BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NHƯ HÂN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC
ĐIỂM PHÂN BỐ CÁ Ở KHU DỰ TRỮ SINH
QUYỂN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NHƯ HÂN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC
ĐIỂM PHÂN BỐ CÁ Ở KHU DỰ TRỮ SINH
QUYỂN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Tống Xuân Tám
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .....................................................................................................5
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.......................................................................................5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ....................................................................................... 6
1.1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa ở Nam Bộ và khu dự trữ sinh quyển Cần
Giờ .......................................................................................................................................6
1.1.1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa ở Nam Bộ .................................................6
1.1.2. Lược sử nghiên cứu cá ở Khu Dự trữ Sinh quyển Cần Giờ ..................................9
1.2. Đặc điểm tự nhiên và xã hội của huyện Cần Giờ ...................................................10
1.2.1. Đặc điểm tự nhiên................................................................................................10
1.2.2. Đặc điểm xã hội ...................................................................................................17
1.2.3. Tình hình nguồn lợi thủy sản ...............................................................................18
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................... 21
2.1. Thời gian, địa điểm và tư liệu nghiên cứu ..............................................................21
2.1.1. Thời gian nghiên cứu ...........................................................................................21
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu............................................................................................21
2.1.3. Tư liệu nghiên cứu ...............................................................................................21
2.2. Phương pháp phân tích và đánh giá chất lượng nước ..........................................21
2.3. Phương pháp nghiên cứu cá .....................................................................................22
2.3.1. Ngoài thực địa......................................................................................................22
2.3.2. Trong phòng thí nghiệm ......................................................................................23
CHƯƠNG 3:. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN ............................................................. 28
3.1. Khảo sát một số chỉ tiêu môi trường nước ở khu DTSQ Cần Giờ .......................28
3.1.1. Màu sắc và mùi vị của nước ................................................................................28
3.1.2. Nhiệt độ ...............................................................................................................28
3.1.3. Độ mặn.................................................................................................................29
3.1.4. Độ pH...................................................................................................................31
3.1.5. Giá trị DO ............................................................................................................32
được hình thành do quá trình bồi tụ - xói lở của các quá trình động lực sông - biển và bị
phân cắt mạnh do hệ thống sông rạch. Đây là nơi trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực và hệ
sinh thái trên cạn, giữa hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn [61]. Với nhiều nỗ
lực khôi phục, chăm sóc, bảo vệ của chính quyền và người dân địa phương, hiện nay Khu
DTSQ Cần Giờ đã trở nên đa dạng, phong phú về hệ sinh thái động - thực vật, tài nguyên
thiên nhiên của rừng ngập mặn cũng không ngừng được gia tăng. Đây cũng là một trong
những địa điểm lí tưởng phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái.
Hệ thống sông, kênh, rạch ở Khu DTSQ Cần Giờ chằng chịt, được hình thành bởi hạ
lưu sông Đồng Nai - Sài Gòn; có sự hòa trộn đáng kể giữa nước ngọt và nước mặn tại hai
cửa chính dạng hình phễu là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái. Đây là cơ sở cho nguồn
thủy sản rất phong phú và đa dạng. Với vùng sông nước này, từ lâu, cá không chỉ được xem
là nguồn thực phẩm chủ yếu của người dân, mà còn được dùng làm giống, làm cảnh, xuất
khẩu, phòng dịch, chữa bệnh,... Nhìn thấy được tiềm năng to lớn này, nên việc đánh bắt và
nuôi cá ở đây luôn được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Cần Giờ.
Tuy nhiên, trong những năm qua, khu hệ cá ở đây đang gặp phải những thách thức do
sự ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái và cạn kiệt nguồn trữ lượng tự nhiên, sự khai
thác của con người dưới nhiều hình thức cùng với tác động do sự phát triển kinh tế không
bền vững, sự gia tăng dân số và tốc độ đô thị hóa đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến khu hệ
cá.
