BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Trần Chí Vĩnh Long
SỰ THÍCH ỨNG BAN ĐẦU ĐỐI VỚI
NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Trần Chí Vĩnh Long
SỰ THÍCH ỨNG BAN ĐẦU ĐỐI VỚI
NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
Chuyên ngành: Tâm Lý Học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục biểu đồ
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN.......................................................................... 7
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................ 7
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới .......................................................... 7
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước .......................................................... 10
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ...................................................... 11
1.2.1. Vấn đề thích ứng trong tâm lý học................................................ 11
1.2.2. Nghề nghiệp và thực tập nghề nghiệp ................................................... 23
1.2.3. Sinh viên và đặc điểm tâm lý của sinh viên .......................................... 30
1.2.4. Thích ứng ban đầu đối với nghề nghiệp của sinh viên ......................... 31
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng ban đầu đối với nghề nghiệp
của sinh viên............................................................................................ 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ............................................................................... 38
Chương 2 THỰC TRẠNG SỰ THÍCH ỨNG BAN ĐẦU ĐỐI VỚI NGHỀ
NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH –
MARKETING ............................................................................................... 39
2.1. Tổ chức nghiên cứu .................................................................................. 39
2.1.1. Mục đích và nội dung nghiên cứu................................................. 39
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................. 39
2.1.3. Khách thể và địa bàn khảo sát....................................................... 43
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng thích ứng ban đầu đối với nghề nghiệp của
sinh viên ĐHTCM ................................................................................... 46
2.2.1. Nhận thức của sinh viên ĐHTCM đối với hoạt động thực tập
nghề nghiệp ................................................................................ 46
2.2.2. Thái độ của sinh viên ĐHTCM đối với hoạt động thực tập
GV
Giảng viên
2
SV
Sinh viên
3
QL
Cán bô quản lý tại đơn vị thực tập
4
ĐHTCM
Trường Đại học Tài chính – Marketing
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.2.
Bảng tổng hợp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha .............................42
Bảng 2.1.3.2.
Biểu hiện thái độ của SV đối vớii công việc trong quá trình thực
tập ....................................................................................................77
Bảng 2.2.3.1.
Hành vi chuyên cần của SV đối với hoạt động thực tập nghề nghiệp
.........................................................................................................80
Bảng 2.2.3.2.
Hành vi thực hiện công việc của SV trong quá trình thực tập .......81
Bảng 2.2.3.3.
Năng lực đáp ứng yêu cầu công việc của SV trong quá trình thực
tập ....................................................................................................85
Bảng 2.2.3.4a. Đánh giá của QL về hành vi chuyên cần của sinh viên trong quá
trình thực tập ...................................................................................88
Bảng 2.2.3.4b. So sánh về năng lực đáp ứng yêu cầu công việc giữa sinh viên và
cán bộ quản lý tại đơn vị thực tập ...................................................88
Bảng 2.2.4:
Sự thích ứng ban đầu đối với nghề nghiệp của sinh viên ĐHTCM 90
Bảng 2.2.5:
Mối tương quan giữa ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi ...........94
bộ quản lý tại đơn vị thực tập ..............................................................89
Biểu đồ 4.
Sự thích ứng ban đầu đối với nghề nghiệp của sinh viên ĐHTCM ....93
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Sự thích ứng có vai trò hết sức to lớn đối với cuộc sống của mỗi cá nhân.
Trong công việc, nếu cá nhân đã thích ứng thì hiệu quả lao động sẽ cao hơn, tốn ít
sức lực, không bị căng thẳng, mệt mỏi, khả năng phục hồi lao động nhanh hơn.
Ngoài ra, sự thích ứng còn giúp cho con người sáng tạo trong công việc, lạc quan,
vui vẻ, thoải mái, không có sự gò ép… Trong cuộc sống, khi con người có khả năng
thích ứng nhanh sẽ mang lại cho họ nhiều thuận lợi so với người thích ứng chậm.
