. Fermat, Descartes, John Wallis, Isaac Barrow và nhiều nhà toán học thế kỉ 17 khác đều
đã có thể tìm được tiếp tuyến thông qua việc xem xét độ dốc của cát tuyến. Chúng ta sẽ làm
rõ điều này bằng cách khảo sát cách làm của Barrow 8 và để cho đơn giản chúng ta sẽ áp
7F
dụng phương pháp của ông đối với bài toán cụ thể là tìm tiếp tuyến của đường Parabol:
Cho đường cong có phương trình: y = x 2
Xác định tiếp tuyến của đường cong tại điểm P(2;4). Barrow xét một điểm rất gần điểm P là
điểm Q(2 − e; 4 − a ) 9. Ông thế tọa độ điểm Q này vào phương trình đường cong và được:
8F
4 − a = (2 − e) 2 . Sau khi rút gọn ông còn:
e 2 − 4e + a =
0.
Đến đây như Barrow nói rằng: “Hãy bỏ đi tất
cả các số hạng có lũy thừa của a và e hoặc
tích của chúng”
Từ đây chúng ta có thể xác định được tỉ số
a
e
chính là độ dốc của tiếp tuyến tại P. Cụ thể ở
trên sau khi bỏ đi số hạng e 2 chúng ta được
a = 4e ⇔
của tiếp tuyến thông qua tỉ số hai đại lượng “vô cùng bé”
a
cũng đã ngầm ẩn xuất hiện khái
e
niệm tỉ số hai vi phân mà sau này được đưa ra bởi Leibniz.
Cách giải quyết của một số nhà toán học khác cũng dựa trên việc xem xét hệ số góc của
cát tuyến
f ( x + h) − f ( x )
. Cát tuyến này sẽ “trở thành” tiếp tuyến khi h “dần đến” 0. Vì thế
h
nếu bằng một cách nào đó bỏ qua đại lượng h trong biểu thức hệ số góc cát tuyến thì chúng
ta sẽ thu được hệ số góc tiếp tuyến.
Như vậy, đến thời điểm này thì một quy
trình tổng quát để giải quyết bài toán tìm tiếp
tuyến đường cong đã xuất hiện nhưng cơ sở lý
thuyết của nó vẫn chưa được thấu hiểu rõ ràng.
Đến năm 1660, mối quan hệ giữa bài toán
cực trị và bài toán tìm tiếp tuyến đã được hiểu
rõ. Đó là, cực đại hay cực tiểu được tìm thấy
bằng cách tính toán độ dốc của tiếp tuyến và yêu
cầu nó phải bằng 0. Như vậy là mặc dù đạo hàm
Hình 1.4: Bài toán xác định tiếp tuyến
Kết luận cho giai đoạn này
Đại số phát triển, rồi sự ra đời của hình học giải tích đã lôi kéo mối quan tâm và chuẩn
bị những công cụ cần thiết cho việc xuất hiện một phương pháp tổng quát giúp giải quyết
các bài toán tiếp tuyến và cực trị. Cơ sở của phương pháp mới này không được giải thích rõ
và mặc dù khái niệm đạo hàm đã xuất hiện ngầm ẩn trong đó nhưng nó vẫn chưa được khám
phá.
Bài toán xác định tiếp tuyến đường cong là động lực thúc đẩy chủ yếu mà việc giải
quyết nó giúp nảy sinh ra các ý tưởng về đạo hàm. Khái niệm tiếp tuyến trong giai đoạn này
được hiểu theo những quan niệm mới như là vị trí “tới hạn” của cát tuyến hay là đường
thẳng trùng với một phần vô cùng nhỏ với đường cong tại tiếp điểm. Những mầm mống này
là bước chuẩn bị cần thiết cho một giai đoạn quan trọng sắp đến…
1.1.2. Newton, Leibniz và giai đoạn phát minh ra đạo hàm (thế kỉ 17)
Lịch sử đã thừa nhận rằng Newton và Leibniz, một cách độc lập với nhau đã phát minh
ra giải tích. Nói là “phát minh ra giải tích” theo Grabiner 13 là vì họ đã làm được ba điều sau:
2F
1
Thứ nhất, họ đã nhận ra và nắm bắt được sức mạnh to lớn của những phương pháp đã tồn tại
trước đó trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài toán tiếp tuyến, cực trị và diện tích. Hơn
thế, tổng hợp được các phương pháp đó thành một nhóm 2 khái niệm tổng quát, mà ngày
nay ta được biết dưới tên gọi là đạo hàm và tích phân.