Việc nghiên cứu về đa dạng thành phần loài, môi trường sống, sự phân bố và tình hình
khai thác nguồn lợi cá ở Khu DTSQ Cần Giờ nhằm góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cá cho
Nam Bộ nói chung và Cần Giờ nói riêng. Đồng thời, làm cơ sở khoa học để bảo tồn tính đa
dạng sinh học, cùng với việc ổn định sinh kế, nâng cao đời sống cộng đồng, giúp các tổ
4
chức và cá nhân có liên quan đề ra những biện pháp bảo vệ, khai thác hợp lí và phát triển
bền vững nguồn lợi cá ở nơi đây.
Từ những lí do trên, luận văn “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở
Khu Dự trữ Sinh quyển Cần Giờ - TP.HCM” được thực hiện.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa ở Nam Bộ và khu dự trữ sinh quyển
Cần Giờ
1.1.1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nội địa ở Nam Bộ
Trước năm 1975, các công tác nghiên cứu khu hệ cá Nam Bộ còn rải rác, chưa tập hợp
được nhiều nhà Ngư loại học tham gia. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu do các nhà
khoa học trong và ngoài nước thực hiện như Kuronuma K. (1961), “Danh lục cá Việt Nam”
đã tổng hợp được chủ yếu ở Nam Bộ gồm 139 loài; Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964);
Yamanura M. (1966); Kawamoto N., Nguyễn Viết Trương, Trần Thị Túy Hoa (1972) với
công trình “Danh lục cá nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long”, các tác giả đã thu thập, định
loại, thống kê và mô tả được 93 loài cá nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long [53].
Sau năm 1975, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu cá được tiến
hành rộng khắp. Các công trình nghiên cứu đã tham gia phục vụ cho công tác nuôi trồng và
bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học của các khu vực. Một số công trình nghiên cứu
tiêu biểu là:
Công tác điều tra khu hệ cá nước ngọt ở Nam Bộ được nhiều tác giả tiến hành như
Akihito và Merguro K. (1976); Trần Thị Thu Hương (1977); Mai Đình Yên (1982); Nguyễn
Văn Thiện (1979, 1985); Lê Hoàng Yến và cộng sự (1979 - 1985) [51]; Nguyễn Văn Thiện
và cộng sự (1985), “Một số kết quả về điều tra ngư loại sông Đồng Nai” gồm 167 loài, 111
giống, 50 họ, 13 bộ [44]; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng (1988), “Thành phần cá nước
ngọt Nam Bộ” với 255 loài trong 139 giống thuộc 43 họ và 14 bộ [50]; Hoàng Đức Đạt, Lê
Ngọc Bích (1990), “Thành phần loài cá hồ chứa Trị An, tỉnh Đồng Nai và tình hình nghề cá
ở đây” thu được 46 loài, thuộc 18 họ, 6 bộ [9]; Hoàng Đức Đạt (2001), “Về thành phần các
loài cá ở Bàu Sấu vườn Quốc gia Cát Tiên” với 39 loài, thuộc 27 giống, 10 họ, 5 bộ [10];
Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí (2001), “Khảo sát ngư loại và tình hình nghề cá ở sông
Đồng Nai trên đoạn thuộc vùng quy hoạch xây dựng thủy điện Đồng Nai3 và Đồng Nai4”
thu được 54 loài, thuộc 4 bộ [11]; Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí (2001), “Xây dựng bộ
mẫu các loài cá nước ngọt ở các tỉnh phía Nam Việt Nam” với 120 loài, thuộc 41 họ, 14 bộ
[12]; Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí (2001), “Khu hệ cá và nghề cá ở Đồng Tháp Mười” đã
công bố 125 loài, 66 giống, 34 họ và 6 phân họ, 14 bộ và 4 phân bộ [13]; Hoàng Đức Đạt,
nghĩa kinh tế và lập khóa định loại của các loài cá như:
Công trình tiêu biểu nhất là của nhóm tác giả Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng,
Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992), “Định loại các loài cá nước
ngọt Nam Bộ”. Có thể nói, đây là cuốn sách đã tập hợp tất cả các công trình nghiên cứu về
cá nước ngọt ở Nam Bộ từ trước đây đến năm 1992 [49].