Họ dễ dàng hòa nhập với môi trường và đáp ứng tốt với những tác động của môi
trường, kể cả tác động tích cực và tiêu cực. Người thích ứng chậm, trước những tác
động tiêu cực dễ bi quan, chán nản, không có đủ ý chí để vươn lên khắc phục khó
khăn… Trong đào tạo nghề nghiệp, việc thích ứng với nghề là rất quan trọng. Nếu
cá nhân thích ứng với quá trình đào tạo nghề thì hiệu quả và chất lượng đào tạo sẽ
cao hơn. Việc thích ứng với hoạt động đào tạo nghề sẽ giúp cho sinh viên nhanh
chóng tiếp thu các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp. Quá trình tiếp thu sẽ giảm
bớt sự căng thẳng, mệt mỏi. Người học sẽ tích cực, chủ động và sáng tạo trong việc
lĩnh hội tay nghề, say mê với công việc. Khi ra trường họ không bỡ ngỡ với công
việc, và bắt tay vào lao động nghề nghiệp với chất lượng cao.
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang ngày càng phát triển trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống: kinh tế, văn hoá – xã hội... Vì vậy đòi hỏi mỗi cá nhân phải
có rất nhiều những năng lực mới để thích ứng với cuộc sống đang từng ngày một
đổi thay. Đặc biệt đối với sinh viên thì vấn đề này cũng đang đặt ra một cách bức
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Sự thích ứng ban đầu đối với nghề nghiệp của sinh
viên trường Đại học Tài chính – Marketing.
3.2. Khách thể nghiên cứu: 280 sinh viên bậc Đại học chính quy khóa 08
(2008 – 2012) và 22 cán bộ quản lý sinh viên tại đơn vị thực tập đã ký kết hợp tác
đào tạo với trường Đại học Tài chính – Marketing.
4. Giả thiết nghiên cứu
Đa số sinh viên chưa thích ứng đối với nghề nghiệp thông qua hoạt động
3
thực tập, chưa chăm chỉ trong hoạt động thực tập nghề nghiệp, thụ động, vụng về
trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ tại đơn vị thực tập.
Nguyên nhân là do sinh viên chưa sang tạo, linh hoạt, tích cực trong hoạt
động thực tập nghề nghiệp, chưa ý thức được tầm quan trọng của hoạt động thực tập
nghề nghiệp, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, phương tiện rèn luyện nghề nghiệp ở
trường, thời gian thực hành, thực tập nghề nghiệp ít,.. Do vậy, kết quả sự thích ứng
ban đầu đối với nghề nghiệp của sinh viên chưa cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở của lý luận về thích ứng nói chung và thích ứng nghệ
nghiệp nói riêng để từ đó xây dựng khái niệm công cụ của đề tài : thích ứng, nghề
nghiệp, sinh viên, thực tập tốt nghiệp, thích ứng nghề nghiệp, thích ứng ban đầu đối
với nghề nghiệp,…
5.2. Khảo sát thực trạng sự thích ứng ban đầu đối với nghề nghiệp của sinh
viên trường Đại học Tài chính – Marketing và tìm ra những nguyên nhân của thực
trạng trên.
5.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao mức độ thích ứng nghề nghiệp
của sinh viên trường Đại học Tài chính – Marketing.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Về nội dung nghiên cứu: chỉ nghiên cứu sự thích ứng ban đầu đối với
thêm những việc chưa rõ với người hướng dẫn về công việc được giao,… Ghi chép
tỉ mỉ những nội dung cần quan sát, sau đó tổng kết đánh giá chung về những biểu
hiện của sinh viên.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến
* Mục đích:
Nhằm tìm hiểu những biểu hiện của sự thích ứng ban đầu đối với nghề
nghiệp của sinh viên trường Đại học Tài chính – Marketing và tìm hiểu nguyên
nhân của thực trạng.
* Nội dung:
Chúng tôi tiến hành xây dựng bộ câu hỏi cho sinh viên và cán bộ quản lý tại
đơn vị thực tập.
5
Nội dung phiếu trưng cầu ý kiến được chia làm 5 phần:
+ Phần 1: Tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp ban đầu của sinh viên thể hiện
ở nhận thức đối với nghề nghiệp thông qua hoạt động thực tập của sinh viên.
+ Phần 2: Tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp ban đầu của sinh viên thể hiện
ở thái độ đối với nghề nghiệp thông qua hoạt động thực tập của sinh viên.
+ Phần 3: Tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp ban đầu của sinh viên thể hiện
ở hành vi thực hiện các công việc thực tập của sinh viên.