Thứ hai, cả hai ông đều xây dựng cho riêng mình hệ thống kí hiệu phù hợp làm cho việc sử
dụng những khái niệm mới này trở nên dễ dàng hơn. Chúng ta ngày nay vẫn còn sử dụng kí
hiệu x của Newton (chỉ đạo hàm) và các kí hiệu
df
; f ( x)dx của Leibniz.
dx ∫
Thứ ba, Newton và Leibniz đã độc lập với nhau đưa ra những lập luận để chứng minh cho
3
1
đổi của chúng (chính là đạo hàm) được Newton gọi là “fluxion” và kí hiệu bởi những chữ cái
đó nhưng với dấu chấm trên đầu ( x , y , z ). Gọi ο là một quảng thời gian vô cùng bé, thì xο (độ
thay đổi của x trong quãng thời gian ο và chính là khái niệm “vi phân” ngày nay) được ông gọi
là “moment” của đại lượng x. (Boyer, 1959), tr. 194)
Sau đó, Newton đưa ra một phương pháp nữa để trình bày lại giải tích của mình.
Phương pháp liên quan đến “tỉ số tới hạn” (ultimate ratios) xuất hiện trong luận văn “cầu
phương đường cong” xuất bản năm 1704. Người ta xem đây là nỗ lực của Newton để làm
cho lý thuyết của ông trở nên có cơ sở hơn. Ở đó ông phát biểu rằng: “Trong toán học,
những sai số dù là rất nhỏ cũng không được bỏ qua”. Thế nên Newton đã loại bỏ đi tất cả
các dấu vết của những đại lượng vô cùng bé, và thay thế chúng bằng một thuyết mới về các
tỉ số tới hạn. Đối với tỉ số tới hạn giữa các đại lượng vô cùng bé này, ông cho rằng phải hiểu
đó là “tỉ số giữa các đại lượng, không phải trước hay sau khi chúng bị triệt tiêu, mà là cùng
với thời điểm chúng triệt tiêu”.
Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xem ông đã sử dụng khái niệm này như thế nào trong việc
giải các bài toán như tìm tiếp tuyến của đường cong hoặc chứng minh định lý cơ bản của
giải tích. Điều này sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về những điểm mạnh và điểm yếu trong cách
hiểu về đạo hàm ở thời điểm ấy.
“Thời gian” ở đây không nhất thiết phải hiểu theo nghĩa đen mà có thể được thay thế bởi một đại
lượng x nào đó tăng đều đặn cùng với thời gian thực. Tức là có thể xem x = 1 .
14
18
-
m+n
n
x n . Ở đây chúng tôi chọn hàm z = x 3 cho thuận tiện.
m+n
Trong hình vẽ trên, đường bd được chọn sao cho Bb = ο , với ο ≠ 0 . Sau đó Newton xác
định đoạn BK = υ sao cho diện tích hai hình BbHK và BbdD bằng nhau. Từ đây suy ra diện
tích BbdD bằng ου .
Bây giờ khi x tăng thành x + ο , diện tích z sẽ thay đổi một lượng tương ứng là:
z ( x + ο ) − z ( x) = x 3 + 3 x 2ο + 3 xο 2 + ο 3 − x 3 = 3 x 2ο + 3 xο 2 + ο 3
⇒ 3 x 2ο + 3 xο 2 + ο 3 = ου ⇒ 3 x 2 + 3ο x + ο 2 = υ (do ο ≠ 0 )
Đến đây Newton nói rằng:
“Nếu ta giả sử rằng Bb được thu nhỏ một cách vô hạn và biến mất ( ο = 0 ). Trong trường hợp
này υ và y sẽ trở nên bằng nhau, và các số hạng nhân với ο cũng bị triệt tiêu theo”.