7
Tác giả Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương (1993) xuất bản cuốn sách “Định loại
cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long” với 173 loài, 99 giống, 39 họ, 13 bộ [30].
Tác giả Phạm Thược và cộng sự (1994) với công trình nghiên cứu “Đặc điểm tự nhiên
và nguồn lợi thủy sản vùng triều Việt Nam” gồm 258 loài, 140 giống, 70 họ. Dựa vào địa lí
phân bố cá của Mai Đình Yên, các tác giả đã chia khu hệ cá ven biển Việt Nam thành 6 đơn
vị địa lí và đã xếp các loài theo từng vùng như sau: ven biển tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng
có 105 loài (vùng 1), ven biển tỉnh Thái Bình và Nam Định có 53 loài (vùng 2), ven biển
Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh có 105 loài (vùng 3), ven biển miền Trung đến Thuận Hải
có 52 loài (vùng 4), ven biển Đồng Nai đến Cửu Long có 86 loài (vùng 5), ven biển các tỉnh
Cà Mau và Kiên Giang có 46 loài (vùng 6).
Tác giả Thái Ngọc Trí, Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Văn Sang (2012), “Nghiên cứu sự đa
dạng sinh học khu hệ cá ở vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên, tỉnh An Giang” trong 3
năm (2008 - 2011), đã thu thập và xác định được 111 loài cá thuộc 27 họ, 10 bộ. Cũng theo
thống kê của nhóm tác giả này, vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long có 169
loài cá trong đó bộ cá Vược (Perciformes) có 87 loài chiếm ưu thế (51,38 %), nhóm cá nước
lợ cửa sông chiếm ưu thế 115 loài (68,05%), nhóm cá di cư giữa nước mặn và nước ngọt 22
loài (13,03 %) [47].
* Nhận xét
Từ các công trình trên cho thấy, cơ sở dữ liệu về khu hệ cá Nam Bộ nước ta khá đa
dạng và phong phú. Tuy nhiên, do sự phát triển không ngừng về công tác nghiên cứu trong
thời gian qua đã góp phần bổ sung thêm thành phần và dữ liệu cho nhiều loài cá. Vì vậy, các
công trình trên cần phải thường xuyên cập nhật bổ sung, chỉnh sửa để hoàn chỉnh hơn.
huyện Cần Giờ và bước đầu nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cá Chìa vôi
Proteracanthus sarissophorus Cantor, 1849”, kết quả khảo sát cho thấy hiện nay tại vùng
biển Cần Giờ có 74 loài cá, thuộc 32 họ, 10 bộ. Trong số này, có 1 loài là cá Mang Rổ
Toxotes chatareus (Hamilton, 1822) hiện đang nằm trong Sách Đỏ Việt Nam, 2007 (bậc
VU, là loại hiếm, sắp nguy cấp). Một số loài cá khác có giá trị kinh tế cao như cá Dứa, cá
Ngát, cá Chìa vôi, cá Đối mục,… Đáng lưu ý là riêng loài cá Chìa vôi trong thời gian gần
đây do việc đánh bắt quá nhiều, nên đã sút giảm mạnh về số lượng [46].
Tác giả Tống Xuân Tám và cộng sự (2012), “Góp phần nghiên cứu về đa dạng thành
phần loài cá ở hệ sinh thái Rừng ngập mặn Cần Giờ, TP.HCM” ghi nhận được 74 loài xếp
trong 42 họ, 12 bộ [39].