+ Phần 4: Tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp ban đầu của sinh viên thể hiện
ở việc tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng và nguyên nhân tác động đến sự thích ứng.
+ Phần 5: Thăm dò ý kiến của sinh viên về biện pháp nâng cao sự thích ứng
ban đầu đối với nghề nghiệp của sinh viên.
* Cách tiến hành
- Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến
- Tiến hành khảo sát thử trên 54 sinh viên để kiểm tra tính hiệu quả của công
cụ nghiên cứu đã soạn thảo
- Tiến hành khảo sát trên mẫu nghiên cứu đã chọn
học Tài chính – Marketing.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Thích ứng là một khái niệm được nghiên cứu trên phạm vi rất rộng và ở
nhiều lĩnh vực khác nhau như sinh vật học, kinh tế, xã hội, tâm lý và giáo dục.
Trong sinh vật học, “thích ứng” chỉ những thay đổi của cơ thể sinh vật cho phù hợp
với sự thay đổi của các điều kiện và môi trường sống xung quanh. Trong kinh tế
học, “thích ứng” có khi được dùng là dự tính về giá trị tương lai của các biến số.
Trong xã hội học, “thích ứng” được hiểu như là việc cá nhân tham gia vào quá trình
xã hội hóa. Trong tâm lý học, “thích ứng” được dùng để chỉ quá trình tâm lý cá
nhân. Còn trong giáo dục học, “thích ứng” như là một quá trình mà ở đó các thông
số chủ yếu của tính cách xã hội của cá nhân phải diễn ra phù hợp với các điều kiện
mới của giáo dục.
Trong những năm 60 của thế kỷ 20, vấn đề thích ứng được nhiều nhà tâm lý
học của nhiều nước quan tâm và nghiên cứu như Vương quốc Anh, Mỹ, Đức,…đặc
biệt là các nhà tâm lý học Liên Xô. Việc nghiên cứu có thể được chia thành ba
hướng nghiên cứu chính gồm: hướng thứ nhất nghiên cứu sự thích ứng nghề nghiệp,
thích ứng lao động; thứ hai nghiên cứu sự thích ứng với môi trường văn hóa mới,
thích ứng xã hội; hướng thứ ba nghiên cứu thích ứng với hoạt động học tập. Một số
công trình tiêu biểu về sự thích ứng nghề nghiệp trên thế giới:
L. Đ. Xtôliarenkô cho rằng: sinh viên là sự tập hợp nhiều người cùng chung
mục đích, phương hướng, là phải nắm vững kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp bằng
sự lao động trí lực cần cù. Giới sinh viên được coi như một cộng đồng xã hội mang
nét đặc trưng bởi phương hướng nghề nghiệp, bởi sự hình thành các mối quan hệ
lương lai bao gồm mức độ am hiểu nghề, nghĩa là kiến thức về các đòi hỏi của nghề
nào đó, cùng các điều kiện hoạt động nghề nghiệp, tạo thuận lợi cho sự thích ứng,
giúp thúc đẩy quá trình nắm vững nghề nghiệp một cách tự lập và khắc phục được
mọi khó khăn trong công tác [43].
9
Peter Creed, Tracy Fallon và Michelle Hood thuộc trường Đại học Griffith
Australia đã có công trình nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa thích ứng nghề và mối
quan tâm về nghề trong giới trẻ”. Họ đã tiến hành nghiên cứu 245 sinh viên năm thứ
nhất về các mối quan tâm về nghề nghiệp, sự thích ứng nghề, xu hướng về nghề,...
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Thích ứng nghề có mối quan hệ bên trong và có thể
bị ảnh hưởng bởi những nhân tố đầu tiên (kế hoạch xây dựng nghề, khám phá nghề,
xu hướng nghề, sự quyết định nghề,…). Những nhân tố thích ứng nghề có mối quan
hệ nội hàm và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác,… [36].