Như vậy chúng ta sẽ còn lại y = 3x 2
Newton đã chỉ ra điều gì? Cái mà ông đang khảo sát là
z ( x + ο ) − z ( x)
ο
chính là tốc độ
biến đổi của diện tích z và theo trên thì tốc độ này lại chính là tọa độ y. Nói cách khác,
Newton đã chỉ ra rằng hàm y ( x) chính là đạo hàm (tốc độ biến đổi) của hàm diện tích z ( x) .
Như vậy, bài toán tìm tiếp tuyến và tính diện tích hóa ra lại là hai quá trình ngược nhau. Về
điểm này Leibniz cũng đưa ra được những kết luận tương tự.
20
Dựa trên đánh giá này Leibniz đã đưa ra khái niệm “vi phân” năm 1675 và dùng nó làm
cơ sở cho lý thuyết của mình. Theo đó, ông đưa ra kí hiệu dx chỉ một đoạn thẳng xác định
tùy ý nào đó và định nghĩa dy bởi hệ thức
dy y
= , sau đó cung cấp những công thức cơ bản
dx t
để tính toán các vi phân này và dùng các vi phân để xác định tiếp tuyến. Để hiểu rõ hơn
chúng ta sẽ theo dõi lại cụ thể hơn phương pháp mà Leibniz đã thực hiện, đầu tiên là chứng
minh một trong số những công thức vi phân của ông và sau đó là sử dụng các công thức này
để xác định tiếp tuyến của đường cong.
-
Chứng minh công thức vi phân một tích của Leibniz
Leibniz nói rằng: “ d ( xy ) có thể xem như hiệu của hai tích xy liên tiếp, một cái là xy
còn cái kia là ( x + dx)( y + dy ) ”, vậy nên:
d ( xy ) =( x + dx)( y + dy ) − xy
= xdy + ydx + dx.dy
Số hạng dx.dy mà theo Leibniz thì “nhỏ không đáng kể so với các số hạng còn lại” nên
sẽ được “khử” đi. Vì vậy, ta sẽ có công thức vi phân của một tích là:
21
) xdy + ydx (*)
d ( xy
=
6
1
trong khi đó nó lại là cơ sở cho số học, đại số, hình học của thời kì này.
Trong định nghĩa của Newton, tuy rằng đạo hàm có thể được hiểu một cách trực giác là
tốc độ biến thiên nhưng như trên đã thấy, hầu hết các chứng minh của ông lại đều liên quan
đến “đại lượng vô cùng bé ο ”. Có lúc thì ο được xem là khác 0 (rút gọn được hai vế cho ο ),
có lúc lại xem nó bằng 0 (khử đi trong kết quả cuối cùng). Newton cũng cho rằng việc vứt
bỏ ο đi có lẽ là thiếu thuyết phục nên như đã nói ở trên ông đưa vào khái niệm “tỉ số tới hạn”
ở công trình sau đó. Trong phần chú giải cuối cùng phần I quyển I cuốn sách nổi tiếng
Principia (1687), Newton đã hợp lý hóa quan niệm về “tỉ số tới hạn” theo cách sau đây:
“Những tỷ số tới hạn này khi các đại lượng bị biến mất thì không thực sự là tỷ số của các đại
lượng tới hạn, mà là khi các đại lượng nhỏ dần một cách vô hạn thì tỉ số này luôn hội tụ về
một giới hạn nào đó. Và như vậy, chúng sẽ tiếp cận càng ngày càng gần hơn với bất kì chênh
lệch cho trước nào. Tuy vậy nó cũng không bao giờ vượt quá, cũng như sẽ không đạt đến
17
Ở trên Leibniz đã xem dx.dy là rất bé so với các số hạng khác nên được khử đi.
22
điểm tới hạn đó cho đến khi các đại lượng nhỏ dần một cách vô hạn” (Trích theo Judith V.
Grabiner, 1983), tr.195)
Giải thích này của Newton dễ gợi cho chúng ta xem đó như một định nghĩa cho khái
niệm giới hạn sau này, thậm chí trong câu trên cách diễn đạt “tỉ số tới hạn” có vẻ rất gần với
định nghĩa giới hạn ngày nay. Tuy vậy Ferraro lại cho rằng:
“dù Newton đã có một ý niệm rất rõ ràng về cái gọi là “tiến đến một giới hạn”, nhưng đây chỉ