Tác giả Nguyễn Hữu Dực (2011), “Danh sách thành phần loài cá và các điểm thu mẫu
ở Khu Dự trữ Sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ - TP.HCM” đã giới thiệu 107 loài. Đây
là công trình nghiên cứu khá hoàn chỉnh và đầy đủ về cá ở Khu DTSQ Cần Giờ. Tuy nhiên
tác giả chưa nghiên cứu về đặc điểm phân bố và tình hình nguồn lợi cá ở nơi đây [7].
* Nhận xét: Các nghiên cứu về cá ở Khu DTSQ Cần Giờ còn một số tồn tại:
9
Danh mục các loài cá chưa được tu chỉnh và sắp xếp theo hệ thống thống nhất của
Eschmeyer W. N. (2013) nên gây nhiều khó khăn trong việc thống kê, đối chiếu, so sánh và
tra cứu về cơ sở dữ liệu; chưa phản ánh được đầy đủ và chính xác về số lượng và thành phần
các loài cá ở Khu DTSQ Cần Giờ; biến động về thành phần và số lượng của các loài cá ở
Khu DTSQ Cần Giờ, chưa được nghiên cứu; đặc điểm phân bố và tình hình nguồn lợi cá
chưa được nghiên cứu kĩ; tác động của con người đến khu hệ cá ở đây cũng chưa được đề
cập.
1.2. Đặc điểm tự nhiên và xã hội của huyện Cần Giờ
1.2.1. Đặc điểm tự nhiên
1.2.1.1. Vị trí địa lí
Huyện Cần Giờ cách trung tâm TP.HCM khoảng 50 km về phía Đông Nam. Tọa độ
15.000
0,5 - 1,0
16.150
0,0 - 0,5
6.000
Dạng địa hình
Không ngập
Ngập theo chu trình nhiều năm
Ngập theo chu kì năm
Ngập theo chu kì tháng
Ngập theo chu kì ngày đêm
10
% so với
toàn huyện
0,07
13,80
21,00
23,40
8,90
6
Bãi bồi ven biển và cửa sông
< 0,0
5.295
hướng Bắc - Đông Bắc, từ đó có ảnh hưởng làm thay đổi địa hình khu vực và thay đổi thực
vật chính cảnh. Hiện sông Lòng Tàu là đường giao thông thủy chính, cho phép các tàu
thuyền có tải trọng dưới 20.000 tấn ra vào cảng Sài Gòn [31].
Bảng 1.2. Các sông chính ở Cần Giờ
Dài (km)
Rộng (m)
Sâu (m)
Nhà Bè
29,5
1.670
10 - 20
Soài Rạp
14,5
3.100
< 10
Đồng Tranh
67,5
(Nguồn: Lê Đức Tuấn và cộng sự, 2002) [31]
12
Ngoài các sông chính kể trên, huyện Cần Giờ còn có nhiều sông rạch rộng từ 100 200 m như sông Dừa, sông Vàm Sát, sông Lò Rèn, sông Dinh Bà, sông Dần Xây và nhiều
rạch nhỏ khác tạo thành một mạng lưới thủy vực chằng chịt, với nhiều điểm giáp nước phức
tạp kéo theo sự biến đổi sinh cảnh phong phú và đa dạng [31].
b) Chế độ thủy triều: Huyện Cần Giờ chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều
không đều của biển Đông. Mỗi ngày xuất hiện hai lần nước lớn và hai lần nước ròng. Biên
độ triều khoảng 2 m khi triều trung bình và 4 m khi triều cường. Mỗi lần nước ngập khoảng
2 - 3 giờ, nước lớn thường bằng nhau, còn nước ròng thì khác nhau nhiều. Số ngày nhật
triều trong tháng không đáng kể, mỗi tháng chỉ có khoảng hai ngày nhật triều không đều,
thường xuất hiện vào 2 - 3 ngày giữa và cuối tháng âm lịch. Theo lịch âm thì hàng tháng có
hai kì triều cường và hai kì triều kém. Hai kì triều cường xảy ra sau ngày trăng rằm và sau
ngày mùng 1 âm lịch từ 2 - 3 ngày, lúc đó hầu như toàn bộ rừng bị ngập mặn. Hai kì triều
kém thường xảy ra sau ngày thượng huyền (ngày 9 - 10) và ngày hạ huyền (ngày 23 - 24)
âm lịch. Thủy triều là tác động chính đến sự biến động của mực nước trong ngày, trong
tháng và trong năm [31].