M. L. Savickas đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về nghề và thích
ứng nghề. Trong các tác phẩm của mình, đặc biệt trong bài viết “Measuring career
development: Current status and future dereetion”, ông đã đánh giá rất cao vai trò
của thích ứng nghề. Ông coi đó như là “Sự trưởng thành về nghề nghiệp”, thậm chí
“Sự thích ứng nghề còn có giá trị hơn cả sự trưởng thành về nghề nghiệp”. Ông cho
rằng: Thích ứng nghề biểu hiện ở sự sẵn sàng đối mặt với tất cả những công việc có
thể dự đoán được,… là sự tham gia vào những vị trí nghề nghiệp khác nhau, sự điều
chỉnh sao cho phù hợp để đáp ứng được những thay đổi và điều kiện làm việc [38],
[39], [40].
D. E Super, và E. G. Knasel trong nghiên cứu của mình đã cho rằng: Sự phát
triển nghề của giới trẻ được phát triển gợi mở và sự thích ứng trở thành một năng
lực chính dẫn đến sự thành công về nghề nghiệp [41].
Rottinghaus, Day và Borgen, năm 2005, trong một công trình nghiên cứu đã
chỉ ra rằng: Thích ứng nghề là xu hướng mà mỗi cá nhân đưa ra khả năng của bản
thân để xây dựng và điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp của mình, đặc biệt là đối mặt
số biện pháp nhằm giúp trẻ nhanh chóng thích nghi với hoạt động học tập [25].
Năm 2000, tác giả Nguyễn Văn Hộ đã có nhiều công trình nghiên cứu giá trị
về giáo dục hướng nghiệp và thích ứng nghề thông qua tác phẩm “Thích ứng sư
phạm”, tác giả đưa ra các khái niệm về thích ứng, thích ứng sư phạm, phân tích các
nội dung về hình thành khả năng thích ứng về lối sống cho sinh viên sư phạm, hình
thành khả năng thích ứng với tay nghề trong quá trình đào tạo cho sinh viên sư
phạm [15], [16], [17].
11
Năm 2004, tác giả Trần Thị Minh Đức đã chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa
học đặc biệt cấp ĐHQG: “Nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất –
Đại học Quốc gia Hà Nội với môi trường Đại học” [9].
Năm 2006, tác giả Nghiêm Thị Dương với đề tài: “Nghiên cứu xu hướng
nghề Sư phạm của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ - Mẫu giáo Trung Ương 1”,
đã xây dựng một hệ thống lý luận về nghề Sư phạm của sinh viên Cao đẳng Sư
phạm Nhà trẻ - Mẫu giáo, đưa ra một số biện pháp nhằm hình thành xu hướng nghề
Sư phạm cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ - Mẫu giáo [10].
Cũng trong năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Hoa với luận văn: “Đánh giá mức
độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La”. Trong
đó, tác giả làm rõ thực trạng vấn đề thích ứng của sinh viên với ngành học trong quá
trình học tập ở trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La và đề xuất các biện pháp giúp
sinh viên có khả năng thích ứng tốt với ngành học đang được đào tạo [14].
Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài tập trung vào sự thích
ứng của sinh viên với hoạt động học tập, với môi trường Đại học và sự thích ứng
nghề nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp Đại học. Vấn đề thích ứng ban đầu đối với
nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Tài chính – Marketing thông qua hoạt
động thực tập tốt nghiệp chưa được làm rõ trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mong muốn làm rõ thực trạng thích ứng
nghề nghiệp của sinh viên trong trường, qua đó đề xuất một số ý kiến giúp họ thích
cách tích cực, chủ động các điều kiện mới hay hoàn cảnh mới, qua đó đạt được các
mục đích, yêu cầu đề ra và sự trưởng thành về mặt tâm lý, nhân cách” [20].
Có thể hiểu thích ứng tâm lý là một cấu trúc tâm lý gồm hai yếu tố cơ bản:
thứ nhất, nắm được những phương thức hành vi thích hợp, đáp ứng được yêu cầu
của cuộc sống và hoạt động; thứ hai, hình thành những cấu tạo tâm lý mới, tạo nên
tính chủ thể của hành vi và hoạt động. Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau tạo
nên sự thích ứng ở con người. Qua đó, con người điều chỉnh được hệ thống thái độ,
hành vi hiện có và hình thành được hệ thống thái độ, hành vi mới phù hợp với môi
trường đã thay đổi.
13
Có thể nói, thích ứng tâm lý của con người là sự thích ứng tích cực bằng hoạt
động và thông qua hoạt động. Mức độ thích ứng của mỗi cá nhân phụ thuộc vào
mức độ tích cực hoạt động và hiệu quả hoạt động của chính bản thân người đó.