Với mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc và chế độ bán nhật triều không đều của biển
Đông nên Cần Giờ là vùng có đặc điểm thủy văn phức tạp, ổn định trong trạng thái động và
rất nhạy cảm. Môi trường nước biến đổi tạo nên một sinh cảnh phong phú và đa dạng. Đó
cũng là yếu tố tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường và sự phân bố
của các loài cá.
c) Độ mặn: Độ mặn lớn nhất khi triều cường và nhỏ nhất khi triều kém. Diễn biến
ngập mặn phụ thuộc vào sự kết hợp giữa thủy triều biển Đông và lưu lượng nước ở thượng
nguồn sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Vào tháng 4 hàng năm, nước biển chiếm ưu thế hơn
trong mối tương tác sông - biển, cho nên nước mặn xâm nhập sâu hơn vào trong đất liền làm
độ mặn của nước trong rừng tăng lên. Ngược lại, vào thời gian tháng 9 đến tháng 10, mưa
nhiều, các sông giữ vai trò ưu thế hơn, nước ngọt từ sông đẩy lùi nước mặn ra biển, làm hạ
2. Lòng Tàu –
Ngã Bảy,
Vàm Sát
Đoạn
Từ phà Bình
Khánh đến
cửa Soài Rạp
Toàn tuyến
Đồng Tranh Toàn tuyến
Gò Gia
. Thị Vải
Khu vực xã
Thạnh An
Phân
loại
Đặc điểm CLN
theo WQI
II
Không nhiễm
phèn. Nhiễm mặn
lịch, thể thao dưới
nước. Không sử
dụng cho thủy lợi,
sinh hoạt.
Cấp nước cho thủy
sản (lợ, mặn), du
lịch, thể thao dưới
nước.
Cấp nước cho thủy
sản không an toàn.
Không sử dụng
cho thủy lợi, sinh
hoạt. có thể phục
vụ du lịch, thể thao
dưới nước.
Cấp nước cho thủy
sản không an toàn.
Không sử dụng
cho thủy lợi, sinh
Sông/ kênh
Đoạn
Đặc điểm CLN
theo WQI
Phân
loại
(mg/l)
Thời gian
Mùa khô
Lần 1
Mùa mưa
Mùa khô
Lần 2
Mùa mưa
Mùa khô
Lần 1
Mùa mưa
Mùa khô
Lần 2
Mùa mưa
Lần 1
Mùa khô
Mùa mưa
Mùa khô
Lần 2
Mùa mưa
Mùa khô
Lần 1
Mùa mưa
Mùa khô
Lần 2
Mùa mưa
Mùa khô
Lần 1
Mùa mưa
0,013
0,016
0,014
1,773
1,534
1,540
1,230
0,016
0,012
0,020
0,012
1350
260,9
1150
240,9
Đ02
7,1
7,28
7,2
7,3
12,4
7,9
10,8
8,7
5,2
6,4
5,0
6,0
0,080
0,015
0,021
0,013
2,370
1,883
2,134
1,708
0,018
0,009
0,020
0,010
1240
320,4
1120
340,8
“Nguồn: Nguyễn Xuân Đồng, 2011” [19]
Chú thích: Đ01: Ngã ba sông Soài Rạp và sông Vàm Cỏ - Lý Nhơn - Cần Giờ
Đ02: Sông Lòng Tàu - Tam Thôn Hiệp - Cần Giờ
15
QCVN 08
6 - 8,5
Không quy
định
≥5
không quy định về chỉ tiêu này. Tiêu chuẩn nước sạch số 09/2005/QĐ-BYT quy định amôni
nhỏ hơn 3 mg/l, nitrit nhỏ hơn 3 mg/l và nitrat nhỏ hơn 50 mg/l. Khi hàm lượng nitơ trong
nước cao cộng thêm hàm lượng phốt pho có thể gây phú dưỡng làm nước có màu và mùi
khó chịu đặc biệt là lượng ôxy hoà tan trong nước giảm mạnh gây ngạt cho cá và hệ thủy
sinh vật. Như vậy giá trị Nitơ tổng tại các điểm khảo sát đều nằm trong khoảng cho phép.
- Giá trị N - NO2- (mg/l): tại ngã ba sông Soài Rạp - Vàm Cỏ, sông Ngã Bảy giá trị đo
được nằm trong phạm vi cho phép. Riêng tại sông Lòng Tàu giá trị này là 0,023 – 0,026
mg/l trong mùa khô, như vậy là cao hơn giá trị giới hạn theo QCVN 08/2008/BTNMT quy
định cho nguồn nước đối với đời sống thủy sinh vật (0,02 mg/l). Nitrit được hình thành do
vi khuẩn phân hủy nitơ hữu cơ và amôni, sau đó nitrit sẽ được oxy hóa thành nitrat.
- TDS (mg/l): so sánh với giới hạn TDS (tổng chất rắn hoà tan) cho đời sống sinh vật
theo TCVN 6774 - 2000 (1000 mg/l) thì tại các điểm khảo sát có kết quả như sau: trong mùa
khô, đều cao hơn, tuy nhiên không quá cao và mùa mưa, giá trị này đều nằm trong phạm vi
cho phép. Tại nơi có giá trị TDS cao thì khu vực đó nước có mùi, pH thấp, ôxi hòa tan cũng
thấp.
16
Nhìn chung, ô nhiễm hữu cơ ở các sông, kênh, rạch Cần Giờ chỉ ở mức nhẹ chưa ảnh
hưởng nhiều đến chất lượng nước dùng cho mục đích nuôi trồng thủy sản và du lịch.
1.2.2. Đặc điểm xã hội
1.2.2.1. Đơn vị hành chính và đặc điểm dân số
Huyện Cần Giờ bao gồm thị trấn Cần Thạnh và 6 xã: Bình Khánh, An Thới Đông,
Tam Thôn Hiệp, Lý Nhơn, Thạnh An, Long Hòa. Trong đó có một xã đảo (xã Thạnh An),
và hai xã, thị trấn giáp biển (xã Long Hòa và thị trấn Cần Thạnh). Theo thống kê của UBND
huyện Cần Giờ, năm 2012, dân số huyện là 71.780 người, tỉ lệ gia tăng tự nhiên là 0,9%.
Dân cư phân bố không đều, mật độ trung bình là 100,39 người/km2, chủ yếu tập trung thành
từng cụm dân cư, xóm, ấp và các xã nằm ven bờ rừng. Các xã có mật độ cao là Bình Khánh,
An Thới Đông và Long Hòa [6].
6.103
16,759
Các ngành khác
14.285
39.211
“Nguồn: UBND huyện Cần Giờ, 2007”
Theo quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2010, huyện Cần Giờ có bờ biển dài gần 20
km, vùng biển có thể nuôi trồng nhiều loài thủy sản như: nghêu, tôm, sò, hàu, cá. Biển là
nguồn lợi to lớn của ngư dân huyện Cần Giờ. Vì vậy, trong cơ cấu phát triển kinh tế của
huyện, ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản luôn được xem là ngành kinh tế mũi nhọn, là
một trong những động lực phát triển kinh tế - xã hội của huyện Cần Giờ.
17
50000
45000
40000
35000
30000
25000
20000
15000
10000
5000
sông, rạch.