Chính vì vậy, để đánh giá mức độ thích ứng của cá nhân phải dựa vào mức độ phù
hợp của hành vi, ứng xử của cá nhân với điều kiện sống và hoạt động của người đó.
Có thể khẳng định rằng, hoạt động vừa là phương thức, vừa là biểu hiện khách quan
của sự thích ứng tâm lý - xã hội của cá nhân. Bên cạnh đó, hoạt động của con người
diễn ra trong mối quan hệ giữa con người với con người, cho nên, sự thích ứng tâm
lý ở con người là sự thích ứng trong quan hệ xã hội. Ngoài ra, thích ứng tâm lý còn
là biểu hiện của sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, nó đảm bảo cho cá nhân đáp
ứng được với yêu cầu, điều kiện mới của cuộc sống và hoạt động. Mặt khác, thích
ứng còn là điều kiện của việc tiếp thu những phương thức hành vi, hoạt động mới,
là điều kiện cho sự phát triển tâm lý cá nhân. Xét ở góc độ ý thức, sự thích ứng tâm
lý còn được xem là sự hình thành những cấu trúc tâm lý, ý thức và tự ý thức giúp
con người định hướng, điều khiển, điều chỉnh một cách tích cực và tự giác thái độ,
hành vi của bản thân để đáp ứng yêu cầu, điều kiện mới của hoạt động.
Nhìn chung, ở nhiều góc độ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm
thích ứng khác nhau. Và biểu hiện của sự thích ứng cũng được chia ra thành nhiều
James (1842-1910). H.Spencer là nhà triết học xã hội và tâm lý học thực chứng đã
quan niệm rằng: cuộc sống là sự thích nghi liên tục của các quan hệ bên trong và
bên ngoài. Vì thế, ông cho rằng phải tìm hiểu vấn đề thích ứng trên cơ sở mối quan
hệ mật thiết giữa con người và môi trường sống, bởi vì môi trường sống luôn luôn
tác động tới con người và buộc con người phải thích nghi để tồn tại và phát triển.
Từ đó, H.Spencer khẳng định rằng mối quan hệ giữa các yếu tố bên trong và bên
ngoài của con người mới thực sự là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học. Tuy
nhiên, ông lại cho rằng, chọn lọc tự nhiên là quy luật cơ bản của thích ứng tâm lý,
ông xem sự thích ứng tâm lý có cùng bản chất với sự thích nghi sinh học. Điều này
chứng tỏ ông đã áp dụng máy móc các quy luật và cơ chế của sự thích nghi sinh vật
lên con người, đánh đồng con người với con vật. Vì thế, không thấy được bản chất
xã hội của sự thích ứng ở con người “Theo Spencer, con người sống trong xã hội,
15
giống như các loài vật khác trong môi trường tự nhiên của chúng, tranh đấu để sống
còn, và chỉ có cá nhân nào thích hợp nhất mới sống sót” [13].
Những tư tưởng của Spencer được nhà tâm lý học Mỹ - William James kế
thừa. W.James bắt đầu nghiên cứu nhằm xác định các chức năng ý thức trong việc
giúp con người thích ứng với môi trường như thế nào. Ông cho rằng, tâm lý học
chính là khoa học nghiên cứu về cái ý thức, về đời sống tinh thần và sự vận hành
của ý thức, cũng như chức năng của nó trong việc giúp con người thích nghi với thế
giới [9].
Như vậy, H.Spencer và W.James đã xây dựng nên cơ sở của tâm lý học thích
ứng, tư tưởng chủ đạo là tâm lý, ý thức có chức năng thích ứng. Sự thích ứng chính
là chức năng của tâm lý, ý thức con người. Trong đó, ý thức đóng vai trò tiếp nhận,
phân loại, lựa chọn và so sánh các kích thích của môi trường và điều chỉnh hành vi
của cơ thể để đáp ứng với yêu cầu và điều kiện mới của môi trường. Đây là những
đóng góp cho tâm lý học nói chung và cho vấn đề nghiên cứu thích ứng nói riêng.
Tuy nhiên, do đứng trên lập trường thực chứng luận thực dụng, duy tâm nên hai ông