1.2.3. Tình hình nguồn lợi thủy sản
Nghề khai thác thủy hải sản ở TP. Hồ Chí Minh tập trung chủ yếu ở huyện Cần Giờ
với hơn 90% số lượng tàu thuyền. Theo thống kê của phòng kinh tế huyện Cần Giờ, năm
2012, huyện có 33 phương tiện khai thác xa bờ (có 14 phương tiện khai thác ven bờ nâng
công suất để hoạt động xa bờ, 9 tàu tăng từ 20 CV lên 30 - 45 CV, 5 tàu tăng từ 45 CV lên
trên 90 CV) và 1.412 phương tiện khai thác ven bờ hoạt động ổn định (gồm 198 phương
tiện cào, te, 658 ghe lưới, rập xếp, 556 phương tiện phục vụ cho 913 khẩu đáy sông và 860
hộ hành nghề đánh bắt thủ công). Trên địa bàn huyện Cần Giờ, do khó khăn trong việc khai
thác hải sản nên việc tổ chức các tổ, đội sản xuất trong khai thác thủy sản thực hiện chưa
được đồng đều và toàn diện. Tuy nhiên, các tổ ngư dân đoàn kết sản xuất đã cơ bản hình
thành theo địa bàn dân cư, nghề khai thác hỗ trợ trong công tác bảo đảm an toàn, bảo vệ
nguồn lợi thủy sản nhưng chưa thực sự liên kết về mặt kinh tế.
18
Các tàu cá nhỏ tập trung chủ yếu ở ba xã, thị trấn là Long Hòa, Thạnh An và Cần
Thạnh. Còn lại, người dân đánh bắt ven bờ, sáng đi chiều về với các ngư cụ lưới rê, lưới
kéo, cào te,…
Bảng 1.6. Sản lượng khai thác thủy sản năm 2012 của huyện Cần Giờ
Chi tiết theo từng loại phương tiện
Xã, thị trấn
Tổng
SL
(tấn)
Đáy sông
SL
(tấn)
Số
tàu
Nghề bắt bộ
SL
(tấn)
Số
hộ
SL
(tấn)
Bình Khánh
474
54
14
4
11
12
-
124
249
An Thới Đông
1880
121
228
6
36
36
415
60
-
336
1142
35
900
187
2468
6
554
-
100
243
Thạnh An
7138
230
978
97
2986
1
69
10
4081
50
203
Tổng
24444
3090
198
5422
685
7764
21
1386
T4
T5
T6
T7
T8
T9
T10
T11
T12
Lưới rê < 20
81306 90915 110719 38747 97326 86174 27020 41065 41973 65736 25005 54501
Lưới rê 20 - 50
63894 95690 91771 125554 85884 87567 5050923 80540 77999 102732 56261 107119
Lưới kéo đơn 20 50
67875 91502 76614 190934 53120 66182 45275 39383 29213 26177
730
2183
5315
455205 7133 114095 112818 286362 180685 126960 95559 113635 71063 83717 94689
12974
8231
9604
6765
9855
8571
15192
5228
4975
3812
8253
3035
Sản lượng cá (kg)
T1
T2
T3
T4
T5
T6
T7
T8
T9
T10
T11
T12
Lưới rê tầng đáy
< 20
1502
11661
-
11032
4717
9126
3452
4847
6724
Tổng
868230 460715 588096 554537 624721 487533 5332088 473727 391780 388099 256732 382430
“Nguồn: Chi cục Quản lí Chất lượng và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản năm 2011”
Như vậy, lưới kéo rê đơn > 90 là phương tiện đánh bắt được nhiều cá nhất, sau đó là
các loại lưới rê và đáy. Lưới kéo rê được dùng đánh bắt quanh năm, kích thước mắt lưới
khoảng từ 3 - 5 cm. Đáy là ngư cụ đánh bắt cố định, mỗi khẩu đáy cọc thường có kích thước
chiều dài từ 12 m và rộng khoảng 4 m, kích thước mắt lưới từ 2.5 - 3 cm. Đáy thùng có
chiều dài khoảng 60 - 70m, rộng 15 - 18 m. Kinh phí đầu tư cho một đáy thùng khoảng 10
triệu đồng, còn đáy cọc khoảng 5 triệu đồng, đáy hoạt động 02 chuyến/tháng, thu nhập từ 6 9 triệu đồng/khẩu/tháng. Chính việc sử dụng lưới kéo rê với số lượng lớn để đánh bắt cá
quanh năm nên khu hệ cá ở Khu DTSQ Cần Giờ ngày càng bị giảm sút về thành phần loài
và số lượng lượng cá thể. Chính quyền cần phải có biện pháp khai thác và bảo vệ hợp lí cá.
- Lấy mẫu để quan trắc chất lượng nước mặt bằng phương pháp đo nhanh tại vị trí thu
mẫu; thực hiện theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia được quy định trong QCVN
08:2008/BTNMT [2]:
+ TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2: 1991): hướng dẫn kĩ thuật lấy mẫu.
+ TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3: 1985): hướng dẫn bảo quản và xử lí mẫu.
+ TCVN 5996:1995 (ISO 5667-6: 1990): hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối.
- Phương pháp phân tích xác định một số thông số chất lượng nước mặt thực hiện theo
hướng dẫn trong QCVN 08:2008/BTNMT [2] (xem bảng 2.1).
Bảng 2.1. Thiết bị đo một số thông số chất lượng nước mặt
21
STT
Thông số
1
pH
2
t0 (Nhiệt độ)
3
Ec
4
lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh, năm 2011) [3].
2.3. Phương pháp nghiên cứu cá
2.3.1. Ngoài thực địa
- Thu mẫu định tính: thu trực tiếp bằng những loại ngư cụ đánh bắt cho phép. Thu tại
các bến cá, tổ chức đi cùng ngư dân đánh bắt theo yêu cầu, mua cá của người dân địa
phương đánh bắt ngẫu nhiên hoặc hướng dẫn cách thu và đặt thùng mẫu có đựng dung dịch
formalin 8% để ngư dân thu hộ (xem phụ lục 3 và 7). Mỗi loài thu được ít hay nhiều hơn ở
mỗi địa điểm nghiên cứu là tùy thuộc vào kích thước của cá hoặc mức độ thường gặp [37],
[40].
- Thu mẫu định lượng: thu trên từng ngư cụ và đếm số cá thể của từng loài cá đánh bắt
được mỗi lần, ở mỗi địa điểm thu mẫu vào các mùa khác nhau để đánh giá độ thường gặp
[37], [40].
- Ghi nhãn cá những thông tin cần thiết.
- Chụp hình cá.
- Định hình mẫu trong dung dịch formalin 8 - 10% (tùy vào kích thước của cá), tối
thiểu trong 24 giờ. Bảo quản mẫu trong dung dịch formalin 5%.
- Ghi nhật kí thực địa về phân bố kiểu thực bì, địa hình, khí hậu, đặc điểm thủy văn (độ
sâu, tốc độ dòng chảy, màu nước, thực vật và động vật thủy sinh,...), hoạt động khai thác,
phương tiện đánh bắt cá, đặc điểm nhân văn vùng nghiên cứu [40].
- Tiếp xúc cộng đồng: gặp gỡ, phỏng vấn nhân dân KVNC về các loài cá, tình hình
khai thác, hiện trạng; tiếp xúc chính quyền địa phương về tình hình khai thác, nuôi,… Điều
22
tra, phỏng vấn ngư dân về tên cá (tên phổ thông, tên địa phương, môi trường sống,…) [37],
[40].
- Xác định tọa độ điểm thu mẫu cá và nước bằng máy định vị cầm tay, hiệu GPSMAP
78S, do hãng Garmin - Mĩ, sản xuất tại Đài Loan, năm 2012.
2.3.2. Trong phòng thí nghiệm
- Định loại cá dựa vào các tài liệu chính của tác giả Mai Đình Yên và cộng sự (1992)